AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Nôi số bảy

Ông Gù đưa con về đất · Chương 18/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 18: Nôi số bảy

– Ngày hai tháng Tư năm Định Cư ba trăm, – ông Gù nói, – một chiếc tàu khách tên Nhạn Trắng vỡ làm đôi khi đang quăng quanh Lão Đồng.

Cái quạt sau gáy ông im re.

Nó im suốt từ lúc đó cho tới lúc ông kể xong. Nhặt biết, vì nó không nghe gì khác ngoài cái im ấy. Nó ngồi trên giường bệnh, lưng tựa vào vách, hai tay ôm đầu gối, nghe cái im của cái quạt như người ta nghe tiếng mưa ngừng.

– Trên tàu có hai trăm mười sáu người. – Ông Gù nói. – Tàu cứu hộ tới sau ba ngày. Cứu được một trăm chín mươi ba người. Hai mươi ba người mất tích. Tàu khách đời đó có mười hai cái nôi cứu sinh cho trẻ sơ sinh. Lúc tàu vỡ, nôi bị bắn ra, trôi đi các ngả. Tàu cứu hộ tìm được mười một cái. Cái thứ mười hai không tìm được. Tới ngày thứ mười, công ty báo thôi tìm.

Ông dừng lại. Bên ngoài cửa sổ phòng khám, đèn lồng hẻm số Bốn đung đưa nghiêng nghiêng.

– Ngày mười bốn tháng Tư, – ông nói tiếp, – cô Ươm sinh con. Ở phòng bảy mươi hai, vòng Ba. Sớm ba tuần. Lúc nửa đêm. Không kịp đi trạm y tế. Chỉ có Gù ở đó.

Nhặt không động đậy.

– Đứa bé là con gái. – Ông Gù nói. – Đứa bé không thở.

Ba que nhang điện trên bậu cửa sổ đỏ hồng, không khói, không lửa.

– Lúc đó Gù chưa có bàn tay này. – Ông giơ bàn tay mềm lên, giơ chậm, như giơ một cái gì đó rất nặng. – Gù chỉ có tay kìm. Tay kìm của Gù bóp lon nước còn bẹp. Gù không ép tim một đứa bé được. Cô Ươm tự làm. Cô Ươm đặt con lên đùi, lấy hai ngón tay ấn lên ngực con, ấn, ấn, ấn, thổi hơi vào miệng con. Cô làm bốn mươi phút. Gù đếm. Bốn mươi phút.

– Đứa bé có khóc không ông? – Nhặt hỏi. Giọng nó không ra tiếng.

– Không.

Quạt không kêu.

– Ở trên tàu, con hỏi lúc con sinh ra con có khóc không. Gù nói có. Quạt kêu. – Ông Gù nói. – Gù nói xạo con lần đó. Đứa bé ra đời đêm mười bốn tháng Tư không khóc. Nó không khóc tiếng nào.

Nhặt nhìn cái hũ nhỏ trên bậu cửa sổ. Cái hũ bằng nắm tay, mấy chữ khắc vụng nét run như khắc bằng mũi kim.

– Đó là…

– Phải. – Ông Gù nói. – Không phải cái nhau. Là đứa bé.

Con bé ôm chặt hai đầu gối hơn nữa.

– Cô Ươm ôm con suốt đêm. – Ông Gù kể tiếp. – Tới sáng thì cô đưa cho Gù. Cô nói Gù đưa con đi giùm cô. Cô không đi được. Gù đưa đứa bé xuống lò hỏa táng của trạm, cái lò nhỏ ở vòng Một, chỗ người ta đưa thợ mất đi. Lò chạy tự động, không ai trực. Gù đem về một hũ tro. Cô Ươm lấy cây kim khâu khắc ngày lên hũ. Cô không khắc tên.

– Sao má không khắc tên?

– Cô nói đặt tên rồi thì cô không chịu nổi.

Ông Gù im một lúc. Tiếng lách cách trong ngực ông chạy rất chậm.

– Cô Ươm để hũ tro vào ô của cô ở tường tro. Ô ấy công ty cấp sẵn cho mỗi thợ lúc ký hợp đồng. Cô nói để con nằm trước, sau này cô vào nằm cạnh. Rồi cô về phòng, nằm. Không ăn. Không nói. Sáu ngày.

Nhặt nghe tới đó thì hiểu. Nó hiểu trước khi ông Gù nói ra. Mấy con ốc vít cuối cùng trong đầu nó rơi vào chỗ, từng con, từng con, tiếng kêu lạch cạch rõ như tiếng ông Gù đếm.

Sáu ngày trước. Ngày thứ mười tám. Nôi số bảy.

– Ngày hai mươi tháng Tư, – ông Gù nói, – Gù ra vành rác Hòn Mốc, khu C, nhặt sắt như mọi ngày. Ở khu C có một cái nôi cứu sinh màu cam trôi giữa đám mảnh vỏ tàu. Đèn trong nôi còn sáng. Đèn xanh. Gù mở nắp ra. Bên trong có một đứa bé gái, nằm ngủ trong giấc ngủ lạnh, mặt hồng, tay nắm. Trên cổ tay nó có buộc một sợi chỉ đỏ. Trong nôi có một cái loa nhỏ phát đi phát lại một bài hát. Giọng một người đàn bà.

Ông Gù đưa tay lên ngực. Ông bấm vào đâu đó.

Từ cái loa nhỏ trong ngực ông, giọng một người đàn bà vang lên.

Không phải tiếng ngân như đêm trên tàu. Lần này có lời. Một giọng tròn, trong, mượt, chậm rãi, không lạc một nốt nào, hát từng câu một như người ta đặt từng viên sỏi xuống nước.

Sẻ ơi, sẻ nhỏ ngủ đi,
Ngoài kia gió lớn, bay chi một mình.
Mẹ ru cho sẻ ngủ lành,
Mai kia sẻ lớn, sẻ thành cánh xa.
Cánh xa nhớ lối về nhà,
Có bờ lúa chín, có ba, có mình.

Rồi giọng ấy cười khẽ, một tiếng cười nhỏ như tiếng thở ra, và nói, không hát nữa: "Ngủ đi con. Ba xong ca rồi ba mẹ con mình ăn mừng con tròn hai tháng nghe."

Rồi hát lại từ đầu.

Ông Gù tắt.

Nhặt ngồi im. Nó không khóc. Nó không biết vì sao nó không khóc. Nó chỉ thấy người nó rỗng, như cái thùng gom của ông Gù bị bỏ lại lơ lửng trong hầm mười bốn, to như cái lu, trống rỗng.

– Má không tự đặt bài đó. – Nó nói.

– Không. Cô Ươm nghe băng trong nôi. Cô nghe tới thuộc. Rồi cô hát cho con.

– Cái chỉ đỏ…

– Cô Ươm cởi ra khỏi tay con, sợ nó siết. Cô cất. Sau này cô buộc nó lên túi thóc.

Cái túi vải đựng hai trăm mười bốn hạt nếp Cánh Sẻ, buộc chỉ đỏ. Nhặt đã cởi ra buộc vào cả trăm lần.

– Còn ngày thứ mười tám?

– Nôi cứu sinh giữ trẻ trong giấc ngủ lạnh được ba mươi ngày. Ngày mười tám thì còn mười hai ngày. – Ông Gù nói. – Gù mang nôi về. Theo luật trạm, vớt được nôi thì phải báo trạm y tế. Trạm y tế Bến Sắt chỉ có một cái máy y tá. Máy y tá không cho trẻ sơ sinh bú được. Tàu tiếp tế gần nhất mười chín ngày nữa mới tới. Bệnh viện gần nhất ba mươi mấy ngày đường. Mà đứa bé tỉnh dậy khỏi giấc ngủ lạnh là phải bú ngay.

Ông ngừng.

– Trên cả trạm Bến Sắt lúc đó chỉ có một người cho bú được. – Ông nói. – Người đó vừa sinh con sáu ngày.

Nhặt nhắm mắt lại.

– Gù không mang nôi tới trạm y tế. Gù mang nôi về phòng bảy mươi hai. Gù mở nắp nôi ra trước mặt cô Ươm. Đứa bé tỉnh dậy. Nó khóc.

Quạt không kêu.

– Lần đó nó khóc thật. – Ông Gù nói. – Khóc to. Cô Ươm nằm sáu ngày không động đậy, nghe tiếng khóc thì ngồi dậy.

Trong phòng khám im phăng phắc. Bên ngoài, có tiếng ai rao bánh bao. Có tiếng con nít cười. Có tiếng búa gõ vào sắt ở đâu đó xa xa.

– Rồi sao? – Nhặt hỏi. Nó vẫn nhắm mắt.

– Rồi cô Ươm cho con bú. Con sống.

– Rồi sao nữa?

Ông Gù im một lúc lâu. Lần này ông im không phải vì không muốn nói. Nhặt biết. Ông im vì chỗ này là chỗ khó nói nhất.

– Hôm sau máy y tá của trạm tới phòng bảy mươi hai. – Ông nói. – Cô Ươm có đăng ký có thai ở trạm y tế từ trước. Máy y tá tới để ghi giấy khai sinh. Cô Ươm đưa con ra. Cô nói: con tôi, sinh đêm mười bốn, tên là Hà Thị Nhặt.

Nhặt mở mắt.

– Rồi cô Ươm nói với Gù, mai cô báo. Mai cô nói thật. – Ông Gù kể tiếp. – Hôm sau cô nói mai. Hôm sau nữa cô nói mai. Một tuần. Một tháng. Rồi cô nói với Gù: Gù ghi vào sổ thu gom là cái nôi rỗng. Gù ghi. Đó là lần đầu tiên Gù nói xạo. Từ đó trở đi, quạt của Gù biết kêu.

Con bé nhìn ông. Cái lưng gù. Hai đèn mắt vàng chanh. Bàn tay mềm màu kem.

– Vé tàu… – Nó nói.

– Ở cảng nào cũng soát gen hành khách. Con lên tàu khách là máy đọc ra con là ai. – Ông Gù nói. – Cô Ươm biết. Nên cô sửa Sẻ Đồng.

– Tên con…

– Cô Ươm đặt. Cô nói tên xấu cho dễ nuôi. Cái đó thật. – Ông Gù nói. – Mà cô cũng nói: Gù nhặt được con. Cô nói để sau này con biết, thì con không giận cái tên.

Nhặt cúi xuống. Nó nhìn hai bàn tay mình. Bàn tay trái quấn băng trắng ở cổ tay. Bàn tay phải còn vết rát đỏ vì dây an toàn.

Nhặt. Nhặt được.

– Còn bàn tay này. – Nó nói nhỏ, không ngẩng lên. – Má hàn để ông bế con.

– Phải. Một năm sau. Cô Ươm nói, lần sau mà có em bé, Gù phải bế được.

Ông Gù im. Rồi ông nói thêm một câu, câu đó ông nói chậm hơn mọi câu khác.

– Hôm ở phòng chờ xưởng sửa máy, người kia hỏi Gù tay này để bế em bé của ai. Gù nói của cô Ươm. Quạt không kêu. Con nghe mà. Gù chưa bao giờ nói xạo câu đó. Con là con của cô Ươm.

Nhặt ngẩng phắt lên.

– Không phải! – Nó hét. Tiếng hét bật ra như cái nắp nồi áp suất bung. – Má không đẻ ra con! Má đẻ ra cái hũ đó! Con là của người ta! Của cái người đàn bà hát trong cái nôi đó! Má lấy con của người ta! Ông lấy con của người ta! Ông với má giấu con mười một năm, rồi để con tưởng cái hũ đó là cái nhau của con, rồi để con đem nó về quê chôn!

Ông Gù không nói gì.

– Người nhà con có còn sống không? – Con bé hỏi. Nó thở hổn hển. Đầu nó đau như búa bổ.

– Bà bác sĩ nói Sổ Tìm Người Thân có một người còn sống. – Ông Gù nói. – Đăng ký từ năm ba trăm. Vẫn đang tìm.

– Mười một năm.

– Phải.

– Người ta tìm con mười một năm. Mà ông với má…

Con bé không nói hết câu được. Nó vùng chăn ra. Nó tuột xuống khỏi giường bệnh. Chân nó vừa chạm đất thì cả căn phòng chao đi một cái, nghiêng như cái đèn lồng giấy. Nó vịn vào thành giường. Ông Gù bước tới một bước, bàn tay mềm đưa ra.

– Đừng đụng con!

Ông Gù đứng lại. Bàn tay mềm dừng giữa chừng, lơ lửng trong không khí, cách vai con bé chừng một gang tay.

– Con đi đâu? – Ông hỏi.

– Con không biết! – Nhặt nói. Nước mắt nó giờ mới chảy ra, chảy ồ ạt, như cái đường nứt mảnh như sợi tóc trên vách khoang số Ba. – Con không biết con là ai thì con biết đi đâu!

Nó chạy ra cửa trước. Ông Gù không đuổi theo. Ông đứng im giữa phòng khám, bàn tay mềm vẫn lơ lửng giữa không trung, chưa hạ xuống.

Ngoài mái hiên, cái ghế băng gỗ trống trơn. Người đàn ông mặc đồ xám không có ở đó. Nhặt không để ý. Nó chạy ra hẻm số Bốn. Trời Hòn Lăn đã chuyển sang đèn tối từ lúc nào nó không biết, cả cái hang chìm trong thứ ánh sáng đỏ mờ của hàng nghìn cái đèn lồng vặn nhỏ. Chợ đêm đông nghẹt. Người ta đi qua đi lại, vai chạm vai. Nó chen vào giữa đám đông, chạy, không biết chạy về đâu. Qua tiệm đèn lồng. Qua quầy ốc vít. Qua quầy bán cây kiểng trồng trong vỏ bình khí. Chân nó nhũn ra. Đầu nó quay cuồng. Những cái đèn lồng trên đầu nhòe đi thành những vệt màu chảy dài như sơn ướt.

Đỏ. Vàng. Xanh lá. Trắng.

Một cái đèn lồng trắng.

Nó rẽ vào một con hẻm hẹp hơn, tối hơn, vắng hơn. Nó chạy thêm mấy bước. Rồi nó đâm sầm vào một người.

Người đó vừa từ đầu hẻm bên kia đi tới, đi chậm, đầu cúi, tay cầm một cái cặp lồng nhôm. Cú va làm cái cặp lồng rơi xuống đất, nắp bật ra, cháo gà đổ lênh láng. Nhặt ngã ngồi xuống. Người đó cũng lảo đảo, chống tay vào vách thùng hàng mới đứng vững.

Rồi người đó cúi xuống nhìn nó.

Gầy. Cao. Vai hơi xuôi. Tóc cắt sát. Râu lởm chởm hai ngày chưa cạo. Trên cổ tay trái có một sợi chỉ đỏ đã bạc màu gần như trắng.

– Nhặt? – Ông Trượng nói.

— Hết chương 18 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →