AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Lần đầu thấy mưa

Ông Gù đưa con về đất · Chương 27/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 27: Lần đầu thấy mưa

Anh Bùi Khắc Huân tới trạm tháo pin lúc tám giờ sáng ngày mười hai tháng Mười Một, tay cầm tờ lệnh giữ máy còn thơm mùi mực dấu. Anh ta đứng sững ở cửa khi thấy cái tủ chì dán giấy niêm ở góc phòng.

Anh ta nhìn cái tủ chì. Nhìn ông Gù ngồi trên cái ghế băng dài sát vách, một sợi dây sạc mới cắm sau lưng. Nhìn chị Phên đang ăn mì gói, hai chân đung đưa trên bàn thép.

– Tháo rồi? – Anh ta hỏi.

– Tháo rồi. – Chị Phên nói. – Đêm qua. Ca đêm. Có giấy đủ. Anh muốn coi không?

Anh Huân đọc tờ giấy chị Phên đưa. Đọc kỹ, như đọc hợp đồng. Máy thu gom TG-9 số 0447, đã tháo pin đồng vị tại trạm có phép, pin đã niêm phong nộp nhà nước. Máy đang kiểm xạ ba mươi ngày. Người giám hộ: Mạc Quang Trượng. Nơi đặt máy sau khi xuống đất: nhà bà Nghiêm Thị Rỡ, xóm Bờ Đê, xã Cồn Gạo, tỉnh Đồng Sương.

Anh ta gấp tờ giấy lại, đưa trả. Rồi anh ta nhìn tờ lệnh của mình. Dòng thứ hai ghi rõ: áp dụng đối với máy mang pin đồng vị số 0447.

– Lệnh này không còn dùng được. – Anh ta nói, không với ai. Rồi anh ta gấp nó lại, cất vào cặp. – Vậy công ty sẽ giải quyết dưới Đất. Theo luật, tranh chấp về máy đã tháo pin thì giải quyết ở nơi đặt máy.

– Xã Cồn Gạo. – Trượng nói. Anh vừa đi mua cà phê về, đứng sau lưng anh Huân từ lúc nào.

– Dạ. – Anh Huân quay lại. – Hẹn gặp anh ở xã Cồn Gạo.

Anh ta chào từng người, chào cả ông Gù, rồi đi. Ra tới cửa, anh ta dừng lại, quay đầu nhìn Nhặt đang ngồi ở cái ghế đẩu cạnh ông Gù.

– Cháu đi đường cẩn thận. – Anh ta nói. Rồi anh ta đi thật.

Chị Phên nhìn theo, nhai mì.

– Chết cha. – Chị nói. – Thằng cha công ty mà cũng biết nói câu đó.

Gần bốn mươi ngày ở cảng Vành Ngọc là gần bốn mươi ngày Nhặt học đi lại.

Cảng có một cái vòng tập, ở tận vòng ngoài cùng, quay nhanh hơn chỗ khác, nặng y như dưới Đất. Người từ các trạm xa về phải ở đó vài tuần trước khi xuống tàu con thoi. Trong vòng tập có đường chạy, có cầu thang, có thanh vịn, có một bà bác sĩ già đeo kính lão ngồi ghi chép. Ngày đầu tiên Nhặt đi được ba trăm bước thì ngã. Ngày thứ năm nó đi được một vòng. Ngày thứ mười nó leo được cầu thang. Hai chân nó đau, đêm nào cũng đau, đau tới mức nằm co lại trong cái giường ở nhà trọ cảng mà khóc không ra tiếng. Trượng ngồi ở giường bên kia, không nói gì, chỉ lấy dầu xoa bóp cho nó, xoa chậm, vụng, như người lần đầu bế con nít.

Ngày thứ mười lăm, bà bác sĩ cắt chỉ bốn mũi khâu trên đầu nó. Ngày thứ hai mươi, nó chạy được.

Mỗi chiều nó ghé trạm của chị Phên. Ông Gù ngồi trên cái ghế băng dài sát vách, cái máy đo xạ áp lên lưng, sợi dây sạc cắm sau gáy. Ông không đi đâu được, nên con bé ngồi cạnh ông, kể chuyện vòng tập, kể bao nhiêu bước, kể bà bác sĩ đeo kính lão. Ông Gù đếm theo.

Có một chiều nó hỏi:

– Ông có nhớ cái gì mới mất không? Từ hôm đó tới giờ?

– Không. – Ông Gù nói. – Cái gì mất thì không biết là mất.

Quạt không kêu. Nhặt ngồi im một lúc.

– Vậy con kể. – Nó nói. – Con kể ông nghe hồi má mới lên trạm.

– Con chưa ra đời.

– Con nghe má kể. – Nó nói. – Má lên Bến Sắt tháng Mười năm hai trăm chín mươi bảy. Má đi tàu tiếp tế. Má ói suốt ba mươi ngày. Ngày đầu tiên ở trạm má đi lạc ở vòng Hai, đứng giữa hành lang khóc, thì có một cái máy thu gom gù lưng đi ngang qua. Má hỏi đường. Cái máy chỉ đường. Rồi cái máy đi theo má tới tận cửa phòng, vì má đi lộn hai lần.

Ông Gù nghe. Hai đèn mắt vàng chanh không chớp.

– Gù không nhớ. – Ông nói.

– Con biết. – Nhặt nói. – Con nhớ giùm.

Trong mấy tuần đó, Trượng làm giấy tờ. Hai cái tên của con bé đi qua bốn văn phòng, ba lần xét nghiệm gen lại, hai lần ký. Người ta hỏi con bé muốn mang tên nào. Nó nói cả hai. Người ta nói không được, giấy tờ chỉ ghi một tên. Nó nói vậy thì ghi Mạc Ngân Sa, nhưng con tên Nhặt. Người ta nhìn nhau, rồi ghi như vậy vào ô ghi chú. Công ty gửi văn bản thứ hai: Trượng bị đình chỉ công tác, chờ xử lý. Anh đọc xong thì xóa.

Bác Lẫm làm xong hồ sơ đóng trạm, xuống Đất trước, ngày mười tháng Chạp. Bác để lại cho Nhặt một tờ giấy ghi địa chỉ ở Bích Hải, nét chữ ngay hàng như văn bản. Bác nói, có chuyện gì thì gửi tin cho bác. Rồi bác sửa lại: không có chuyện gì cũng gửi.

Nhặt gửi tin về trung tâm bảo trợ ở Bích Hải cho thằng Kíp. Bây giờ tin đi chỉ mất mấy giây. Mấy giây sau thì có tin trả lời, một tràng chữ dài không chấm phẩy, toàn hỏi. Mày về chưa. Ông Gù còn không. Thằng cha công ty có bắt mày không. Tàu Mũi Lao chạy bao nhiêu ngày. Van Sẻ Đồng có nứt nữa không. Mày ngày nào xuống.

Nó cũng gửi một tin nữa về ủy ban xã Cồn Gạo, nhờ chuyển cho bà Nghiêm Thị Rỡ, xóm Bờ Đê. Nó nói con tới cảng Vành Ngọc rồi bà. Nó nói tháng Chạp con về.

Không có tin trả lời từ Cồn Gạo.

Năm giờ sáng ngày mười chín tháng Chạp, chị Phên rút sợi dây sạc ra khỏi gáy ông Gù.

– Đầy. – Chị nói. – Từ giờ đồng hồ chạy. Ba mươi giờ. Mà ổng đi đứng dưới Đất, nặng hơn ở đây, thì tính hai mươi lăm thôi cho chắc. Phải tới xưởng ông Sáu Đường trước sáu giờ sáng mai.

– Dạ.

– Ông Sáu Đường năm nay bảy mươi mấy rồi. – Chị nói. – Mấy chục năm không gặp. Mày nói với ổng con Phên học nghề hồi xưa gửi lời. Ổng nhớ. Ổng không nhớ tên tui, mà ổng nhớ tui làm cháy cái quạt trần của ổng.

Chị ôm Nhặt một cái, ôm mạnh, rồi đẩy ra.

– Đi đi. Tui ghét đứng tiễn.

Tàu con thoi rung suốt bốn mươi phút.

Nhặt ngồi buộc chặt vào ghế, hai tay nắm hai tay vịn, cái hộp thóc vỏ bình khí hàn kẹp giữa hai đầu gối, tấm vỏ sơn con sẻ buộc dưới gầm ghế. Ngoài ô cửa sổ nhỏ, bầu trời đổi màu. Đen. Rồi tím thẫm. Rồi xanh đậm như mực. Rồi xanh nhạt. Rồi trắng xóa, vì tàu đang chui qua mây. Lửa liếm ngoài mép cửa sổ một lúc, đỏ cam, rồi tắt. Rồi có tiếng gió, một thứ tiếng nó chưa bao giờ nghe, tiếng không khí cọ vào vỏ tàu, rít, gào, rồi êm dần, êm dần.

Ông Gù ngồi ở khoang hàng phía sau, buộc vào giá. Trượng ngồi cạnh con bé. Suốt bốn mươi phút anh không nói gì, mà tay anh đặt trên tay vịn ghế, sát tay nó, không chạm.

Tàu con thoi đậu xuống sân bến phía bắc thành phố Bích Hải lúc chín giờ hai mươi sáng.

Cửa mở.

Cái đầu tiên Nhặt thấy là màu xám. Một màu xám ướt, mềm, phủ lên mọi thứ: sân bến, mấy dãy nhà thấp phía xa, mấy cái cây, nó chưa bao giờ thấy cây thật to như vậy. Cái thứ hai nó nghe là một tiếng lộp độp, đều, dày, như có ai đổ cả bao thóc lên một tấm tôn rất rộng.

Cái thứ ba là mùi.

Không phải mùi dầu máy. Không phải mùi nước tái chế hơi tanh. Không phải mùi khét que hàn. Một thứ mùi mà nó không có chữ để gọi, ẩm, lạnh, như mùi tóc người ta mới gội, như mùi nhúm rau mầm vừa cắt. Như mùi đất trong mấy chậu cây kiểng ở chợ Hòn Lăn nó từng lén cúi xuống ngửi, mà to hơn, đầy hơn, ở khắp nơi.

Mưa.

Nhặt bước xuống cầu thang tàu. Chân nó nặng. Mỗi bước đều nặng. Nó vịn vào lan can. Nước mưa rơi xuống tay nó, lạnh, mịn, như ai lấy ngón tay vẽ lên da.

Ở chân cầu thang, một người nhân viên sân bến cầm cái ô to chạy tới, giơ ô lên che đầu cho nó. Nó lắc đầu.

– Con không cần. – Nó nói.

Nó bước ra giữa sân. Nó đứng đó. Nó ngửa mặt lên.

Mưa rơi lên mặt nó, lên tóc nó, lên cái áo khoác xanh cổ vịt của má, thấm vào hai vai. Mưa chảy vào mắt nó, cay cay. Mưa chảy vào miệng nó, nhạt, hơi ngòn ngọt, không tanh một chút nào. Nó đứng đó mà không biết vì sao nó cười, rồi không biết vì sao nó khóc, rồi không phân biệt được nữa, vì mặt nó ướt hết rồi.

Má nói mưa ở quê có mùi. Mùi đất. Mùi lá. Mùi rơm ướt.

Nó không biết mùi rơm ướt là mùi gì. Nhưng nó biết đây là mùi đất.

Có tiếng chân sắt nặng nề nện xuống sân bến, chậm, đều. Ông Gù tới đứng cạnh nó. Mưa rơi lên cái vỏ vàng đất tróc lở, chảy thành từng dòng dọc cái lưng gù, nhỏ tong tong từ đầu ngón tay mềm.

– Mưa. – Ông nói.

– Dạ.

– Mười ly một giờ. – Ông Gù nói. – Mưa vừa.

Nhặt cười. Nó cười tới mức phải vịn vào cánh tay ông. Rồi nó thấy ông Gù đứng im, đèn mắt ngước lên trời, không đo gì nữa. Mưa rơi vào hai cái đèn mắt vàng chanh, chảy xuống như nước mắt. Ông đứng như vậy rất lâu.

– Ông có nghe mùi không ông? – Nó hỏi.

– Gù không ngửi được. – Ông nói. – Mà Gù biết cái này. Gù không biết sao Gù biết.

Quạt không kêu.

Ở phía cổng sân bến, sau hàng rào thép, có một đứa con trai cao gầy như cây sào, tóc ướt mà vẫn dựng đứng như cái chổi, đang đu người trên hàng rào, hai tay vẫy, vẫy, vẫy. Bên cạnh nó là một người đàn bà mập cầm cái ô, cố kéo nó xuống.

Nhặt quên mất là chân mình nặng. Nó chạy. Nó chạy được mười bước thì vấp, Trượng chạy theo đỡ không kịp, nó ngã sấp xuống sân bến ướt, rồi nó bò dậy, chạy tiếp.

Thằng Kíp đã nhảy qua hàng rào, bất chấp tiếng la của người bảo vệ, chạy ra giữa sân. Hai đứa đứng lại trước mặt nhau, cách nhau một bước, thở hổn hển, ướt như chuột lột.

– Tao… tao chờ. – Thằng Kíp nói. Nói lắp như mọi khi. – Tao nói rồi. Tin đi bốn… bốn mươi mốt phút tao cũng chờ.

– Tin bây giờ đi có mấy giây. – Nhặt nói.

– Thì… thì tao chờ lâu hơn.

Hai đứa bắt tay. Lắc lên lắc xuống ba cái, như hai người lớn. Rồi thằng Kíp không chịu nổi nữa, nó ôm chầm lấy con bé, ôm như đứa con nít, rồi buông ra liền, đỏ cả mặt.

Rồi nó thấy ông Gù đứng giữa mưa sau lưng con bé, và nó há hốc miệng, mất luôn cả nói lắp.

– Ông Gù. Ông xuống được rồi.

– Phải. – Ông Gù nói.

Cô quản lý Nhà Chung cũ chạy tới, cầm ô, mùi dầu gió lẫn trong mùi mưa. Cô nhìn Nhặt, nhìn ông Gù, nhìn người đàn ông mặc đồ xám ướt sũng đứng sau lưng hai đứa. Cô đã nghe hết rồi, qua mấy cái tin của thằng Kíp. Cô không nói gì, chỉ đưa tay lên che miệng.

Trong túi áo Trượng, cái máy liên lạc rung lên.

Anh lấy ra, che mưa bằng bàn tay, đọc. Rồi anh đọc lại.

– Ủy ban xã Cồn Gạo. – Anh nói, nhỏ, chỉ đủ cho Nhặt nghe. – Đã nhận đơn của công ty. Tranh chấp tài sản máy số 0447. Sẽ có giấy mời hòa giải.

Nhặt nhìn anh.

– Còn bà ngoại con?

Trượng đọc tiếp dòng cuối.

– Cán bộ xã ghi: đã chuyển hai lời nhắn của cháu tới bà Nghiêm Thị Rỡ. Bà đã nghe. Bà không trả lời.

Mưa vẫn rơi lộp độp lên sân bến. Ông Gù đứng giữa mưa, đèn mắt vàng chanh. Trong ngực ông, cái đồng hồ pin đã chạy được bốn giờ hai mươi phút.

— Hết chương 27 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →