Chương 4: Nồi cháo cá khô
– Chín mươi ngày cho một đứa con nít ăn thì cần bao nhiêu gạo? – Nhặt hỏi.
Bà Năm Lò đang chặt cá khô trên cái thớt gỗ mòn lõm ở giữa, tay dao đang giơ lên thì dừng lại giữa chừng. Bà nhìn con bé. Rồi bà hạ dao xuống, chặt nốt, cộc một tiếng.
– Hỏi chi?
– Con hỏi chơi.
– Hỏi chơi mà mặt mày như đi ăn trộm. – Bà Năm lùa mấy khúc cá vào cái rổ nhôm, chùi tay vào tạp dề. – Lại đây.
Lúc đó là chiều ngày năm tháng Bảy, giờ nhà ăn vắng nhất, ca sáng đã ăn xong, ca chiều chưa tới. Nhặt theo bà Năm vào sau bếp. Trong này nóng hầm hập, hơi nước từ nồi cháo bốc lên đọng thành giọt trên trần rồi nhỏ xuống tóc. Bà Năm kéo cái ghế đẩu ra, ấn con bé ngồi xuống, rồi bà ngồi lên cái thùng gạo đối diện, hai đầu gối cách đầu gối nó chưa tới một gang tay.
– Má mày sửa cái gì dưới hầm mười bốn?
Nhặt há hốc miệng.
– Trời đất quỷ thần ơi, con nhỏ này. – Bà Năm cười, cái cười móm mém vì thiếu hai cái răng hàm. – Mày tưởng bà già này không biết gì hả? Hai năm cuối, tối nào má mày cũng tới đây xin một ca nước gừng, một vắt cơm, nói là ăn khuya. Ăn khuya gì mà tay lúc nào cũng đen nhẻm dầu máy, áo lúc nào cũng có mùi sắt gỉ của mấy cái hầm sâu. Có bữa nó ngồi đúng cái ghế mày đang ngồi đó, ho tới mức gập cả người lại, ho ra cả máu. Tao biểu đi khám. Nó nói chờ xong việc đã. Tao hỏi việc gì. Nó không nói.
Nhặt nhìn xuống cái ghế đẩu. Ghế bằng nhựa xanh, một chân được buộc lại bằng dây kẽm.
– Má con ho ra máu hả bà?
– Ừ.
– Hồi nào?
– Hồi tháng Tám năm ngoái. Một tháng trước khi nó gục ở dưới hầm.
Bà Năm Lò nói câu đó rồi im, nhìn con bé, như sợ mình lỡ lời. Nhặt không khóc. Mấy ngày nay nó khóc nhiều rồi, nước mắt dường như đã cạn tới đáy, giờ chỉ còn cái mặn ở cổ họng.
– Má con sửa một chiếc tàu. – Nó nói nhỏ. – Ông Gù với má sửa sáu năm. Để chở con về Cồn Gạo.
Bà Năm Lò không ngạc nhiên. Bà chỉ gật gật cái đầu, chậm rãi, như người ta nghe một chuyện mình đã đoán ra từ lâu mà không muốn đoán.
– Ông Gù lái?
– Dạ.
– Ngày nào đi?
– Mười chín tháng Tám. Cửa sổ chỉ mở ngày đó.
– Còn cái lò?
– Ông Gù đi trước ngày lò, bà.
Bà Năm Lò đứng dậy. Bà đi tới cái tủ gỗ kê sát tường, mở ngăn dưới cùng, lôi ra một cái túi ni lông dày. Trong túi là một xấp bao hút chân không còn mới, loại bà vẫn dùng để đóng gói cá khô gửi theo tàu tiếp tế cho mấy trạm nhỏ.
– Chín mươi ngày cho một đứa mười một tuổi. – Bà nói, giọng bà đã khác hẳn, nhanh, gọn, giọng của người đã nuôi ba nghìn miệng ăn suốt bốn mươi năm. – Gạo sấy một ký rưỡi một tuần. Mười ba tuần, hai chục ký. Cá khô, mắm ruốc, thịt chà bông, mỗi thứ năm ký. Bột đậu nấu cháo mười ký. Đường, muối. Rau thì không mang theo được, nó héo. Tao cho mày hạt rau muống với hạt cải, mày gieo mầm trong túi vải ướt, năm ngày là có mầm ăn. Nước thì tàu tự lọc chớ?
– Dạ, tàu lọc được.
– Thuốc. Phải có thuốc. Để tao xin con máy y tá ở trạm y tế một ít thuốc hạ sốt, thuốc đau bụng, thuốc sát trùng. Nói là cho tao. Bà già này bệnh lắm, ai cũng biết.
– Bà ơi, con không có tiền.
Bà Năm Lò quay phắt lại.
– Mày nói cái gì?
– Con nói con không có…
– Má mày ăn khuya ở đây hai năm, có trả đồng nào đâu. – Bà quắc mắt. – Thì giờ mày ăn tiếp phần của má mày. Vậy thôi.
Nhặt định nói gì đó nữa, mà bà Năm đã quay đi, cúi xuống thùng gạo, xúc gạo vào cái nia to, lưng còng còng, lẩm bẩm tính toán. Nhặt ngồi nhìn cái lưng ấy. Rồi nó đứng dậy, không hỏi gì, xắn tay áo lên, ra cái bồn rửa lấy cái rổ, ngồi xuống cạnh bà mà lượm thóc lép ra khỏi gạo.
Hai bà cháu ngồi như vậy tới khi ca chiều vào ăn.
Mười lăm ngày sau đó, cái bếp sau nhà ăn của bà Năm Lò làm thêm một việc không ai hay. Mỗi đêm sau ca tối, bà sấy gạo trên mấy cái khay nướng bánh, rang cá khô cho thật giòn, giã chà bông bằng cái cối đá bà mang lên trạm từ hồi còn trẻ. Nhặt ngồi đóng gói, mỗi bao một ngày, ghi số ngày lên bao bằng bút dầu: ngày một, ngày hai, ngày ba. Bà Năm Lò dặn ghi số cho dễ đếm, đếm được thì đỡ nhớ nhà. Nhặt không hiểu câu đó lắm, nhưng vẫn ghi.
Rồi tới khuya, ông Gù đi qua đường ống bảo trì, khuân từng thùng xuống hầm mười bốn.
Đêm thứ ba thì thằng Kíp đi theo.
Nhặt không biết nó theo từ lúc nào. Chỉ biết lúc hai ông cháu vừa lách qua cái van thứ tư trên đường ống thì có tiếng ai đó va đầu vào ống nước, kêu một tiếng "á" rõ to, rồi tiếng lắp bắp:
– Tao… tao… tao không có theo đâu nghe!
Ông Gù quay đèn mắt lại. Thằng Kíp ngồi bệt giữa đường ống, tay ôm trán, tóc dựng đứng như cái chổi, mắt nheo lại vì chói.
– Mày theo tao. – Nhặt nói.
– Tao… tao đi tiểu đêm.
– Đi tiểu đêm mà xuống tới đường ống tầng sáu?
Thằng Kíp không cãi được. Nó nhìn ông Gù, nhìn Nhặt, nhìn cái thùng gạo sấy ông Gù đang ôm bằng tay phải, rồi mặt nó sáng lên từ từ như cái bóng đèn mới vặn.
– Tụi… tụi bây có tàu.
– Không có.
– Có! Ông Gù ôm gạo đi xuống hầm sâu. Đêm nào cũng đi. Tao đếm rồi, ba đêm, mỗi đêm bốn thùng. Mười hai thùng gạo. Ai mà ăn hết mười hai thùng gạo dưới hầm, trừ khi… trừ khi… – Nó nuốt nước bọt. – Trừ khi có tàu.
Ông Gù nói:
– Con này lanh.
Nhặt quay lại lườm ông. Ông Gù không thấy, hoặc là thấy mà làm như không.
Thế là đêm đó thằng Kíp được xuống hầm mười bốn. Nó đứng trước chiếc Sẻ Đồng, miệng há hốc, mất cả nói lắp. Nó đi một vòng quanh tàu, rồi một vòng nữa, rồi nằm hẳn ra sàn nhìn lên bụng tàu, tay sờ lên từng tấm vỏ, như người ta sờ con ngựa.
– Tàu kéo đời Hải Âu. – Nó thì thào. – Đóng năm hai trăm bốn mươi mấy. Động cơ plasma đốt khí trơ, một buồng đốt, hai ống phụt. Hồi đó ở mấy bãi quặng người ta xài loại này nhiều lắm. Ba tao nói tàu Hải Âu chạy lì như trâu, có cái tật van dẫn khí hay nứt.
– Van nó nứt rồi. – Ông Gù nói. – Gù với cô Ươm hàn vá.
– Hàn vá van khí đẩy hả? – Thằng Kíp ngồi bật dậy. – Trời. Vậy là… là mỗi lần đốt máy là phải canh cái van đó như canh nồi cơm.
– Phải.
Thằng Kíp nhìn ông Gù, nhìn Nhặt, rồi nhìn chiếc tàu. Rồi nó nói một câu mà Nhặt biết là nó sẽ nói, ngay từ lúc nó va đầu vào cái ống nước:
– Cho… cho tao đi với.
– Không được. – Nhặt nói.
– Tao… tao cũng không có ba má. Tao cũng không muốn ở trung tâm. Tao biết sửa máy. Tao biết đọc bản đồ sao. Tao…
– Tàu chỉ có dưỡng khí cho một người. – Ông Gù nói. – Chín mươi ngày. Thêm một người là bốn mươi lăm ngày. Bốn mươi lăm ngày thì mới đi được nửa đường. Hai đứa chết giữa đường.
Thằng Kíp ngồi im. Nó không cãi. Nó là đứa mê tàu, nó hiểu con số hơn bất cứ đứa trẻ nào trên trạm. Mà con số thì không cãi được.
– Vậy… vậy tao giúp. – Một lúc sau nó nói. – Được không? Tao giúp, rồi tao đi tàu sơ tán.
Nhặt nhìn nó. Thằng Kíp có cặp mắt hơi lé, nhìn ai cũng như nhìn qua vai người ta. Năm ngoái, đám tang má, nó là đứa duy nhất trong Nhà Chung dám tới ngồi cạnh Nhặt suốt buổi, không nói câu nào, chỉ ngồi, chân đá đá vào chân ghế.
– Được. – Nhặt nói.
Từ đó ba người làm việc dưới hầm mỗi đêm.
Thằng Kíp lo phần dây điện, phần đèn, phần mấy cái đồng hồ đo trong buồng lái, những thứ tay kìm của ông Gù làm không khéo. Nhặt lo xếp đồ ăn vào tủ, buộc dây từng thùng, lau chùi khoang ngủ, may lại cái đệm lưng vải hoa bị sút chỉ. Ông Gù hàn. Ông hàn nốt mấy chỗ vá trên vỏ, hàn cái giá đỡ bình nước, hàn thêm một cái tay vịn ngay cạnh giường để Nhặt ngủ không bị trôi.
Cái tia lửa hàn xanh lét từ mỏ cắt của ông soi sáng cả góc hầm, chiếu cái bóng gù khổng lồ của ông lên vách. Cái bóng chập chờn như bóng ông Táo trong cái tranh dán bếp mà bà Năm Lò hay kể.
Có một đêm, gần tới đêm thứ mười, Nhặt thấy lưng ông Gù bám đầy bụi sắt. Bụi sắt ở hầm này mịn như phấn, màu đỏ nâu, dính vào đâu là bám chặt ở đó. Mấy chỗ vỏ ông bị bụi bám lâu đã bắt đầu rỗ lên những đốm gỉ nhỏ như mụn.
Con bé lấy cái bàn chải sắt trong hộp đồ nghề của má, bò lên lưng ông, chà.
Ông Gù đang hàn thì dừng lại.
– Con làm gì đó?
– Con chà gỉ cho ông. Lưng ông gỉ hết rồi.
– Chà đi. – Ông nói, rồi hàn tiếp.
Nhặt chà từ vai phải xuống, chà mạnh tay, bụi đỏ bay mù mịt, lớp sơn vàng đất cũ bong ra từng vảy nhỏ. Chà xong vai phải, nó chuyển qua vai trái. Ngay dưới vai trái ông, sát chỗ cái quai thùng gom bắt vào lưng, có một mảng sơn bằng bàn tay người lớn, màu hơi khác với chỗ còn lại. Nó vàng hơn, mới hơn, như người ta sơn đè lên. Nhặt đặt bàn chải lên đó.
Ông Gù xoay người. Một cái xoay nhanh, gọn, nhanh tới mức con bé chưa kịp chà một đường đã thấy mình bị nhấc bổng khỏi lưng ông, đặt xuống sàn bằng bàn tay mềm.
– Chỗ đó không được. – Ông Gù nói.
– Sao vậy ông?
– Cô Ươm dặn. Không ai được chà chỗ đó.
Nhặt chớp mắt.
– Sao má dặn vậy?
– Gù không biết. – Ông Gù nói. – Cô Ươm chỉ dặn vậy. Cô dặn từ năm Định Cư hai trăm chín mươi tám. Lần đầu cô hàn vá cho Gù. Cô chà sơn chỗ đó ra, rồi cô ngồi im lâu lắm, rồi cô sơn lại, rồi cô dặn Gù không ai được chà chỗ đó nữa. Kể cả cô.
Quạt không kêu.
– Má có nói chỗ đó có gì không?
– Không.
– Ông có biết chỗ đó có gì không?
– Gù không thấy được lưng Gù.
Nhặt nhìn mảng sơn vàng ấy dưới ánh đèn pin. Nó không thấy gì, chỉ là một mảng sơn hơi vàng hơn chỗ khác. Thằng Kíp cũng chui ra khỏi buồng lái, tới nhìn, rồi nhún vai.
– Chắc… chắc chỗ đó vỏ mỏng. Chà là thủng.
– Chắc vậy. – Nhặt nói, nhưng nó không tin lắm.
Nó cất cái bàn chải sắt vào hộp. Đêm đó lúc về, đi trong đường ống, con bé cứ nhìn mãi mảng sơn ấy lắc lư trên lưng ông Gù phía trước, hơi vàng, hơi mới, như một miếng băng dán trên da người.
Sáng hôm sau là ngày hai mươi tháng Bảy.
Đèn trần nhà ăn chớp vàng ba lần đúng lúc Nhặt đang húp muỗng cháo đầu tiên. Thằng Kíp ngồi cạnh nó, tay cầm cái bánh bột đậu, ngừng nhai. Cái loa trên tường rè rè, rồi giọng bác Lẫm vang lên, mệt hơn hôm trước, khàn hơn hôm trước.
"Thông báo của Ban Đóng Trạm. Để hoàn tất việc kiểm kê tài sản trước khi đóng trạm, Công ty Khai Thác Ngoài Vành cử một cán bộ kiểm kê thu hồi lên Bến Sắt. Cán bộ này sẽ đối chiếu danh sách với thực tế từng xác tàu, từng máy móc trong các hầm, kể cả các hầm đã niêm phong. Mọi người dân và máy móc trên trạm có trách nhiệm phối hợp. Cán bộ dự kiến cập bến ngày hai mươi bảy tháng Bảy, trên tàu công vụ Mũi Lao."
Loa ngừng một chút. Rồi giọng bác Lẫm đọc thêm một câu, nghe như đọc đúng tờ giấy người ta đưa:
"Tên cán bộ: Mạc Quang Trượng."
Thằng Kíp đặt cái bánh xuống bàn.
– Kiểm… kiểm cả hầm niêm phong. – Nó thì thào. – Hầm mười bốn là hầm niêm phong.
Nhặt không nói gì. Nó nhìn ra cửa sổ thủy canh, nơi con máy tưới nhỏ bằng cái ấm đang chạy lăng xăng phun sương. Rồi nó nhìn xuống cái chén cháo cá khô trong tay mình. Mấy ngày nay bà Năm Lò múc cho nó đầy hơn mọi khi.
— Hết chương 4 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe