Chương 30: Bà Rỡ
– Của má con. – Nhặt nói. – Con ruột của má.
Bà Rỡ không nói gì. Ngọn đèn dầu trên tay bà lụi thêm một chút, khói đen bốc lên thẳng.
Lúc đó là gần nửa đêm. Ba người đứng dưới chân cầu thang đá của cống Mỏ Cò, gió biển thổi lạnh, cái máy gù lưng đứng trên mặt cống sau lưng họ. Nhặt không định nói ở đây. Nó định vào nhà, ngồi xuống, kể từ từ. Nhưng bà Rỡ hỏi, và nó không nói dối được. Nó đã học được cái đó từ ông Gù. Nói dối thì quạt kêu. Mà nó không có cái quạt nào để kêu thay nó, nên nó phải tự nói thật.
– Má sinh em bé đêm mười bốn tháng Tư năm ba trăm. – Nó nói. – Ở trên trạm. Em bé không thở. Má không đặt tên. Má chỉ khắc ngày lên hũ.
Bà Rỡ đứng im.
– Còn con, – Nhặt nói, nhỏ hơn, – con không phải cháu ruột của bà. Con là con của người ta. Ông Gù vớt con trong một cái nôi ở ngoài vũ trụ, sáu ngày sau. Má nuôi con. Ba con là chú này.
Nó chỉ Trượng. Trượng đứng im, hai tay buông thõng, như hôm ở cầu tàu đá Hòn Lăn trước mặt cả cái chợ.
Bà Rỡ nhìn anh một cái. Rồi bà nhìn lại con bé. Rồi bà nhìn xuống cái áo khoác xanh cổ vịt trong tay nó, nơi hai cái hũ gốm trắng thò ra.
– Đưa đây. – Bà nói.
Nhặt không hiểu bà muốn cái gì. Bà đưa tay ra. Không phải lấy hũ của má. Bà lấy cái hũ nhỏ.
Bà cầm nó trong lòng bàn tay nhăn nheo, giơ lại gần ngọn đèn dầu, nheo mắt đọc mấy chữ khắc vụng. Bà đọc lâu, vì mắt kém. Rồi bà ôm cái hũ nhỏ vào ngực, quay lưng, đi về nhà, không nói một chữ.
Ba người đi theo bà. Ông Gù đi sau cùng.
Cánh cổng tre không cài then nữa.
Nhà bà Rỡ có ba gian. Gian giữa có cái bàn thờ, trên bàn thờ có một tấm hình đen trắng của một người đàn ông trẻ, đội nón cối, cười. Gian bên trái là cái giường tre bà ngủ. Gian bên phải chất lúa, chất cuốc xẻng, có một cái cối xay lúa bằng tre mà Nhặt chỉ thấy trong mấy cái tranh dán tường ở nhà ăn bà Năm Lò.
Bà Rỡ đặt cái hũ nhỏ lên bàn thờ, cạnh tấm hình người đàn ông trẻ. Bà đứng nhìn nó một lúc. Rồi bà quay lại, chỉ cái chõng tre ở gian giữa.
– Ngồi.
Nhặt ngồi. Trượng ngồi xuống cái ghế đẩu ở góc. Ông Gù không vào được cửa vì cái lưng gù cao quá, ông ngồi bệt ngoài hiên, quay lưng vào nhà, cái mảng sơn bị chà tróc dưới vai trái lộ ra dưới ánh đèn dầu, ba chữ khắc vụng.
Bà Rỡ ngồi xuống cái giường tre đối diện con bé. Hai đầu gối bà cách hai đầu gối nó chưa tới một gang tay, y như hồi bà Năm Lò kéo nó vào sau bếp.
– Kể. – Bà nói.
Nhặt kể.
Nó kể từ đầu. Từ cái đêm má sinh em bé. Từ cái nôi số bảy. Từ cái tên Nhặt. Rồi Bến Sắt. Cái lồng kính số Ba. Cháo cá khô của bà Năm Lò. Cái bàn tay mềm má hàn vào cho ông Gù. Má bệnh mà giấu. Má mất. Cái tàu Sẻ Đồng trong hầm mười bốn. Lò số Hai. Hòn Lăn. Nó kể mất gần ba tiếng. Có lúc nó khóc, rồi nó lau nước mắt bằng tay áo, rồi nó kể tiếp. Bà Rỡ không ngắt lời một lần nào. Bà chỉ ngồi đó, hai tay đặt trên đùi, mắt nhìn con bé, cái mặt nhăn nheo không đổi.
Tới khi nó kể xong thì gà đã gáy lần đầu.
– Cán bộ xã có tới hỏi bà. – Nhặt nói, câu cuối cùng. – Hồi tháng Bảy. Bà nói bà không có cháu nào ở trên đó.
Bà Rỡ không trả lời ngay.
– Ừ. – Bà nói. – Tao nói vậy.
– Sao bà nói vậy?
Bà Rỡ nhìn ra hiên, nhìn cái lưng gù.
– Tao không biết nó có con. – Bà nói. – Mười bốn năm nó không gửi một chữ. Thằng cán bộ xã tới, đọc cái giấy, nói con Ươm mất rồi, có một đứa con gái mười một tuổi trên trạm, hỏi tao có nhận không. Tao nghe chữ "mất" thì không nghe chữ gì nữa. – Bà ngừng lại. – Tao tưởng xã hỏi lộn. Mà tao cũng nói vậy cho đau nó. Nó chết rồi tao còn muốn làm nó đau. Mày hiểu không.
Nhặt không hiểu. Mà nó gật đầu.
– Rồi tháng Chín có lời nhắn của mày. – Bà nói. – Thằng cán bộ xã đem cái máy nhỏ xuống, bấm cho tao nghe. Giọng con nít. Con là Nhặt. Con là con của má Ươm. Bà đừng đóng cổng.
Bà im. Ở ngoài hiên, ông Gù không động đậy.
– Tao nghe hai lần. – Bà nói. – Rồi tao đuổi nó về. Rồi tao đóng cửa ngồi tới tối.
– Bà Hai Sen nói bà ra đứng cổng mỗi sáng.
– Con mẻ Hai Sen nhiều chuyện. – Bà Rỡ nói. Rồi bà nói thêm, không nhìn ai: – Tao đứng coi nước.
Trượng ngồi ở góc, cúi đầu, hai bàn tay đan vào nhau. Nhặt nhìn bà ngoại. Không. Bà Rỡ. Nó không biết gọi là gì nữa. Bà ngoại của nó là bà ngoại của một cái hũ bằng nắm tay trên bàn thờ. Bà ngoại của nó, theo máu, thì nó không biết ở đâu, nó chưa hỏi ba.
– Bà ơi. – Nó nói. – Con không phải cháu ruột bà. Bà có còn muốn…
– Câm. – Bà Rỡ nói.
Nhặt câm.
– Con Ươm nuôi mày mười một năm. – Bà nói. – Nó ôm mày, nó cho mày bú, nó hát cho mày ngủ. Nó sửa cái tàu sáu năm để chở mày về. Nó chết rồi mà còn sai mày đem nó về đây xin lỗi tao. Mày nói mày không phải cháu tao.
Bà đứng dậy. Bà đi tới cái bàn thờ, nhìn cái hũ nhỏ.
– Cái đứa trong hũ này mới là máu mủ tao. – Bà nói. – Tao chưa thấy nó lần nào. Nó chưa khóc tiếng nào. Mà tao thương nó. Tao thương nó từ hồi nãy, đứng dưới chân cống. Vậy mày nói coi, mày đứng trước mặt tao, mày nói chuyện, mày cãi, thì mày là cái gì.
Nhặt không nói được.
Trời còn tối, Trượng với ông Ba Rạng đã chở ông Gù lên xưởng ông Sáu Đường sạc pin. Đi mất một tiếng, sạc mất tám tiếng, về mất một tiếng. Ông Sáu Đường không cho mượn cái bộ sạc. Ông nói nó năm chục tuổi rồi, đi đường xa là chết. Trượng không năn nỉ. Anh chỉ tính trong đầu: ngày nào cũng phải đi một chuyến, mười tiếng mỗi chuyến.
Xế chiều ngày hai mươi mốt, khi ông Gù đã về ngồi ngoài hiên, Nhặt mở hộp thóc trên cái chõng tre gian giữa.
Chưa tới Tết. Má dặn mỗi năm chỉ mở một lần. Năm nay nó đã mở một lần, cái hôm trạm có lệnh đóng cửa. Nó biết vậy. Nó vẫn mở.
Nó vặn cái nắp có khắc con chim sẻ đứng trên cọng lúa cong. Bên trong là lớp giấy dầu, rồi cái túi vải nhỏ buộc sợi chỉ đỏ se ba sợi có kim tuyến vàng ở giữa. Nó cởi chỉ, nghiêng túi, đổ ra tờ giấy dầu trải trên chõng.
Bà Rỡ ngồi đối diện. Bà không đếm. Bà cúi sát xuống, mắt kém, nhặt lên một hạt, đưa lại gần mắt, xoay qua xoay lại dưới ánh sáng hắt vào từ cửa. Hạt thóc nhỏ, dài, vỏ vàng sẫm như mật ong để lâu. Đầu hạt có một vệt nâu, xiên xiên, giống hệt một cái cánh chim sẻ xếp lại.
– Cánh Sẻ. – Bà nói.
Ông Gù ngồi ngoài hiên. Ông không quay đầu lại, mà ông nói vọng vào:
– Hai trăm mười bốn.
Bà Rỡ quay ra.
– Sao mày biết? Mày có đếm đâu.
– Gù đếm bằng tiếng. Lúc con bé đổ ra. Mỗi hạt rơi một tiếng.
Bà Rỡ nhìn cái lưng gù ngoài hiên. Rồi bà nhìn xuống hạt thóc trong tay mình. Rồi bà đặt nó xuống lại tờ giấy dầu, rất nhẹ, như đặt một cái gì dễ vỡ.
Và bà khóc.
Không ra tiếng. Không lau mặt. Bà chỉ ngồi đó, hai tay đặt hai bên tờ giấy dầu, nước mắt chảy dọc theo mấy nếp nhăn trên má, nhỏ xuống mấy hạt thóc. Nhặt nhìn bà. Nó không biết làm gì. Ngoài cửa, bà Hai Sen đứng nhìn qua hàng dâm bụt, một tay che miệng. Sau này bà Hai Sen kể với Nhặt, ở cái xóm Bờ Đê này chưa ai thấy bà Rỡ khóc. Chồng bà mất, bà không khóc. Con Ươm bỏ đi, bà không khóc. Đêm cán bộ xã đọc giấy báo con Ươm mất, bà đóng cửa, cả xóm nghe trong nhà im re tới sáng.
Nhặt nhớ ra một chuyện. Nó nói, nhỏ:
– Bà ơi. Bà Năm Lò dặn con nói với bà một câu. Bà Năm Lò là bạn của má trên trạm. Nấu cháo cho cả trạm ăn. Bà Năm dặn: tới nhà nhớ nói bà Rỡ là con Ươm có bạn trên trạm.
Bà Rỡ ngẩng lên.
– Bạn hả.
– Dạ. Bà Năm Lò. Bác Lẫm. Ông Gù. Thằng Kíp. Cả trạm biết má.
Bà Rỡ không nói gì. Bà gật đầu, chậm, một cái. Rồi bà lau mặt bằng vạt áo bà ba, một lần, mạnh, như lau cái bàn.
Rồi bà quay sang Trượng đang đứng ở cửa.
– Còn mày. – Bà nói, giọng gắt lên. – Mày đứng đó làm gì. Chân mày dính bùn từ hôm qua tới giờ không rửa. Ra cầu ao rửa. Rồi ra sau hè xách cho tao hai thùng nước. Đàn ông gì mà đứng như cột nhà.
Trượng đứng sững. Rồi anh đi ra cầu ao.
Bà Rỡ quay sang Nhặt.
– Còn mày. Tóc tai như ổ quạ. Đi tắm. Tắm xong thì vô bếp nhóm lửa cho tao.
– Nhóm lửa làm chi bà?
– Nấu xôi. – Bà Rỡ nói. Bà đứng dậy, đi vào gian bên phải, lôi ra một cái nồi đồng to và một cái bao nhỏ. – Nếp thường. Cánh Sẻ thì không có. Mà nhà có khách thì phải có xôi.
Nhặt ngồi im trên chõng.
Con cứ đứng đó cho bà la. Bà la xong bà sẽ đi nấu xôi.
Nó cúi xuống, nhặt từng hạt thóc bỏ vào túi vải, buộc sợi chỉ đỏ, gấp giấy dầu, vặn nắp. Tay nó run, vặn trật ren hai lần mới vô.
Sáng ngày hai mươi hai, lúc Nhặt đang học bà Rỡ cách quét sân bằng chổi rơm, có tiếng xe máy dừng trước cổng.
Một người đàn bà chừng bốn mươi, đội nón lá, mặc áo khoác xanh của ủy ban xã, dắt xe vào sân. Chị cúi chào bà Rỡ, gọi bà là "bác Rỡ", rồi chị nhìn cái máy gù lưng đang ngồi dưới gốc mít, rồi chị nhìn Trượng.
– Em là Đàm Thị Mến, cán bộ tư pháp xã. – Chị nói. – Anh là anh Mạc Quang Trượng?
– Dạ.
Chị lấy trong cặp ra một tờ giấy, đưa cho anh.
– Giấy mời hòa giải. Ngày hai mươi sáu tháng Chạp, tám giờ sáng, ở trụ sở ủy ban xã. Về tranh chấp tài sản giữa Công ty Khai Thác Ngoài Vành và anh. – Chị nói. Rồi chị ngập ngừng, nhìn bà Rỡ, nhìn con bé, rồi nói nốt. – Công ty còn có đơn xin tạm giữ máy ở trụ sở xã, kể từ ngày hòa giải cho tới khi có kết quả.
— Hết chương 30 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe