AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Cái cân thóc

Ông Gù đưa con về đất · Chương 35/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 35: Cái cân thóc

Sáng ngày hai mươi bốn tháng Chạp, trời trong tới mức Nhặt đứng trên mặt cống Mỏ Cò nhìn thấy được tận bờ bên kia sông Cái, và ruộng xóm Bờ Đê vẫn là ruộng.

Nước đã rút. Mặt kênh phẳng lặng, màu nâu đỏ, trôi lềnh bềnh mấy tàu lá chuối, mấy khúc cây gãy. Ruộng xóm dưới ngập trắng một góc, góc gần kênh, mà phần lớn vẫn là ruộng, nước bạc, bờ đất chạy thẳng tắp như ai kẻ thước. Mấy con cò trắng đã quay về, đứng một chân giữa ruộng, cổ rụt lại.

Bác Lẫm ngồi trên bậc thềm cái chòi giữ cống, cái đồng hồ đeo lại vào tay, một tờ giấy trên đùi. Bác đã tính từ lúc trời chưa sáng. Bác tính như bác vẫn tính sổ ca ở Bến Sắt, cẩn thận, viết từng dòng.

– Ba giờ bốn mươi phút không điện. – Bác nói, khi con bé ngồi xuống cạnh bác. – Quá hai giờ là một giờ bốn mươi. Một giờ bốn mươi là tám năm và bốn tháng. Trước đó ông Gù nhớ từ đầu năm hai trăm chín mươi tám. Cộng vào. – Bác dừng lại, gõ ngón tay lên tờ giấy. – Giữa năm ba trăm lẻ sáu.

Nhặt không nói gì. Giữa năm ba trăm lẻ sáu. Nó mới hơn sáu tuổi.

Trong chòi, ông Gù ngồi dựa lưng vào chân chõng tre, sợi cáp sạc vẫn cắm sau gáy. Cái hộp sắt của ông Sáu Đường kêu ù ù bên cạnh, nối vào cái máy phát của tổ hợp tác vẫn đang nổ phành phạch ngoài kia. Ông đã thức từ lúc năm giờ bốn mươi. Ông không ngủ nông. Ông ngồi đó, hai đèn mắt vàng chanh, nhìn ra cửa chòi.

Từ sáng tới giờ, Nhặt đã hỏi ông. Hỏi từng câu, chậm, như ông đếm ốc vít.

Ông nhớ Nhặt. Ông nhớ nó từ hồi nó còn ngủ trong cái thùng gom lót chăn ở góc sạc số mười bốn, mà là hồi nó đã lớn, đã biết chui ra chui vào, đã biết đòi ông kể chuyện. Ông nhớ hầm mười bốn, nhớ Sẻ Đồng nằm dưới tấm bạt, nhớ hàn vá cái van. Ông không nhớ vớt Sẻ Đồng lên lúc nào. Ông nhớ cô Ươm. Ông nhớ cô Ươm ho. Ông nhớ cô Ươm ngồi dưới hầm, uống nước ấm cho đỡ khàn. Ông nhớ cô Ươm vẽ con chim sẻ trên mũi tàu, ba buổi tối. Ông nhớ cô Ươm nằm ở trạm y tế. Ông nhớ ngày hai mươi bảy tháng Chín.

– Ông nhớ cái nôi không? – Nhặt hỏi.

Ông Gù im.

– Gù nhớ là Gù có kể cho con nghe chuyện cái nôi. – Ông nói. – Ở phòng khám. Hôm giỗ đầu cô Ươm. Gù nhớ từng chữ Gù kể. Mà Gù không nhớ cái nôi. Gù nhớ cái chuyện, như chuyện của người khác kể.

Quạt không kêu.

Nhặt cúi xuống. Rồi nó cầm lấy bàn tay trái của ông, giơ lên giữa hai người.

– Cái tay này của ông. – Nó nói. – Má hàn cho ông. Năm ba trăm lẻ một. Má tháo ở cái máy y tá hư bo mạch. Má hàn ba đêm, đeo đèn trán. Má đi một cái ống nhỏ từ pin ra để tay ông lúc nào cũng ấm. Má hàn để ông bế con. Hồi đó tay ông là tay kìm. Tay kìm bóp lon nước còn bẹp.

Ông Gù nhìn bàn tay.

– Gù bế con. – Ông nói.

– Dạ. Ông bế con suốt. Má nói ông bế giỏi hơn má.

Ông Gù xoay bàn tay mềm lại, nhìn lòng bàn tay, nhìn mấy vết khâu chỉ ở đầu ngón. Rồi ông khép các ngón lại, mở ra, khép lại, chậm, như người ta tập lại một việc đã quen mà không nhớ đã quen từ hồi nào.

– Gù không nhớ bế con. – Ông nói. – Mà Gù biết cầm cái gì dễ vỡ.

Quạt không kêu.

Rồi ông hỏi. Lần đầu tiên từ sáng, ông hỏi chứ không trả lời.

– Cô Ươm hồi mới gặp Gù thì như thế nào?

Nhặt ngẩng lên.

– Gù chỉ nhớ cô Ươm mấy năm sau này. – Ông nói. – Cô làm dưới hầm tới khuya. Cô ho. Cô mệt. Gù không nhớ hồi cô còn trẻ.

Nhặt ngồi im một lúc. Rồi nó kể.

Nó kể má cười khúc khích, cái kiểu cười như con nít bị thọc lét. Nó kể má hay nói "trời đất", nói "nghe chưa". Nó kể má chỉ mấy cái đèn báo quá nhiệt trên trần xưởng mà nói kia là sao Rua, kia là sao Cày, kia là sao Hôm. Nó kể má uống một ly rượu nếp đêm giao thừa là đỏ mặt, nói nhiều. Nó kể má hay chọc ông.

– Chọc Gù cái gì?

– Má nói ông chuyện gì cũng đo. Má nói: bữa nào ông thương ai, chắc ông nói thương ba phẩy bảy.

Ông Gù im.

– Ông nói: Gù chưa đo cái đó. – Nhặt nói. – Hồi đó con năm tuổi. Ông không nhớ đâu.

– Không nhớ. – Ông Gù nói.

Ông ngồi đó, hai đèn mắt vàng chanh nhìn con bé. Tiếng lách cách trong ngực ông chạy, chạy rất lâu, như người ta đếm từng hạt mà đếm mãi không hết.

– Gù đo rồi. – Cuối cùng ông nói.

– Bao nhiêu?

– Không có số. – Ông Gù nói. – Số nào cũng nhỏ quá.

Quạt không kêu.

Mười giờ sáng, anh Huân đứng dưới gốc bàng ở sân trụ sở xã, gọi về công ty.

Anh ta gọi lâu. Nhặt đứng ở cổng trụ sở xã, nhìn anh ta qua hàng rào. Anh ta vẫn mặc cái áo sơ mi trắng bê bết bùn từ đêm qua, hai bàn tay quấn băng thằng Lộc lấy ở trạm y tế xã. Anh ta nói nhỏ, đều, như đọc văn bản. Có lúc anh ta im lâu, nghe. Có lúc anh ta đưa tay lên day trán. Có một lúc anh ta nói to lên một câu, Nhặt nghe được ba chữ: "tôi đã thấy". Rồi anh ta lại nói nhỏ.

Gần mười một giờ, anh ta cúp máy, đi vào phòng hòa giải. Chị Mến đã chờ ở đó. Bà Rỡ, bác Lẫm, Trượng, Nhặt. Ông Gù ngồi bệt ở cuối phòng, sợi cáp sạc đã rút ra, đầy pin.

– Tôi đã báo về công ty những gì tôi thấy đêm qua. – Anh Huân nói. – Tôi cũng báo ý kiến của bác Lẫm về quy định bốn mươi năm. Tôi đề nghị công ty áp dụng đúng quy định đó. Công ty đồng ý.

Anh ta mở cặp, lấy ra một tờ giấy, đọc.

– Máy thu gom TG-9 số 0447, đời năm hai trăm sáu mươi, quá bốn mươi năm tuổi, theo quy định của công ty được xếp vào loại sắt thu hồi. Do máy đã được tháo pin tại trạm có phép và hiện nằm dưới mặt đất, chi phí đưa về kho vượt giá trị. Công ty đồng ý thanh lý tại chỗ theo giá sắt vụn, mười tám nghìn một ký, cho bất kỳ người mua nào. – Anh ta ngừng lại. – Chuyện tàu Sẻ Đồng và chuyện của anh Trượng, công ty xét sau Tết. Tôi sẽ ghi những gì tôi thấy.

Không ai nói gì. Rồi bà Rỡ hỏi một câu.

– Cân ở đâu?

Cái cân thóc của tổ hợp tác xóm Bờ Đê nằm trong cái kho lợp tôn ở đầu xóm, cạnh cái sân phơi lúa. Đó là một cái bàn cân bằng sắt to bằng cái chiếu, dùng để cân từng bao thóc lúc thu mua, có một cái mặt đồng hồ tròn với cây kim đen. Tới trưa, cả xóm Bờ Đê đã đứng chật cái sân phơi.

Không ai rủ. Bà Hai Sen đứng đầu. Thằng Lộc với mấy ông thanh niên quay cống đêm qua, người nào cũng còn trầy tay. Ông già chống gậy. Mấy bà hàng xóm bồng con. Đám con nít đứng sát mép bàn cân, mắt tròn xoe. Ông Ba Rạng chở ông Sáu Đường từ Ngã Ba Sương xuống, nói lên lấy lại cái bộ sạc.

Ông Gù đi ra giữa sân. Ông dừng lại trước cái bàn cân.

– Lên. – Bà Rỡ nói.

Ông Gù bước lên. Cái bàn cân kêu cót két. Cây kim đen trên mặt đồng hồ quay, quay, rung rung, rồi dừng.

Thằng Lộc cúi sát xuống đọc.

– Một trăm bảy mươi ký… bốn lạng.

Chị Mến bấm máy tính.

– Ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm đồng.

Trượng đưa tay vào túi áo. Bà Rỡ nắm cổ tay anh lại.

– Cất. – Bà nói.

Trượng nhìn bà.

– Máy của làng thì làng chuộc. – Bà Rỡ nói. Rồi bà quay ra cái sân phơi đông nghẹt người, nói to, cái giọng gắt, cộc, cái giọng mà con chó hàng xóm nghe thấy là cụp đuôi. – Ai có bao nhiêu thì bỏ bấy nhiêu. Không có thì thôi. Tao không ép.

Bà Rỡ tháo cái nón lá trên đầu xuống, lật ngửa, đặt lên mép bàn cân.

Bà Hai Sen bỏ vào trước. Năm chục nghìn. Rồi ông già chống gậy, móc trong túi áo ra một cái khăn tay gói mấy tờ tiền nhàu, bỏ vào cả cái khăn. Rồi thằng Lộc. Rồi mấy ông thanh niên quay cống. Rồi mấy bà hàng xóm, có bà bỏ hai chục, có bà bỏ mười nghìn, có bà không có tiền thì bỏ vào cái nón một nắm đậu xanh. Đám con nít chạy về nhà, chạy ra, bỏ vào mấy đồng xu lẻ. Ông Ba Rạng bỏ vào. Ông Sáu Đường cũng bỏ vào, rồi lầu bầu là tao xuống đây để lấy lại cái bộ sạc chứ không phải để bỏ tiền.

Bác Lẫm bỏ vào. Bác bỏ xong thì đứng nhìn cái nón một lúc, rồi đi ra đứng ở góc sân.

Anh Huân đứng ngoài rìa sân, cái cặp da kẹp trong nách. Anh ta không bỏ gì vào. Anh ta là người bán. Nhưng Nhặt thấy anh ta móc ví ra, mở ra, đứng nhìn, rồi cất lại, đứng im.

Rồi tới Nhặt.

Nó móc trong túi áo khoác xanh cổ vịt ra một gói giấy dầu. Gói tiền ấy đi với nó từ Bến Sắt. Tiền thằng Kíp dúi cho hôm cuối. Tiền bà Năm Lò giấu dưới đáy hộp bánh bột đậu. Tiền bán mười lăm gói rau mầm ở đầu hẻm quán bà Mười. Trừ đi một triệu hai tiền neo ba ngày. Trừ đi bốn trăm nghìn tiền gửi hai lời nhắn về Thanh Thổ. Nó đếm. Một triệu chín trăm năm chục nghìn.

Nó bỏ hết vào cái nón.

Chị Mến đếm. Chị đếm hai lần, rồi ngẩng lên.

– Bốn triệu ba trăm mười hai nghìn. – Chị nói. – Với một nắm đậu xanh.

– Dư. – Ông Gù nói.

– Dư thì để tổ hợp tác sửa cái máy đóng cống. – Bà Rỡ nói.

Chị Mến viết tờ giấy bán. Anh Huân ký bên bán. Bên mua, chị Mến hỏi ghi tên ai. Bà Rỡ nói ghi xóm Bờ Đê. Chị Mến nói giấy tờ không ghi được cả một cái xóm. Bà Rỡ nói vậy ghi tao, Nghiêm Thị Rỡ, mà ghi thêm một dòng ở dưới, là của xóm.

Chị Mến ghi.

Ông Sáu Đường đứng nhìn cái bộ sạc sơn xanh tróc mà ông Ba Rạng đã khiêng ra đặt sẵn trên thùng xe ba gác. Ông nhìn lâu. Rồi ông quay sang bà Rỡ.

– Để nó lại đây. – Ông nói, cộc lốc. – Ở xưởng tao không còn cái máy nào cần nó. Hai đời rồi. Để đây.

Rồi ông leo lên xe ba gác, không chờ ai cảm ơn, quát ông Ba Rạng chạy đi.

Ông Gù vẫn đứng trên cái bàn cân thóc. Cây kim đen trên mặt đồng hồ vẫn chỉ một trăm bảy mươi ký bốn lạng. Con nít bu quanh, đứa gan nhất đưa tay ra sờ cái chân sắt của ông, lần này không rụt lại.

Bà Rỡ nhìn ông. Rồi bà quay sang Nhặt.

– Hai mươi tám. – Bà nói. – Chôn má mày.

— Hết chương 35 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →