Chương 24: Lệnh của công ty
Ngày ba tháng Mười Một, Nhặt thấy Trăng.
Nó đang tập thể dục trong khoang hàng, chân móc vào quai, kéo sợi dây cao su, ông Gù đếm tới hai trăm mười bốn thì nó nói thôi, đủ rồi, con lấy số đó. Rồi nó lướt lên buồng lái uống nước. Qua ô kính trước mũi tàu, cạnh cái hạt xanh ngọc giờ đã to bằng đồng xu, có một hạt nhỏ hơn, màu trắng sữa, khuyết một bên như cái móng tay.
– Trăng đó. – Trượng nói, không quay lại. Anh đang ngồi trước màn hình liên lạc. – Dưới Đất người ta ăn Tết theo nó. Đếm ngày rằm, mùng một theo nó.
Nhặt áp mặt vào ô kính. Trên Bến Sắt không ai thấy Trăng. Từ đó nhìn về phía Thanh Thổ chỉ thấy một chấm xanh, lâu lâu mới có một hạt trắng lóe lên bên cạnh, mà người ta bảo đó là đèn tàu. Má kể Trăng ở quê có lúc tròn như cái nia, có lúc mảnh như lưỡi liềm, đêm rằm thì sáng tới mức đọc được chữ. Nó chưa bao giờ nghĩ cái Trăng má kể lại nhỏ như vậy.
– Mai mốt về tới nơi thì nó to. – Trượng nói. – To bằng cái nia.
Nó quay sang. Anh vẫn không quay lại. Trên màn hình trước mặt anh có một văn bản dài, chữ đen trên nền trắng, có cái huy hiệu của Công ty Khai Thác Ngoài Vành ở góc trên.
– Gì vậy chú?
Trượng im một chút. Rồi anh xoay màn hình về phía nó.
Nhặt đọc. Nó đọc chậm, từng chữ, như ông Gù vẫn đọc.
Công ty yêu cầu cán bộ Mạc Quang Trượng giao máy thu gom TG-9 số 0447 cho kho thu hồi của công ty tại cảng Vành Ngọc ngay khi tàu Mũi Lao cập cảng. Việc giải tỏa kê biên tàu kéo Sẻ Đồng tại chợ Hòn Lăn do cán bộ tự quyết, không thông qua công ty, đang được xem xét. Cán bộ tạm thời bị đình chỉ quyền ký văn bản thu hồi kể từ ngày nhận thông báo này. Trường hợp cán bộ không giao máy đúng hạn, công ty sẽ khởi kiện cán bộ về hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của công ty.
Bên dưới có một dòng chữ in nghiêng, nhỏ hơn: Công ty ghi nhận hoàn cảnh cá nhân của cán bộ và chia vui với việc cán bộ đã tìm được thân nhân.
Nhặt đọc dòng chữ in nghiêng hai lần. Nó không hiểu sao người ta lại viết một câu chia vui ngay dưới một câu dọa kiện.
– Chú bị đuổi việc hả?
– Chưa. – Trượng nói. – Mới bị cấm ký.
– Vì cái giấy kê biên?
– Ừ.
Nhặt nhìn anh. Anh ngồi đó, mặt không có gì, như hôm ở Bến Sắt anh ngồi sau cái bàn trong phòng chờ xưởng sửa máy hỏi ba cái máy TG-9 về kho riêng. Nó không đoán được anh đang nghĩ gì. Nó chỉ biết là từ hôm anh nghe xong mười một lời nhắn rồi mở cửa nói "ông Gù, ông mở cho con bé nghe đi", anh chưa nói gì về chuyện cái máy phải theo luật nữa. Mà anh cũng chưa nói gì khác.
Nó không hỏi. Nó sợ hỏi.
Đêm hôm đó, Trượng xuống khoang hàng. Không phải giờ tháo đai. Anh xuống lúc gần mười hai giờ, lúc biết chắc con bé đã ngủ. Tối nay nó ngủ ở buồng của nó chứ không ở khoang hàng, nó nói mai mốt xuống Đất rồi phải tập ngủ một mình.
Anh tháo bốn sợi dây đai vàng ra khỏi người cái máy. Hai đốm cam mờ sáng lên thành vàng chanh.
– Ông ngồi dậy đi. – Anh nói.
Ông Gù ngồi dậy, móc chân vào quai sàn. Trượng ngồi xuống đối diện, lưng tựa vách, cạnh tấm vỏ sơn con sẻ. Hai người ngồi đó, một người, một cái máy, trong ánh sáng của một ngọn đèn.
– Công ty nhắn rồi. – Trượng nói. – Tới Vành Ngọc thì giao ông cho kho thu hồi.
– Gù biết. Gù nghe.
– Ông nghe hết?
– Gù nghe hết mọi thứ trên tàu này.
Trượng gật đầu. Anh đã đoán vậy.
– Tôi hỏi ông một câu. – Anh nói. – Ông trả lời thật.
– Gù không nói xạo được lâu.
– Tôi biết. – Trượng nói. – Cái quạt.
Ông Gù nhìn anh. Hai đèn mắt chớp một cái.
– Con bé nói cho tôi. – Trượng nói. – Hôm trước. Nó nói từ hồi nó năm tuổi nó đã biết. Nó nói hôm ở phòng chờ xưởng sửa máy, ông nói cái nôi rỗng, quạt ông kêu, nó ngồi trong khe thùng nhựa nghe được. Tôi ngồi cách ông ba bước. Tôi không nghe ra.
– Anh không biết nghe.
– Phải. – Trượng nói. Lần đầu tiên anh nói chữ đó, cái chữ của ông Gù, và anh để ý thấy mình nói. – Câu hỏi của tôi. Nếu làm lại từ đầu. Ngày hai mươi tháng Tư năm ba trăm. Ông vớt cái nôi lên. Ông có mang về phòng bảy mươi hai không?
Ông Gù không trả lời ngay. Tiếng lách cách khẽ trong ngực ông chạy, chậm, đều, như ai đang lần một chuỗi hạt.
– Có. – Ông nói.
Quạt không kêu.
– Ông có ghi rỗng không?
– Có.
Quạt không kêu.
Trượng nhắm mắt lại.
– Ông không định xin lỗi tôi.
– Gù không xin lỗi được. – Ông Gù nói. – Xin lỗi là nói Gù làm sai. Gù không biết Gù làm sai không. Gù làm lại thì vẫn làm vậy. Mà Gù biết anh mất mười một năm. Gù biết anh đi đếm nôi ở mười chín cái bãi. Cái đó Gù không trả lại được. Gù không có gì để trả.
Trượng mở mắt ra. Anh nhìn cái máy.
– Tôi cũng không biết ông làm sai không. – Anh nói. – Tôi nghĩ suốt từ hôm nghe cái băng. Nếu ông mang cái nôi tới trạm y tế, cái máy y tá không cho nó bú được. Tàu tiếp tế mười chín ngày. Nó tỉnh dậy là phải bú. Tôi tính. Tôi tính đi tính lại. Tôi là kỹ sư máy, tôi biết tính. – Anh dừng lại. – Không có cô Ươm thì con tôi chết. Không có ông thì con tôi trôi tới ngày ba mươi trong cái nôi ở khu C rồi chết. Mà có cô Ươm, có ông, thì tôi mất nó mười một năm. Tôi không biết cái nào sai. Tôi chỉ biết là tôi giận. Tôi giận mà không có ai để giận. Người để giận thì nằm trong cái hũ trong áo khoác của con bé.
Ông Gù im.
– Cô Ươm nói cô chỉ mượn. – Trượng nói. – Nói vậy thì tôi lấy lại. Tôi lấy lại rồi. Nó ở trên tàu tôi. Nó là con tôi theo luật. Mà ông có thấy nó ngủ ở đâu không? Mười ngày đầu?
– Ở đây.
– Ở đây. – Trượng lặp lại. – Cạnh cái giá thép. Nắm tay ông.
Anh ngồi im một lúc lâu. Rồi anh móc trong túi áo ngực ra một xấp giấy gấp làm tư, mười chín tờ, cạnh đã sờn, có tờ ố vàng. Anh rút ra tờ trên cùng. Mở ra. Đưa cho ông Gù xem dưới ánh đèn. Số 0447. Hai mươi tháng Tư năm ba trăm. Vành rác Hòn Mốc, khu C. Rỗng.
– Mười chín cái máy. – Anh nói. – Ở mười chín cái trạm. Cái nào cũng ghi rỗng. Mười tám cái kia rỗng thật. Tôi đã đi hỏi từng cái. Cái nào cũng nói rỗng, mà cái nào nói cũng đúng.
Anh gấp tờ giấy lại, cất vào túi cùng mười tám tờ kia.
– Tôi không giao ông cho kho thu hồi. – Anh nói.
Ông Gù không động đậy.
– Cô Ươm xin tôi đứng tên cho ông. Tôi đứng tên. – Trượng nói. – Tới Vành Ngọc, tôi đi tìm trạm tháo pin có phép. Ông tháo pin. Ông xuống Đất. Ông về Cồn Gạo. Công ty muốn kiện tôi thì kiện. Tôi không có gì để công ty lấy ngoài cái việc làm.
– Sáu chục triệu. – Ông Gù nói. – Tháo pin sáu chục triệu. Con bé có năm mươi hai của bà Bảy.
– Tôi có tiền. – Trượng nói. – Mười một năm tôi không xài gì. Lương kiểm kê ở các trạm xa có phụ cấp. Tôi để dành hết. Tôi không biết để dành làm gì. Có lúc tôi nghĩ để lỡ tìm được con, con cần gì thì có. Có lúc tôi nghĩ để trả tiền cho người ta đưa tôi đi đếm thêm một bãi nữa.
– Anh để dành bao nhiêu?
Trượng nhìn cái máy. Rồi anh bật cười, cái cười ngắn, khàn.
– Ông hỏi số. Cô Ươm nói đúng. Ông chuyện gì cũng phải đo.
– Gù cần biết đủ không.
– Đủ. – Trượng nói. – Dư.
Quạt của ông Gù không kêu, vì ông không nói gì. Ông chỉ ngồi đó, hai đèn mắt vàng chanh nhìn người đàn ông. Rồi ông đưa bàn tay trái mềm ra, chậm, như người ta đưa ra một thứ mà không chắc người kia có nhận.
Trượng nhìn bàn tay. Màu kem ngả vàng, các ngón tròn tròn, đầu ngón có vết khâu chỉ.
Anh nắm lấy. Ấm.
Sáng hôm sau, Nhặt lướt ra gian bếp thì thấy Trượng đang nấu cháo. Lần này anh không cho thêm muối. Anh hỏi nó trước khi cho cá khô vào nồi. Anh hỏi nó bà Năm Lò nấu cháo cá khô thì để cá vào lúc nào, gạo sôi mấy dạo.
Rồi trong lúc nồi cháo hầm, anh kể cho nó nghe chuyện đêm qua. Không kể hết. Chỉ kể là anh đã trả lời công ty. Anh đọc cho nó nghe câu trả lời, ba câu, ngắn: Tôi không giao máy số 0447 cho kho thu hồi. Tôi đứng tên người giám hộ cho máy này và đề nghị tháo pin đồng vị theo luật. Mọi tranh chấp về tài sản, đề nghị công ty khởi kiện tôi.
Nhặt ngồi buộc vào ghế, cái túi cháo cầm trong tay mà chưa hút. Nó nhìn anh.
Nó định nói một câu. Nó đã định nói câu đó từ đêm ở mỏm đá Hòn Lăn, mà lúc nào định nói thì chữ đó cũng nghẹn ở cổ, nghe sai, nghe như mặc cái áo không phải của mình. Giờ nó cũng định nói, rồi nó lại không nói được. Nó nói câu khác.
– Cảm ơn chú.
Nó nói không gượng. Nó nghe giọng mình, và nó biết là không gượng.
Trượng không nói gì. Anh chỉ gật, rồi quay lại nồi cháo, khuấy, khuấy rất lâu, lâu hơn cần thiết.
Bảy ngày sau, ngày mười tháng Mười Một, Mũi Lao vào vùng kiểm soát của cảng Vành Ngọc.
Thanh Thổ giờ không còn là đồng xu. Nó chiếm gần hết ô kính, một quả cầu xanh ngọc khổng lồ, có những đám mây trắng xoắn như kem, những vệt nâu vàng là đất. Một đường viền mỏng màu xanh nhạt bao quanh rìa nó như hơi thở. Trăng ở bên cạnh, to bằng cái mâm, rỗ lốm đốm. Và giữa hai cái đó, sáng lấp lánh như một chuỗi hạt cườm buộc ngang bụng Thanh Thổ, là cảng Vành Ngọc.
Nửa giờ sau khi vào vùng kiểm soát, trong khoang hàng, ông Gù giật mạnh người lên giữa giờ tháo đai.
Nhặt đang ngồi cạnh ông. Nó thấy hai đèn mắt ông chớp trắng một cái. Một cái thôi. Rồi vàng lại. Rồi trắng. Rồi vàng. Cái chìa bảo trì sau gáy ông, quấn sợi chỉ đỏ ba nút, rung lên khe khẽ như có ai gõ vào nó từ bên trong.
– Ông Gù!
– Lệnh gọi về. – Ông Gù nói. Giọng ông đứt quãng. – Trạm phát của công ty ở cảng. Chìa cắm. Không qua được.
Đèn mắt ông trắng thêm một lần nữa, rồi vàng hẳn. Cái chìa thôi rung.
Nhặt ôm lấy cái chìa bằng cả hai tay, giữ chặt, như sợ nó tự rơi ra.
– Đừng rút. – Ông Gù nói.
– Con biết. Con không rút.
Lúc đó loa của tàu vang lên. Một giọng đàn bà, đều, rõ, nghe như đọc thông báo đã đọc cả nghìn lần.
"Tàu công vụ Mũi Lao. Đây là trạm hải quan cảng Vành Ngọc. Đề nghị tàu giữ nguyên vị trí chờ ở vòng neo số Chín. Nhân viên hải quan sẽ lên tàu kiểm tra người và hàng hóa trong ba mươi phút. Có đại diện của Công ty Khai Thác Ngoài Vành đi cùng."
— Hết chương 24 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe