AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Cảng Vành Ngọc

Ông Gù đưa con về đất · Chương 25/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 25: Cảng Vành Ngọc

Người hải quan cầm cái máy quét gen nhỏ bằng cái điện thoại, chạm đầu máy vào ngón tay Nhặt. Bà nhìn màn hình, nhìn con bé, rồi nhìn màn hình, và nói một câu mà không ai trên tàu Mũi Lao ngờ tới:

– Cháu có hai tên.

Đó là một người đàn bà trung niên, mặc đồng phục xanh đậm, tóc búi gọn sau gáy, cổ đeo một cái thẻ có in số. Bà đứng giữa buồng lái, chân móc vào quai sàn, cái mũ cầm trên tay vì trần tàu thấp. Bà đọc màn hình bằng giọng đều đều, như đọc bảng giá.

– Giấy khai sinh trạm Bến Sắt: Hà Thị Nhặt, sinh mười bốn tháng Tư năm ba trăm, mẹ Hà Thị Ươm. Hồ sơ gen: khớp với Mạc Ngân Sa, sinh ba tháng Hai năm ba trăm, cha Mạc Quang Trượng, mẹ Viên Thị Hảo, mất tích ngày hai tháng Tư năm ba trăm trong vụ tàu khách Nhạn Trắng.

Bà ngẩng lên.

– Cái nào đúng?

– Cả hai. – Nhặt nói.

Người hải quan nhìn nó. Bà làm nghề này lâu rồi. Bà đã thấy người ta có hai tên vì nợ, vì trốn, vì đổi đời. Bà chưa thấy đứa con nít nào nói "cả hai" mà nhìn thẳng vào mắt bà như vậy.

– Tôi là cha nó. – Trượng nói. Anh đưa cái máy liên lạc ra, mở kết quả của Sổ Tìm Người Thân. – Sổ báo khớp trực hệ từ hôm hai mươi chín tháng Chín. Bác sĩ ở chợ Hòn Lăn gửi.

Người hải quan đọc. Rồi bà gõ mấy chữ.

– Hồ sơ hai tên thì giải quyết dưới Đất. Cảng không giải quyết. – Bà nói. – Tôi ghi tạm: trẻ vị thành niên, đi cùng cha ruột, đã xác minh gen. Được vào cảng.

Bà quay sang cái máy gù lưng đứng ở cửa buồng lái, chiếm gần hết khung cửa.

– Còn cái này.

Bà không cần quét. Cái máy quét của bà tự kêu lên ba tiếng chói tai khi bà mới chĩa về phía ông Gù, màn hình chuyển đỏ.

– Pin đồng vị. – Bà đọc. – Máy thu gom TG-9 số 0447, đời năm hai trăm sáu mươi. Theo Luật Pin Đồng Vị, cấm vào khí quyển. Được neo ở cảng, không được lên tàu con thoi. Chủ sở hữu ghi trong sổ đăng ký máy: Công ty Khai Thác Ngoài Vành.

– Chủ sở hữu có mặt ở đây. – Một giọng đàn ông nói từ phía sau người hải quan.

Người đó bước vào buồng lái, đúng hơn là lướt vào, vì anh ta không quen không trọng lực, một tay bám khung cửa, một tay cầm cái cặp da. Một người đàn ông chừng ba lăm tuổi, đeo kính gọng mảnh, mặc bộ đồ văn phòng màu xám nhạt cài nút tới cổ, tóc chải gọn như vừa ra khỏi tiệm. Anh ta gật đầu chào từng người, chào cả ông Gù.

– Tôi là Bùi Khắc Huân, bộ phận pháp chế của công ty. – Anh ta nói. – Anh Trượng, công ty đã gửi văn bản cho anh hôm ba tháng Mười Một. Tôi tới để nhận máy.

– Tôi đã trả lời. – Trượng nói.

– Dạ, tôi có đọc. – Anh Huân nói, lịch sự, giọng đều. – Căn cứ hợp đồng lao động và quy chế tài sản của công ty, anh không có quyền đứng tên giám hộ một tài sản của công ty khi chưa được công ty đồng ý. Tôi hiểu hoàn cảnh của anh. Công ty cũng hiểu. Nhưng tôi phải làm đúng giấy.

– Anh làm đi. – Trượng nói.

Anh Huân nhìn anh một lúc. Rồi anh ta nhìn Nhặt. Rồi nhìn cái bàn tay trái mềm màu kem của ông Gù. Anh ta không nói gì về những thứ đó.

– Vậy công ty sẽ xin lệnh giữ máy của ban quản lý cảng. – Anh ta nói. – Thủ tục mất hai ngày. Kể từ lúc ban quản lý đóng dấu, máy số 0447 không được rời khỏi kho thu hồi. Tôi báo trước để anh biết. Tôi không muốn ai bất ngờ.

Anh ta cúi chào, rồi lướt ra, cái cặp da va vào khung cửa một cái. Người hải quan nhìn theo anh ta, rồi quay lại nhìn ba người trên tàu, và lần đầu tiên từ lúc bước vào, mặt bà có một cái gì đó không phải bảng giá.

– Hai ngày. – Bà nói. – Ở cảng này có ba trạm tháo pin có phép. Tôi chỉ nói vậy.

Cảng Vành Ngọc không giống Bến Sắt, cũng không giống Hòn Lăn.

Nó là một cái vòng khổng lồ quay quanh Thanh Thổ. Đứng trong hành lang chính nhìn ra trước thì thấy sàn cong lên như đáy cái chén, cong mãi, lên tận trên đầu rồi mất hút sau những khung kính. Ở vòng ngoài, nơi tàu Mũi Lao cập bến, trọng lực nặng gần bằng dưới Đất. Nhặt bước ra khỏi tàu được mười bước thì phải dừng lại, vịn vào tường. Hai đầu gối nó run. Gần ba tháng không trọng lực, hai cái chân nó đã quên mất là chân.

– Đi chậm. – Ông Gù nói. Ông đi sau lưng con bé, bàn tay mềm đưa ra sẵn, cách lưng nó một gang tay. – Mỗi bước nhìn xuống chân.

Trượng đi trước, tay cầm cái máy liên lạc, đọc danh sách trạm tháo pin. Anh gọi trạm thứ nhất. Hết chỗ, sớm nhất là ba tuần. Anh gọi trạm thứ hai. Người ta hỏi số hiệu máy, rồi nói xin lỗi, máy đang có tranh chấp với một công ty, trạm không nhận. Anh gọi trạm thứ ba. Không ai bắt máy.

Họ đi qua chợ cảng. Ở đây người ta bán những thứ Nhặt chưa thấy bao giờ. Trái cây thật chất đống trên mấy cái sạp, cam vàng, chuối xanh, bưởi to bằng cái đầu, vỏ còn dính lá. Rau thật, bó từng bó, lá xanh tới mức nhìn đau mắt. Một bà già ngồi bán bánh bao, khói bốc lên trắng xóa. Một ông bán đồ chơi người máy bằng thiếc, vặn dây cót là chạy, cái nào cũng có đèn mắt nhấp nháy. Một ông kia thấy ông Gù đi qua thì đưa tay lên chào, như chào người quen.

Nhặt không nhìn được hết. Nó mệt. Nó đếm bước. Ba trăm. Bốn trăm.

Ở bốn trăm hai mươi thì nó nghe một giọng gọi tên nó. Một giọng khàn, mệt, nói kiểu đọc văn bản rồi tự sửa lại thành lời thường.

– Nhặt. Con nhỏ của Ươm thợ hàn.

Nó quay lại.

Bác Lẫm ngồi ở một cái bàn sắt trong quán nước đầu dãy, trước mặt là một ly trà nguội và một chồng hồ sơ. Bác vẫn đeo cặp kính gọng nhựa nứt một bên dán keo. Bác vẫn mặc cái áo khoác đồng phục công ty, mà cái áo nhăn hơn hồi ở Bến Sắt, như bác đã ngủ trong nó cả tháng.

Nhặt không chạy được. Nó đi tới, chậm, từng bước, vịn vào lưng ghế. Rồi nó đứng trước mặt bác, và nó không biết nói gì, nó chỉ cúi chào, cúi sâu, hai tay để trước bụng, đúng như má dạy.

Bác Lẫm đứng dậy. Bác nhìn nó, nhìn ông Gù sau lưng nó. Rồi bác nhìn người đàn ông mặc đồ xám đứng cạnh.

– Anh Trượng.

– Anh Lẫm.

Hai người lớn nhìn nhau, không bắt tay. Bác Lẫm đã đọc biên bản của Trượng. Trượng đã nghe giọng bác Lẫm qua bộ đàm sáng ngày mười chín tháng Tám, nói "anh ghi vào biên bản đi". Không ai nhắc lại chuyện đó.

– Bác về chuyến cuối. – Bác Lẫm nói, ngồi xuống lại. – Tới đây ba tuần rồi. Công ty bắt làm cho xong hồ sơ đóng trạm rồi mới cho xuống. Ba nghìn mốt người, ba chục năm, giấy tờ chất cao hơn đầu.

Rồi bác hỏi về chuyến đi. Nhặt kể. Nó kể ngắn, vì nó mệt, nhưng nó kể đủ. Cái van nứt. Hòn Lăn. Khoang số Ba. Phòng khám. Rồi nó dừng lại, nhìn Trượng. Trượng gật đầu.

Nó kể chuyện cái nôi.

Bác Lẫm nghe hết, không ngắt lời. Bác gỡ kính ra lau, lau rất lâu. Tới chỗ cái hũ nhỏ, bác đặt kính xuống bàn, không đeo lại.

– Hũ nhỏ. – Bác nói. – Bác có thấy. Hôm ở phòng Lặng. Con nói là cái nhau của con.

– Dạ. Con tưởng vậy.

Bác Lẫm im lâu. Rồi bác nói một chuyện mà Nhặt không ngờ bác sẽ nói với nó.

– Cái ô bác thắp nến đêm đó. Hai trăm năm mươi bốn, hai trăm chín mươi sáu. Con có thấy không?

– Dạ có.

– Là vợ bác. – Bác Lẫm nói. – Bà ấy bị bệnh tim, phải đeo một cái máy nhỏ trên ngực để giữ nhịp. Cái máy chạy bằng điện của trạm, sạc mỗi đêm. Tháng Ba năm hai trăm chín mươi sáu, Bến Sắt mất điện chín tiếng. Pin dự phòng của cái máy chạy được sáu.

Ông Gù đứng sau lưng con bé không động đậy.

– Đêm đó, – bác Lẫm nói tiếp, và bác nhìn lên ông Gù, – trạm cũng mất một thứ khác. Cái máy thu gom số 0447 đang nằm ở xưởng kiểm tra pin. Sáng ra nó không còn nhớ gì nữa. Bác ký biên bản cả hai chuyện trong cùng một buổi sáng.

– Gù không nhớ đêm đó. – Ông Gù nói.

– Bác biết. – Bác Lẫm nói. – Bác nhớ giùm.

Không ai nói gì. Tiếng chợ cảng vẫn ồn ào sau lưng. Bà bán bánh bao rao. Cái người máy thiếc vặn dây cót chạy lạch cạch trên sạp.

– Còn con Chổi. – Nhặt nói nhỏ. – Bác…

– Bốn ký. – Bác Lẫm nói. – Hũ tro của bà nhà bác hai ký rưỡi. Con Chổi sáu ký. Bác chỉ có bốn ký. – Bác đeo kính lại. – Bác chọn người chết.

Nhặt không nói được gì nữa. Nó đưa tay ra, đặt lên tay bác trên mặt bàn sắt, như nó đã đặt lên hai bàn tay đầy sẹo của bà Bảy Sầm. Bác Lẫm không rút tay.

– Bây giờ tụi con đi đâu? – Bác hỏi, sau một lúc.

– Tìm trạm tháo pin. – Trượng nói. – Ba trạm. Hai trạm không nhận. Trạm thứ ba không ai bắt máy.

– Trạm thứ ba là trạm nào?

Trượng đọc tên. Bác Lẫm gật đầu.

– Con nhỏ Phên. – Bác nói. – Tuần trước bác đem tới đó mấy cái máy pin đồng vị công ty chở từ Bến Sắt về làm hàng mẫu, nó tháo pin cho hết. Nó không bắt máy là vì nó ghét bắt máy. Phải tới tận nơi.

Bác đứng dậy, để tiền trà lên bàn, kẹp chồng hồ sơ vào nách.

– Đi. – Bác nói. – Bác dẫn.

Trạm tháo pin của chị Lò Thị Phên nằm ở vòng giữa của cảng, cuối một dãy xưởng sửa máy, sau một cánh cửa sắt sơn vàng có vẽ hình một viên pin gạch chéo. Trong trạm sáng trưng, sạch, lạnh, có mùi chì với mùi cà phê. Giữa phòng là một cái bàn thép lớn có gờ, xung quanh là mấy cái tủ chì, mấy cuộn dây điện to bằng cổ tay, một cái cân sàn.

Chị Phên đang ngồi trên bàn thép, hai chân đung đưa, ăn mì gói. Chị chừng gần bốn mươi, người nhỏ, tóc cắt ngắn như con trai, mặc bộ đồ bảo hộ màu cam đã bạc đầu gối. Thấy bác Lẫm, chị nhảy xuống.

– Chết cha, bác Lẫm. Bác lại đem máy tới hả? Con nói rồi, bác đem thêm một cái nào nữa là con tính tiền gấp đôi.

– Cái này khác. – Bác Lẫm nói.

Chị Phên nhìn ra sau lưng bác. Chị thấy ông Gù. Chị đặt gói mì xuống. Chị đi một vòng quanh ông, chậm, nhìn từ cái lưng gù tới cái mỏ cắt, tới cái chìa bảo trì quấn chỉ đỏ sau gáy, tới bàn tay trái mềm màu kem. Rồi chị đứng lại trước mặt ông.

– TG-9. – Chị nói. – Đời hai trăm sáu mươi. Lõi nhớ kiểu cũ. Trời đất, còn sống cái này hả.

– Phải. – Ông Gù nói.

Chị Phên quay sang Trượng.

– Có giấy giám hộ không?

– Có. Tôi đứng tên.

– Có tiền không?

– Có.

– Có tranh chấp không?

Trượng im một nhịp.

– Có.

Chị Phên chống nạnh, nhìn anh, nhìn con bé đang vịn vào khung cửa cho khỏi khuỵu, nhìn bác Lẫm.

– Lịch của tui kín tới hết ngày mười hai. – Chị nói. – Sớm nhất là ba ngày nữa.

Trượng nhìn đồng hồ trên vách. Anh không cần tính. Nhặt cũng không cần tính. Cả hai đều nghe anh Huân nói trên tàu.

Lệnh giữ máy có hiệu lực sau hai ngày.

— Hết chương 25 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →