AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Đường về Cồn Gạo

Ông Gù đưa con về đất · Chương 28/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 28: Đường về Cồn Gạo

Ông tài xế xe khách tuyến Bích Hải đi Đồng Sương nhìn ông Gù từ đầu xuống chân. Rồi ông nhìn xuống cái bánh xe sau, như đang ước lượng xem nó chịu thêm được bao nhiêu.

– Một trăm bảy chục ký? – Ông hỏi.

– Dạ. – Trượng nói.

– Ba ghế. – Ông tài xế nói. – Ngồi băng cuối. Không được đứng dậy đi lại. Nó mà đứng dậy là xe nghiêng.

Trượng trả tiền ba ghế. Ông Gù ngồi bệt xuống sàn ở băng cuối, vì ghế không vừa cái lưng gù, chân sắt duỗi ra chiếm hết lối đi. Nhặt ngồi trên ghế ngay cạnh, cái hộp thóc trong lòng, hai hũ tro bọc trong áo khoác xanh cổ vịt đặt dưới chân, tấm vỏ sơn con sẻ dựng sát vách. Trượng ngồi ghế bên kia.

Thằng Kíp đứng ở bến xe, cái ô của cô quản lý che một nửa đầu nó, nửa kia ướt. Lúc xe chạy, nó chạy theo một quãng, la với vào cửa sổ:

– Tết… Tết tao xuống! Cô cho rồi! Mày nhớ đó!

Rồi nó đứng lại, vẫy, nhỏ dần.

Xe khách ra khỏi Bích Hải lúc mười một giờ. Nhặt áp mặt vào kính cửa sổ suốt từ lúc đó.

Đầu tiên là phố. Nhà san sát, mái tôn đỏ, mái ngói xám, cái nào cũng ướt. Người chạy xe máy mặc áo mưa đủ màu, đỏ, vàng, xanh, như những cái đèn lồng ở Hòn Lăn biết đi. Rồi phố thưa dần. Rồi có những khoảng trống. Rồi khoảng trống rộng ra, rộng mãi, rộng tới mức nó không thấy chỗ hết.

Ruộng.

Má kể về ruộng cả trăm lần. Nhặt tưởng ruộng là một cái gì đó giống mấy dàn rau thủy canh ở vòng Hai, chỉ to hơn. Không phải. Ruộng là nước. Một tấm nước phẳng lì, xám bạc dưới trời mưa, chia thành từng ô bằng những bờ đất nhỏ chạy thẳng tắp như ai kẻ bằng thước. Có ô trống không, chỉ có nước. Có ô lởm chởm gốc rạ vàng. Có ô có mấy con cò trắng đứng một chân, cổ rụt lại.

Rồi nó thấy một con vật đen to bằng cái máy nâng hàng, sừng cong, đứng giữa ruộng, nhai.

– Trâu. – Trượng nói, không cần nó hỏi.

Nhặt nhìn con trâu cho tới khi nó khuất sau một bụi tre. Rồi nó quay lại nhìn ông Gù.

Ông Gù cũng đang nhìn ra cửa sổ. Ông không nhìn con trâu. Ông nhìn mấy ô ruộng.

– Ô kia dư nước. – Ông nói, chỉ một ô ruộng xa xa. – Ô bên cạnh thiếu. Cái bờ ở giữa bị xói một chỗ. Nước chảy qua mà không ai chặn.

Trượng quay sang nhìn ông. Rồi nhìn ra ô ruộng. Anh không thấy gì khác giữa hai ô.

– Sao ông biết? – Nhặt hỏi.

– Gù không biết. – Ông Gù nói. – Gù thấy.

Quạt không kêu.

Tới bốn giờ chiều thì xe tới bến phà sông Cái.

Sông Cái là con sông lớn nhất Nhặt thấy trong đời, mà thật ra nó là con sông đầu tiên nó thấy trong đời. Nước màu nâu đỏ như nước trà sữa, chảy cuồn cuộn, rộng tới mức nhìn sang bờ bên kia chỉ thấy một vệt cây mờ mờ trong mưa. Má kể Cồn Gạo nằm bên một con sông lớn. Nó nghĩ chắc là con sông này.

Bến phà đông nghẹt. Gió thổi ngược, phà phải chờ. Xe khách xếp hàng cuối một dãy dài xe tải chở cá, xe máy chở rau, xe ba gác chở gạch. Một tiếng. Hai tiếng.

Gần sáu giờ thì tới lượt. Ông tài xế cho xe xuống cái dốc bằng xi măng dẫn ra phà. Dốc trơn vì mưa, có một chỗ lún đầy bùn. Bánh sau xe khách sa vào đó, quay tít, bùn bắn tung tóe, mà xe không nhích lên được.

Ông tài xế đạp ga. Bánh xe quay. Bùn bắn. Xe lún thêm.

Mọi người trên xe nhìn nhau. Người trên phà la xuống: nhanh lên, phà sắp chạy, chuyến sau phải chờ hai tiếng nữa.

Ông Gù đứng dậy.

Cả cái xe nghiêng về phía sau, như ông tài xế đã nói. Ông tài xế chửi một câu. Ông Gù không để ý. Ông đi xuống, chân sắt nện lên bậc xe, bước xuống cái dốc bùn. Ông đi ra sau đít xe. Ông cúi xuống, áp hai bàn tay vào cái cản sau, tay phải kìm, tay trái mềm.

– Ông Gù! – Nhặt chạy xuống theo. – Ông đừng! Pin!

Ông Gù không trả lời. Ông đẩy.

Chiếc xe khách nặng mười mấy tấn rùng lên. Bánh sau quay, bùn bắn đầy người ông Gù. Ông đẩy nữa. Cái lưng gù của ông cong xuống, hai chân sắt lún vào bùn tới mắt cá. Tiếng ù trong ngực ông to lên, to tới mức con bé đứng cách năm bước cũng nghe. Rồi chiếc xe nhích. Rồi bánh xe bám được xi măng. Rồi chiếc xe chồm lên, chạy tuột ra phà.

Người trên phà vỗ tay. Có ông già bán cá đứng trên phà la to: con máy giỏi quá, con máy của ai mà giỏi quá.

Ông Gù đứng giữa dốc bùn, người lấm lem từ đầu tới chân, hai đèn mắt vàng chanh. Rồi ông đi lên phà. Ông đi chậm hơn lúc xuống.

Nhặt nắm lấy bàn tay mềm của ông. Hơi ấm. Từ hôm ở trạm chị Phên, bàn tay ấy chỉ ấm lên được một chút mỗi lần ông làm nặng, như cái chén vừa tráng nước sôi.

– Còn bao nhiêu? – Nó hỏi.

Ông Gù im một nhịp.

– Còn sáu giờ.

Quạt không kêu.

Nhặt đứng sững giữa boong phà. Lúc rút dây sạc ở trạm chị Phên, chị tính hai mươi lăm giờ. Đã đi mười ba giờ. Đáng lẽ còn mười hai. Hai mươi phút đẩy chiếc xe khách đã ăn mất sáu giờ.

Trượng đứng sau lưng con bé, nghe hết. Anh không nói gì. Anh lấy cái máy liên lạc ra, mở bản đồ, tính.

– Qua sông rồi còn chừng ba tiếng nữa tới Ngã Ba Sương. – Anh nói. – Kịp.

Mà không kịp như anh tính. Bên kia sông, đường đê đang sửa, xe phải đi vòng qua một con đường đất. Tới bến xe thị trấn Ngã Ba Sương thì đã chín giờ rưỡi tối. Xưởng ông Sáu Đường nằm ở đầu kia thị trấn, cạnh ngã ba con sông nhỏ chia ra ba nhánh, cách bến xe bốn cây số. Không có xe ôm nào chịu chở một cái máy một trăm bảy chục ký.

Ông Gù đi bộ.

Ông đi được một cây số thì bắt đầu chậm. Hai cây số thì ông dừng lại, một tay vịn vào cột điện bên đường.

– Gù phải nằm. – Ông nói. – Nằm thì đi được lâu hơn.

– Ông còn bao nhiêu?

– Bốn mươi phút. Nếu nằm yên thì một giờ.

Nhặt đứng giữa đường, giữa mưa, ở một cái thị trấn nó chưa thấy bao giờ, xung quanh là những cái nhà đã đóng cửa, đèn đường vàng vọt, và nó không biết làm gì. Ở Bến Sắt nó biết hết mọi đường ống. Ở Hòn Lăn nó có bà Bảy. Ở đây nó không có ai.

Lúc đó có tiếng máy nổ phành phạch từ đầu đường. Một chiếc xe ba gác máy chạy tới, chở đầy bao cám, ông già lái xe đội cái nón lá rách vành, mặc áo mưa cánh dơi. Chiếc xe chạy ngang qua, rồi thắng gấp, rồi lùi lại.

– Ê. – Ông già nói. – Phải con máy đẩy xe khách ở bến phà hồi chiều không?

Trượng ngẩng lên.

– Dạ phải.

– Tao ngồi trên phà. – Ông già nói. – Tao thấy. Đi đâu?

– Xưởng ông Sáu Đường.

– Lên.

Ông già tên Ba Rạng. Ông nhảy xuống, cùng Trượng hất mấy bao cám xuống lề đường, nói mai ra lấy, ở đây không ai ăn cắp cám. Rồi ba người dìu ông Gù lên thùng xe. Ông Gù nằm ngửa trên mấy bao cám còn lại, cái lưng gù kê lên một bao, hai chân sắt thò ra khỏi đuôi xe. Nhặt ngồi cạnh đầu ông, nắm bàn tay mềm. Trượng ngồi ở đuôi xe, giữ hai cái chân sắt cho khỏi tuột.

Xe ba gác chạy phành phạch qua thị trấn đêm.

Xưởng ông Sáu Đường là một căn nhà mái tôn dài, vách gạch không tô, cửa sắt kéo. Trong xưởng tối om, chỉ có một ngọn đèn vàng treo trên cái bàn nguội. Ông Ba Rạng đập cửa rầm rầm. Một lúc sau có tiếng dép lẹp xẹp, tiếng ho, rồi cánh cửa sắt kéo ra một khe.

Một ông già nhỏ thó, lưng còng, đeo cặp kính dày như đít chai, ló đầu ra.

– Ai?

– Ông Sáu ơi. – Nhặt nói, trước khi ai kịp nói. – Con Phên học nghề hồi xưa gửi lời ông. Con Phên làm cháy cái quạt trần của ông.

Ông Sáu Đường đứng sững. Rồi ông kéo cửa ra hết cỡ.

Ông nhìn cái máy nằm trên thùng xe ba gác, nhìn cái lưng gù, nhìn hai đèn mắt đã mờ xuống thành hai đốm vàng nhạt.

– TG-9. – Ông nói. – Đời hai sáu mươi. Trời đất. Đem vô. Đem vô lẹ.

Cái bộ sạc kiểu cũ nằm ở góc trong cùng xưởng, phủ một tấm vải bạt bám bụi. Nó là một cái hộp sắt to bằng cái thùng gạo, sơn xanh đã tróc, mặt trước có ba cái đồng hồ kim và một cái cần gạt bằng đồng. Ông Sáu Đường giật tấm vải ra, bụi bay mù mịt. Ông lôi ra một sợi dây cáp to bằng cổ tay, cắm vào sau gáy ông Gù.

Rồi ông gạt cái cần đồng.

Ba cái kim nhảy lên. Cái hộp sắt kêu ù ù, rung nhẹ. Hai đốm vàng nhạt trên mặt ông Gù từ từ sáng lên thành vàng chanh.

Ông Gù quay đầu nhìn con bé.

– Mười hai phút. – Ông nói.

– Ông còn mười hai phút?

– Phải.

Nhặt ngồi phịch xuống nền xi măng, hai chân duỗi ra, lưng tựa vào cái hộp sắt đang rung. Nó thở ra một hơi dài, dài tới mức tưởng như hơi thở ấy đã nằm trong ngực nó từ bến phà sông Cái.

– Hai đời rồi. – Ông Sáu Đường nói, vỗ vỗ lên cái hộp sắt. – Bộ sạc này của ông già tao để lại. Ổng làm thợ sửa máy công trình. Hồi luật pin ra, máy nào được ở lại dưới Đất thì phải tháo pin đồng vị, thay pin hóa học, cả tỉnh đem tới đây sạc. Máy nào chủ không có tiền thay pin thì người ta chở lên trời. Rồi máy cũ hư dần, mấy chục năm không ai cắm. Tao không bỏ. Tao không biết sao tao không bỏ.

Đêm đó Nhặt ngủ trên cái võng ông Sáu Đường mắc giữa hai cột xưởng. Trượng ngủ trên cái ghế bố. Ông Ba Rạng về lấy cám, nói sáng mai quay lại chở.

Sáng hôm sau, ngày hai mươi tháng Chạp, trời tạnh. Ông Gù đầy pin lúc sáu giờ rưỡi.

Tám giờ, ông Ba Rạng chở cả ba người theo con đường đê dọc sông Cái về phía biển. Một bên đê là sông, nước nâu đỏ. Một bên là ruộng, nước bạc. Gió thổi từ phía biển vào, mặn mặn. Nhặt ngồi trên thùng xe, thấy những thứ má kể. Bụi tre. Cây gạo. Đống rơm. Một cái chợ quê họp ngay chân đê, bà bán cá bày cá trên lá chuối, ông bán gà buộc chân gà vào cái sào. Ở đó nó ngửi thấy mùi rơm ướt.

Mười một giờ, ông Ba Rạng thắng xe ở đầu một cái xóm.

– Xóm Bờ Đê. – Ông nói. – Nhà bà Rỡ ở đầu xóm, sát cái cống đó.

Cái cống Mỏ Cò là một khối bê tông xám xịt chắn ngang con kênh dẫn nước từ sông vào đồng, hai cánh cửa thép gỉ đỏ, phía trên có một cái bánh xe tay quay to bằng cái nia. Sát bên cống là một căn nhà mái ngói cũ, tường vôi vàng đã mốc. Sau nhà có một cây mít. Trước nhà có một cái ao.

Trước cổng có một bà già.

Bà đứng đó như đã đứng đó từ lâu. Nhỏ, gầy, lưng hơi còng, tóc bạc búi củ hành, mặc cái áo bà ba nâu bạc. Hai mắt bà đục, phải nheo lại mới nhìn rõ. Một tay bà cầm cái chổi rơm, tay kia vịn vào cánh cổng tre.

Nhặt nhảy xuống khỏi xe. Nó bước tới. Nó ôm cái áo khoác xanh cổ vịt bọc hai hũ tro trong tay trái, cái hộp thóc trong tay phải. Nó dừng lại trước cổng, cách bà già ba bước.

– Bà ơi. – Nó nói. Giọng nó run. Nó đã tập câu này suốt từ Bến Sắt tới đây. – Con là Nhặt. Con đem má về. Của con Ươm gửi về. Con Ươm xin lỗi.

Bà già nhìn nó.

Bà nhìn rất lâu. Nhìn cái mặt nó. Nhìn cái áo khoác xanh cổ vịt. Nhìn hai cái hũ gốm trắng thò ra khỏi vạt áo, một to, một nhỏ. Rồi bà nhìn ra sau lưng nó, nhìn người đàn ông mặc đồ xám, nhìn cái máy gù lưng đứng cạnh xe ba gác.

Bà nhìn cái máy lâu hơn.

Rồi bà buông cái chổi rơm xuống đất, lùi một bước vào trong sân, kéo hai cánh cổng tre lại, cài then.

— Hết chương 28 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →