AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Bốn ký

Ông Gù đưa con về đất · Chương 2/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Bốn ký

Văn phòng Ban Đóng Trạm có một con máy lau nhà tròn như cái nồi cơm, và nó chạy tới đụng vào mũi giày Nhặt trước khi có người nào hỏi con bé tới đây làm gì.

– Chổi. Lùi. – Một giọng đàn ông nói.

Con máy lùi lại, kêu tít tít hai tiếng như xin lỗi, rồi quay một vòng tại chỗ và chạy về nằm dưới gầm cái bàn sắt ở cuối phòng. Sau cái bàn là bác Lẫm.

Cả trạm ai cũng biết mặt bác Lẫm. Bác là người ký giấy cho thợ lên ca, cho tàu cập bến, cho người chết được để tro trong tường. Bác gầy, tóc bạc gần hết, hai má hóp, đeo cặp kính gọng nhựa nứt một bên dán keo. Cái áo khoác đồng phục công ty cài nút tới tận cổ, mà nhăn như người ta đã ngủ trong nó.

Trên bàn bác có ba chồng hồ sơ, hai cái ly trà đã nguội, và một ổ bánh bột đậu cắn dở.

– Con là con của Ươm thợ hàn. – Bác nói. Không phải hỏi.

– Dạ.

– Ngồi đi.

Nhặt không ngồi. Nó đứng giữa phòng, hai tay nắm chặt quai túi vải. Nó đã tập câu này suốt đường từ vòng Hai lên vòng Một, vậy mà tới lúc đứng trước bác Lẫm, câu ấy tuột đâu mất. Chỉ còn cái ý chính.

– Con xin cho ông Gù đi theo con về Đất.

Bác Lẫm tháo kính ra. Bác lấy vạt áo lau kính, lau rất lâu, rồi đeo lại.

– Con biết ông Gù của con nặng bao nhiêu không?

– Dạ, một trăm tám mươi hai ký. Tính dưới Đất.

– Con biết chở một ký từ đây về Đất tốn bao nhiêu không?

Nhặt không biết. Bác Lẫm kéo một tờ giấy trong chồng hồ sơ ra, xoay lại cho nó đọc, nhưng nó không đọc. Bác đành nói:

– Hai triệu một trăm nghìn. Một ký. Một trăm tám mươi hai ký là ba trăm tám mươi hai triệu. Bằng tiền một cái vé tàu khách hạng thường cho một người lớn. Má con làm thợ hàn bậc cao nhất, lương chín triệu một tháng. Con tính đi, má con phải làm bao nhiêu năm, không ăn không uống, mới đủ tiền chở ông Gù về?

Nhặt tính. Nó tính nhanh lắm, ông Gù dạy nó tính từ hồi bốn tuổi bằng cách đếm ốc vít. Ba trăm tám mươi hai chia chín. Hơn bốn mươi hai tháng. Gần ba năm rưỡi.

– Công ty không bỏ ra ba trăm tám mươi hai triệu để chở về một cái máy cắt sắt năm mươi mốt tuổi. – Bác Lẫm nói tiếp, giọng không gắt, chỉ mệt. – Máy đời mới thì nhẹ hơn, chạy pin thường, về tới Đất còn bán được. Máy đời cũ thì không ai mua. Mà trong danh sách lò số Hai không phải chỉ có ông Gù của con. Có bốn mươi bảy cái.

– Con có bốn ký.

– Gì?

– Mỗi người được mang bốn ký đồ riêng. – Nhặt nói. – Con không mang gì hết. Con cho ông Gù bốn ký của con. Rồi bà Năm Lò cho thêm bốn ký. Thằng Kíp ở Nhà Chung cho bốn ký. Con đi xin cả trạm, mỗi người một ký thôi cũng được.

Bác Lẫm nhìn nó. Lần đầu tiên từ lúc nó bước vào, bác nhìn thẳng vào mặt nó, không nhìn qua nó như nhìn một cái hồ sơ nữa.

– Bốn ký đồ riêng là để mang áo quần, mang hình người nhà, mang cái gì mình thương. – Bác nói chậm. – Không cộng dồn được. Không chuyển cho nhau được. Không đổi thành máy được. Quy định nó viết vậy. Bác không phải người viết quy định, con. Bác chỉ là người đọc nó lên.

Nhặt cắn môi.

Dưới gầm bàn, con máy lau nhà kêu tít một tiếng, chạy ra đụng nhẹ vào ống quần bác Lẫm, rồi đứng im như con chó già nằm cạnh chân chủ. Trên lưng nó có một vết sơn trắng đã mờ, nét vụng như con nít vẽ, hình một cái chổi.

– Con Chổi này bác có từ năm bác hai mươi tám tuổi. – Bác Lẫm nói, không nhìn xuống. – Hồi đó bác mới lên trạm, ở một mình một phòng ở vòng Ba. Nó là máy lau nhà cũ loại rẻ nhất, công ty phát lại cho mỗi phòng một cái. Mấy chục năm, phòng khác thay máy mới hết. Bác không thay. – Bác ngừng một chút. – Nó bốn mươi bốn tuổi rồi.

Nhặt nhìn con máy tròn. Nó nhớ lại cái danh sách màu cam. Có một dòng nó đọc lướt qua mà không để ý, vì không phải TG-9: "LN-2, số 1188. Lò số Hai."

– Bác cũng để nó vô lò hả bác?

Bác Lẫm không trả lời. Bác cúi xuống chồng hồ sơ, rút ra một tờ khác, một tờ giấy mỏng in chữ xanh.

– Có chuyện này bác phải nói với con. Bác định chiều nay qua Nhà Chung nói, mà con đã tới thì bác nói luôn.

Giọng bác thay đổi. Không còn là giọng đọc văn bản nữa. Nó trầm xuống, chậm hơn, như giọng người ta đi đưa tin buồn mà không biết cầm cái tin ấy bằng tay nào cho đỡ đau.

– Theo quy định, trẻ không có cha mẹ thì về Trung tâm bảo trợ ở Bích Hải. Nhưng nếu còn ông bà, cô chú ruột dưới Đất, thì trung tâm phải hỏi người nhà trước. Hồ sơ của má con ghi quê ở xã Cồn Gạo, tỉnh Đồng Sương, mẹ ruột là bà Nghiêm Thị Rỡ, còn sống. Tuần trước bác đã nhờ trung tâm gửi tin xuống ủy ban xã Cồn Gạo, nhờ cán bộ xã tới tận nhà bà ngoại con, hỏi bà có nhận nuôi cháu không.

Nhặt không nói gì. Tim nó đập lên tới cổ.

Bà ngoại. Má ít khi kể về bà ngoại, mà mỗi lần kể thì kể bằng một giọng lạ, nửa cười nửa như đang giận ai. Má nói bà ngoại con dữ lắm, cả làng sợ, con chó nhà hàng xóm thấy bà đi qua là cụp đuôi. Má nói bà nấu xôi nếp Cánh Sẻ ngon nhất làng, mà nấu xong không cho ai ăn trước bàn thờ. Má nói bà ngoại không thương má. Rồi má nói, nhỏ hơn, bà ngoại thương má nhất làng.

Nhặt chưa từng thấy mặt bà. Má không có tấm hình nào.

– Sáng nay tin trả lời lên tới. – Bác Lẫm nói. – Cán bộ xã có tới. Bà ngoại con có nghe. Đây là câu bà trả lời, cán bộ xã ghi lại nguyên văn.

Bác không đưa tờ giấy cho nó. Bác đọc. Bác đọc rõ từng chữ, không thêm không bớt, như bác vẫn đọc mọi thứ.

– "Tôi không có cháu nào ở trên đó."

Trong phòng im tới mức Nhặt nghe được tiếng con Chổi rì rì dưới gầm bàn.

– Có thể bà không hiểu. – Bác Lẫm nói thêm, nhanh hơn, như sợ con bé bật khóc ngay trước mặt mình. – Có thể cán bộ xã nói không rõ. Tin đi xuống đi lên mất gần tiếng rưỡi, chữ nghĩa qua mấy tay. Trung tâm sẽ hỏi lại. Dù sao con cũng được về Bích Hải, ở trung tâm có trường học, có giường riêng…

– Bà con nói không có cháu. – Nhặt nói.

– Con…

– Má con kể với bà về con chưa bác?

Bác Lẫm há miệng, rồi ngậm lại. Bác không biết.

Nhặt cúi chào bác, đúng như má dạy, cúi sâu, hai tay để trước bụng. Rồi nó đi ra. Ra tới cửa thì nó quay lại.

– Bác ơi. Vậy còn tro của má con?

Bác Lẫm hiểu ngay con bé hỏi gì. Trong danh sách màu cam, ở đoạn cuối cùng, có một dòng nhỏ: Hũ tro lưu giữ tại tường tro của trạm, theo lệ của Công ty, sẽ được tiễn vào bão Lão Đồng trong lễ đóng trạm. Thân nhân có nhu cầu riêng xin liên hệ Ban Đóng Trạm.

– Con muốn mang về hả?

– Dạ.

– Một hũ tro nặng chừng hai ký rưỡi. – Bác nói. – Bốn ký của con thì đủ.

– Dạ.

– Nhưng phải có người lớn trong gia đình ký nhận. Trẻ chưa đủ mười sáu tuổi không đứng tên nhận tro được. Quy định…

Bác không nói hết câu. Bác thôi nói, nhìn con bé, rồi nhìn xuống con Chổi.

Nhặt đi ra hành lang vòng Một, đèn trần tắt một nửa cho đỡ tốn điện. Qua khung cửa sổ tròn, con bé đứng nhìn con mắt ông Đồng một lúc. Rồi nó đi tiếp, không chạy.

Chiều hôm đó ở Nhà Chung, mười hai đứa trẻ còn lại của trạm, từ đứa ba tuổi tới đứa mười lăm, ngồi nghe cô quản lý đọc quy định. Cô là một người đàn bà mập, hiền, lúc nào cũng có mùi dầu gió. Đọc xong, cô phát cho mỗi đứa một cái túi vải mới, đúng loại đựng được bốn ký.

Thằng Kíp ngồi cạnh Nhặt. Nó mười hai tuổi, cao gầy như cây sào, tóc dựng đứng, ba nó chết trong một vụ xì khí ở vòng Ba năm năm trước. Thằng Kíp mê tàu tới mức nhắm mắt kể được tên từng con tàu cập Bến Sắt trong mười năm, tàu nào động cơ gì. Nó hồi hộp là nói lắp.

– Mày… mày định bỏ gì vô túi? – Nó hỏi.

– Hũ tro của má tao.

– Không… không cho đâu. Phải có người lớn ký.

– Tao biết.

– Còn… còn ông Gù?

Nhặt không trả lời. Thằng Kíp nhìn nó, rồi nhìn xuống cái túi vải gấp gọn trên đùi, rồi không hỏi nữa.

Tối, Nhặt không ngủ ở Nhà Chung.

Từ hồi má mất, đêm nào con bé cũng vậy. Nó chờ cô quản lý soi đèn qua các giường, chờ tiếng cửa phòng cô đóng lại. Rồi nó ôm cái gối nhỏ, đi chân không dọc hành lang vòng Ba, xuống hai tầng cầu thang sắt, vào cái xưởng sửa máy cũ ở khu hầm. Trong xưởng có một dãy chỗ sạc cho máy thu gom. Hồi trạm đông, đêm nào cũng có hai chục cái TG-9 nằm sạc ở đây, đèn mắt mờ như hai chục ông già ngủ gục. Giờ chỉ còn ba cái. Ông Gù không cần sạc vì ông chạy pin đồng vị, vậy mà đêm nào ông cũng về đứng ở góc thứ mười bốn, chỗ má đã trải một tấm nệm cũ dưới chân ông.

Cô quản lý biết. Hồi đầu cô có xuống kéo Nhặt về hai lần. Lần thứ ba, cô đứng ở cửa xưởng nhìn con bé ngủ co trong lòng cái máy gù lưng, tay nắm bàn tay mềm. Cô đứng đó lâu lắm, rồi tắt đèn pin, đi về.

Đêm nay ông Gù ngồi bệt xuống sàn, lưng tựa vào tường, hai chân sắt duỗi ra. Nhặt nằm trên tấm nệm, gối đầu lên đùi ông. Đùi ông cứng như cái cột, nhưng nó quen rồi. Bàn tay mềm đặt lên vai nó, ấm.

– Bà ngoại con nói không có cháu nào ở trên đó. – Con bé nói vào bóng tối.

– Gù biết. – Ông Gù nói. – Sáng nay bác Lẫm có gọi Gù lên hỏi chuyện nhà cô Ươm.

– Vậy mà ông cũng không nói với con.

– Gù tính để mai.

Quạt không kêu. Thật.

– Má có kể với bà về con không ông?

Ông Gù im rất lâu. Nhặt nghe trong ngực ông cái tiếng lách cách khẽ, như ai lần chuỗi hạt. Rồi ông nói:

– Cô Ươm không gửi thư về nhà, từ năm lên trạm.

– Một lần cũng không?

– Một lần cũng không.

Quạt không kêu. Nhặt nằm im nhìn lên trần xưởng, nơi có mấy cái đèn báo đỏ chớp chậm, chớp đều, như sao. Hồi bé má hay chỉ lên mấy cái đèn đó, nói kia là sao Rua, kia là sao Cày, kia là sao Hôm. Sau này ông Gù mới nói đó là đèn báo quá nhiệt của máy hút ẩm. Má cười, nói kệ, sao của con thì con đặt tên.

Con bé bắt đầu hát. Không to. Chỉ đủ cho hai người nghe.

Sẻ ơi, sẻ nhỏ ngủ đi,
Ngoài kia gió lớn, bay chi một mình.
Mẹ ru cho sẻ ngủ lành,
Mai kia sẻ lớn, sẻ thành cánh xa.
Cánh xa nhớ lối về nhà,
Có bờ lúa chín, có ba, có mình.

Đó là bài ru má hát cho nó từ hồi nó còn chưa biết gì. Má nói má tự đặt. Hồi nhỏ Nhặt có hỏi sao trong bài có "có ba" mà nó không có ba, má nói bài hát thì phải vậy, bài ru nào cũng phải đủ người. Nhặt thuộc bài ấy trước cả khi thuộc tên mình. Má mất rồi, nó vẫn hát mỗi đêm cho chính nó nghe. Giọng nó không giống giọng má chút nào, nhưng hát xong thì ngủ được.

Đêm nay hát xong, nó vẫn không ngủ được.

– Ông Gù.

– Gì con.

– Con không đi Bích Hải đâu. Con không ở trung tâm đâu. Ông mà vô lò thì con cũng nhảy vô lò.

– Con nói bậy.

– Con nói thiệt.

Ông Gù không nói gì. Bàn tay mềm trên vai con bé hơi siết lại. Rất nhẹ thôi. Ông chưa bao giờ siết mạnh. Bàn tay ấy được làm ra để bế những thứ dễ vỡ.

Rồi ông Gù đứng dậy. Mười một năm nay, chưa đêm nào ông đứng dậy khi con bé đã nằm xuống.

Nhặt ngồi bật dậy, ôm cái gối. Ông Gù đứng giữa xưởng tối, cái thùng gom sau lưng in một cái bóng gù lên tường, hai đèn mắt vàng chanh sáng hơn mọi khi. Ông quay đầu nhìn về phía hai cái máy TG-9 kia đang nằm sạc, như sợ tụi nó nghe được. Rồi ông cúi xuống.

– Cô Ươm có dặn Gù một chuyện. – Ông nói. – Dặn từ hồi cô còn đi làm được. Cô dặn: nếu một ngày trạm đóng, mà cô không còn, thì Gù phải đưa con xuống hầm mười bốn.

– Hầm mười bốn? – Nhặt nhíu mày. – Hầm đó bỏ hoang mà ông. Hầm đó toàn xác tàu chờ lò. Má cấm con xuống đó.

– Phải. Cô Ươm cấm.

Ông Gù chìa bàn tay mềm ra.

– Vì dưới đó có một thứ cô để lại cho con.

— Hết chương 2 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →