AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Đêm giấu chim

Ông Gù đưa con về đất · Chương 6/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Đêm giấu chim

– Bốn mươi hai cộng một là bốn mươi ba. – Thằng Kíp nói, mặt đỏ gay. – Mà bốn mươi ba bớt một là bốn mươi hai. Vậy… vậy mình bớt một.

– Bớt cái gì? – Nhặt hỏi.

– Bớt một cái xác. Mình… mình ghép hai cái xác nhỏ lại thành một.

Lúc đó là mười một giờ đêm ngày hai mươi tám tháng Bảy. Ba người ngồi chụm đầu trong buồng lái Sẻ Đồng, đèn chỉ bật một ngọn nhỏ cho đỡ lộ. Ông Gù ngồi bệt dưới sàn vì không vừa ghế, đầu ông gần đụng trần. Trên màn hình là cái bản đồ hầm mười bốn thằng Kíp chép trộm được từ cái máy ở phòng trực xưởng sửa máy, mỗi xác tàu là một chấm đỏ có số. Bốn mươi hai chấm đỏ. Và một chỗ trống ở góc trong cùng, nơi Sẻ Đồng đang nằm dưới tấm bạt.

Ông Gù nhìn cái bản đồ. Rồi ông nhìn thằng Kíp.

– Hai cái nào?

Thằng Kíp chỉ. Chấm số hai mươi sáu và chấm số hai mươi bảy. Hai cái xác tàu con thoi chở hàng nhỏ, loại tàu chở thư, mỗi cái chỉ dài cỡ một chiếc xe khách, nằm sát nhau ở giữa hầm.

– Hai cái này giống nhau. Cùng đời, cùng loại. Ông Gù hàn mũi cái này vào đuôi cái kia, nhìn như một chiếc tàu dài bị gãy làm đôi. Rồi… rồi mình đem cái thẻ chờ lò của số hai mươi bảy, treo qua tấm bạt của Sẻ Đồng. Vậy là hầm vẫn có bốn mươi hai cái. Đếm kiểu gì cũng ra bốn mươi hai.

Nhặt nhìn thằng Kíp như nhìn một người lạ. Thằng Kíp lé, thằng Kíp nói lắp, thằng Kíp năm ngoái thi toán ở Nhà Chung đứng bét. Vậy mà.

– Mày nghĩ ra hồi nào?

– Hồi… hồi chiều. Lúc ngồi chà chân trong phòng tắm.

Ông Gù đứng dậy, đầu cộc vào trần một cái.

– Gù hàn được. Bảy tiếng.

– Ổng xuống lúc tám giờ. – Nhặt nói. – Giờ là mười một giờ. Còn chín tiếng.

– Còn tám tiếng năm mươi hai phút. – Ông Gù sửa.

Đêm đó dài nhất trong đời Nhặt cho tới lúc đó.

Ông Gù kéo hai cái xác tàu thư lại sát nhau bằng cáp, chậm, từng chút một. Ở chỗ trọng lực nhẹ này, đẩy mạnh quá là cả khối sắt hai chục tấn cứ thế trôi đi, không phanh lại được. Thằng Kíp đứng ở cái tời, kéo dây theo hiệu đèn mắt ông Gù nháy. Nhặt cầm hai cái đèn pin soi cho ông. Khi mũi xác này chạm đuôi xác kia, ông Gù bật mỏ cắt, và tia lửa xanh lét bắt đầu bò dọc mối nối.

Tiếng hàn rít trong khoang rộng. Khói khét lẹt bốc lên, quyện vào bụi sắt đỏ, lơ lửng thành một đám mây mỏng dưới trần. Nhặt kéo khăn bịt kín mũi miệng. Mắt nó cay xè. Nó không dám nhìn thẳng vào tia hàn, chỉ nhìn cái bóng gù của ông Gù in lên vỏ xác tàu, lắc lư theo nhịp tay.

Tới ba giờ sáng thì ông hàn xong mối chính. Hai cái xác tàu thư giờ thành một cái xác dài, vẹo ở giữa như con sâu bị bẻ.

Thằng Kíp chạy đi tháo tấm thẻ chờ lò số hai mươi bảy. Nhặt với ông Gù quay về góc trong cùng. Chiếc Sẻ Đồng vẫn nằm dưới tấm bạt bạc. Nhưng tấm bạt bạc thì quá mới, quá sạch so với cả cái hầm toàn sắt gỉ này. Nhìn vào là biết có người chăm.

– Phải làm nó cũ đi. – Nhặt nói.

Ông Gù gật. Ông đi ra giữa hầm, cắt mấy tấm vỏ gỉ từ những xác tàu nát nhất, mang về, hàn tạm lên trên tấm bạt. Chỗ này một tấm, chỗ kia một tấm, như những miếng vá trên áo người ăn mày. Nhặt lấy hai tay vốc bụi sắt đỏ dưới sàn, rắc lên. Bụi bám vào tấm bạt, bám vào tay nó, bám vào mặt, vào tóc. Thằng Kíp quay về, treo tấm thẻ chờ lò số hai mươi bảy lên chỗ cao nhất. Rồi nó lôi trong túi ra thêm một thứ.

Một tấm biển nhỏ màu vàng, sơn đen một hình tam giác có dấu chấm than ở giữa.

– Biển… biển báo xì khí. – Nó nói. – Tao lấy ở cửa hầm mười một. Hầm mười một có xác xì khí thật, người ta treo cả chục cái. Thiếu một cái không ai để ý.

Ông Gù nhìn tấm biển, rồi nhìn thằng Kíp.

– Con này lanh. – Ông nói lần thứ hai.

Lần này Nhặt không lườm ông.

Bốn giờ rưỡi, ba người lùi ra tới cửa hầm, đứng nhìn lại. Dưới ánh đèn mắt vàng chanh, góc trong cùng giờ chỉ còn là một khối sắt gỉ đỏ quạch, cục mịch, vá chằng vá đụp, có biển báo xì khí, có thẻ chờ lò. Không ai nhìn vào đó mà nghĩ bên dưới có một con chim sẻ.

– Còn mối hàn. – Ông Gù nói.

– Mối hàn sao ông?

– Mối hàn ở hai cái xác tàu thư. Còn nóng. Bốn tiếng nữa vẫn còn ấm. Người nào đặt tay lên là biết hàn đêm qua.

Nhặt nhìn ông, rồi nhìn thằng Kíp. Thằng Kíp gãi đầu. Không ai biết làm sao cho sắt nguội nhanh hơn được.

– Mình về đi. – Cuối cùng ông Gù nói. – Còn lại thì để tới đâu hay tới đó.

Tám giờ sáng.

Nhặt không định xuống hầm mười bốn. Ông Gù dặn nó đừng xuống, thằng Kíp cũng dặn đừng xuống. Nó nằm trên tấm nệm ở xưởng sửa máy, nhìn lên mấy cái đèn báo quá nhiệt đỏ nhấp nháy trên trần, đếm. Đếm tới năm trăm. Tới sáu trăm. Rồi nó ngồi bật dậy, chui vào đường ống bảo trì.

Không phải nó tò mò. Nó sợ. Nó sợ ngồi một chỗ mà không biết. Ông Gù hay nói, không biết một chuyện thì đo nó, đo được là đỡ sợ. Mà ngồi trên nệm thì không đo được cái gì.

Con bé tới cửa hầm mười bốn lúc tám giờ hai mươi. Cửa mở hé. Bên trong có ánh đèn trắng, loại đèn pin công suất lớn, quét qua quét lại. Nhặt nép vào khe cửa nhìn vào.

Người đàn ông tên Trượng đang lướt đi giữa những xác tàu lơ lửng. Ông ta buộc một sợi dây an toàn vào hông, móc vào đường ray trên trần, tay trái cầm đèn, tay phải cầm một cái máy đếm nhỏ. Mỗi lần đi ngang một xác tàu, ông ta soi đèn vào tấm thẻ chờ lò, đọc số, bấm máy đếm. Tách. Rồi lướt sang cái tiếp theo. Tách.

Nhặt đếm theo tiếng tách.

Ba mươi. Ba mươi mốt. Ba mươi hai.

Ông ta lướt tới cái xác dài vẹo ở giữa, cái xác ghép từ hai tàu thư. Ông ta soi đèn vào tấm thẻ: hai mươi sáu. Bấm máy đếm. Tách. Rồi ông ta dừng lại.

Ông ta soi đèn dọc thân xác. Chậm. Dừng ở chỗ mối hàn.

Nhặt nín thở.

Ông ta đưa tay ra, đặt lòng bàn tay lên mối hàn. Để yên đó. Một giây. Hai giây. Năm giây. Rồi ông ta rút tay về, nhìn lòng bàn tay mình, như người ta nhìn một vết bỏng.

Rồi ông ta quay đầu, chiếu đèn thẳng về phía góc trong cùng.

Cái khối sắt gỉ đỏ quạch có biển báo xì khí.

Ông ta tháo móc dây an toàn ra khỏi đường ray, móc sang đường ray kế, bắt đầu lướt về phía đó. Không vội. Không chậm. Cái đèn trắng trên tay ông ta không rời khối sắt.

Nhặt không biết mình bước vào hầm lúc nào. Nó chỉ biết khi nó nghe tiếng mình nói thì nó đã đứng giữa cửa, một tay bám vào tay vịn, người lơ lửng, tóc bết bụi sắt chưa gội từ đêm qua.

– Chú ơi!

Người đàn ông quay phắt lại. Đèn pin của ông ta chiếu thẳng vào mặt con bé. Nó nheo mắt.

– Ai đó?

– Con. – Nhặt nói. – Con đi tìm ông Gù. Ông Gù không có ở xưởng.

Người đàn ông hạ đèn xuống một chút. Ông ta nhìn nó. Mặt ông ta trong cái ánh sáng hắt từ dưới lên trông già hơn hôm qua, hai hốc mắt sâu hoắm, môi khô nẻ.

– Con là đứa ở xưởng hôm qua. – Ông ta nói. – Ngồi trong khe thùng nhựa.

Nhặt đứng sững. Ông ta biết. Ông ta biết từ hôm qua mà không nói gì.

– Ở đây nguy hiểm. – Người đàn ông nói, giọng không giận. – Hầm này nhiều xác xì khí. Con ra đi. Ông Gù của con không có ở đây.

Nhặt không ra. Nó nhìn cái đèn trắng trên tay ông ta, nhìn khối sắt gỉ đằng sau lưng ông ta, chỉ cách ông ta chừng hai chục thước. Đầu nó trống rỗng. Nó không biết nói gì để ông ta quay lại. Nó chỉ biết, trong cái đầu trống rỗng ấy, có một câu hỏi đã nằm đó từ hôm qua, từ lúc nó ngồi trong khe thùng nhựa nghe tiếng quạt rít. Câu hỏi ấy tự bật ra khỏi miệng nó trước khi nó kịp nghĩ.

– Chú tìm em bé hả chú?

Người đàn ông đứng im.

Trong hầm mười bốn, những xác tàu vẫn xoay chậm. Luồng khí từ ống thông gió vẫn thổi. Cái đèn pin trên tay ông ta chúc xuống, rọi vào một khoảng không giữa hai người, nơi bụi sắt đỏ đang lơ lửng như phù sa trong nước.

– Hôm qua chú hỏi ông Gù về cái nôi. – Nhặt nói tiếp, nhỏ hơn. – Nôi cứu sinh là để bỏ em bé vô. Chú hỏi nó rỗng thiệt không. Chú tìm em bé hả chú?

Người đàn ông không trả lời ngay. Ông ta tắt cái máy đếm trên tay phải, bỏ vào túi. Rồi ông ta nói, giọng khàn đi:

– Ừ.

– Em bé của chú?

– Ừ.

– Lâu chưa chú?

– Lâu rồi. – Ông ta nói. – Mười một năm.

Nhặt không biết nói gì nữa. Nó chỉ đứng đó nhìn ông ta. Ông ta cũng nhìn nó. Rồi ông ta hỏi, như người ta hỏi để có cái mà hỏi:

– Con tên gì?

– Dạ, Nhặt.

– Nhặt?

– Dạ. Má con nói tên xấu cho dễ nuôi.

– Mấy tuổi?

– Mười một.

Người đàn ông gật đầu. Rất chậm. Như người ta gật đầu với một điều mình đã biết trước mà vẫn phải nghe lại.

– Con của chú giờ chắc cũng cỡ tuổi con. – Ông ta nói.

Rồi ông ta làm một việc mà Nhặt không ngờ tới. Ông ta quay đèn khỏi khối sắt gỉ ở góc trong cùng. Ông ta lấy cái máy tính nhỏ trong túi ra, gõ mấy chữ, đọc to, như đọc cho chính mình nghe:

– Hầm mười bốn. Bốn mươi hai xác chờ lò. Đủ. Xác số hai mươi sáu, mối hàn mới, ghi chú. Xác số hai mươi bảy, có biển xì khí, chưa tiếp cận được, kiểm lại bằng máy dò khí sau.

Ông ta cất máy. Ông ta móc dây an toàn ngược về phía cửa, lướt ngang qua con bé, sát tới mức nó ngửi được mùi trên áo ông ta. Mùi dầu máy, mùi nhang, mùi một cái phòng đóng kín lâu ngày. Ông ta không nhìn nó nữa. Ông ta ra khỏi hầm.

Nhặt đứng một mình giữa cửa hầm mười bốn. Tay nó run tới mức phải bám cả hai tay vào tay vịn.

Nó không về xưởng ngay. Nó đi theo ông ta.

Nó đi cách một quãng xa, nấp sau những cột trụ, những ống khí, theo ông ta lên tầng trên, ra hành lang chính, đi về phía cầu tàu số Hai. Ở cầu tàu số Hai, ông ta không lên tàu Mũi Lao. Ông ta đi tới cái đống sắt vụn thứ ba từ trái qua, đống vỏ thoát hiểm, nơi những cái nôi cứu sinh tròn như quả trứng màu cam bạc thếch nằm chồng lên nhau. Ông ta đứng trước đống đó. Hai tay buông thõng.

Nhặt núp sau một cái thùng chứa khí, nhìn qua khe.

Người đàn ông tên Trượng đứng trước bốn mươi ba cái nôi rỗng, vai rung lên, không ra tiếng. Ông ta không lau mặt. Ông ta chỉ đứng đó, như một cái cây giữa trời không có gió.

Con bé quay lưng, chạy về xưởng.

Trưa hôm đó, đèn trần nhà ăn lại chớp vàng ba lần. Giọng bác Lẫm trong loa nghe như người vừa thức trắng hai đêm.

"Thông báo của Ban Đóng Trạm. Do tàu sơ tán thứ hai đến sớm hơn dự kiến mười lăm ngày, lịch đóng trạm có điều chỉnh. Việc tháo pin và đưa máy móc đời cũ vào lò số Hai sẽ thực hiện vào ngày mười lăm tháng Tám, thay vì ngày ba mươi tháng Tám như đã thông báo."

Thằng Kíp đặt đôi đũa xuống bàn. Nhặt nhìn nó. Hai đứa không cần nói ra. Cả hai đều đã đếm.

Mười lăm tháng Tám. Bốn ngày trước khi cửa sổ mở.

— Hết chương 6 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →