AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Phòng khám hẻm số Bốn

Ông Gù đưa con về đất · Chương 16/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 16: Phòng khám hẻm số Bốn

– Gù là người nuôi nó. – Ông Gù nói.

Bác sĩ Ngụy Thanh Duyên không ngẩng lên. Bà đã chụp cái mặt nạ dưỡng khí lên mặt con bé, vặn van bình ô-xy, và đang dùng cái kéo cắt toạc cổ bộ đồ vũ trụ ra để lấy chỗ đặt máy đo.

– Máy không nuôi người được. – Bà nói.

– Gù nuôi nó mười một năm.

Bà Duyên dừng tay một nhịp. Rồi bà làm tiếp.

– Hít khí gì?

– Khí tách quặng. Khí trơ nén. Khoang tàu nứt, xì ra. Nó hít chừng bốn mươi giây. Đầu đập vào khung cửa thép. Phía sau, bên trái. Hạ thân nhiệt vì khí nở lạnh.

– Bất tỉnh bao lâu rồi?

– Sáu phút hai mươi giây.

Bà Duyên liếc lên nhìn ông Gù một cái, cái nhìn rất nhanh, như người ta liếc qua cái đồng hồ. Rồi bà cúi xuống làm việc tiếp, và từ đó tới lúc xong, bà không hỏi ông câu nào mà ông không trả lời được.

Phòng khám nhỏ. Chỉ có một cái bàn khám, một cái giường bệnh kê sát vách, một tủ thuốc, một cái máy quét hình to như cái tủ lạnh nằm ngang, và một cái bồn rửa. Mọi thứ đều trắng, đều sạch, sạch tới mức lạ lùng giữa cái chợ đầy dầu nhớt và bụi đá này. Bà Duyên làm việc nhanh, không thừa động tác nào. Bà đắp lên người con bé hai tấm chăn sưởi, cắm dây vào ổ điện. Bà đặt máy đo lên ngực nó, lên ngón tay nó. Bà soi đèn vào mắt nó. Bà lật nghiêng đầu nó, vạch tóc ra xem vết thương sau gáy.

– Rách da đầu. Bốn mũi. – Bà nói. – Không lõm xương. Phải chụp mới biết bên trong.

Ông Gù rút bàn tay mềm ra khỏi sau gáy con bé. Lòng bàn tay màu kem của ông đã nhuộm đỏ.

Bà Duyên không nhìn bàn tay ấy. Bà chỉ nói:

– Rửa tay đi. Bồn ở kia. Xà phòng màu xanh.

Ông Gù đi rửa tay. Ông chưa bao giờ rửa tay. Ông là cái máy, người ta xịt dung dịch tẩy rửa lên ông ở xưởng mỗi tháng một lần, vậy thôi. Nhưng ông đứng trước cái bồn rửa, vặn vòi, lấy xà phòng màu xanh xoa lên bàn tay mềm, kỳ cọ từng ngón, kỳ cọ cả mấy vết khâu chỉ ở đầu ngón. Nước chảy xuống bồn đỏ hồng, rồi nhạt dần, rồi trong.

Lúc ông quay lại, con bé đã hồng lại một chút. Môi nó không còn thâm. Con số trên cái máy đo ở ngón tay nó đang leo lên, chậm, đều.

– Tám mươi chín. – Ông Gù đọc. – Chín mươi mốt.

– Ừ. – Bà Duyên nói. – Lên rồi.

Bà đẩy cái bàn khám tới cái máy quét hình to như tủ lạnh. Bà chụp đầu con bé. Bà chụp cổ tay trái nó, cái cổ tay sưng vù vì quấn dây an toàn lúc bị luồng khí hất đi. Rồi bà ngồi xuống cái ghế xoay, kéo một cái khay nhỏ lại gần, trên khay có kim, có chỉ, có một lọ thuốc tê.

– Trước khi khâu, tôi cần biết nó có dị ứng thuốc gì không. – Bà nói. – Thuốc tê, thuốc kháng sinh, thuốc chống phù não nếu cần. Nó có giấy tờ y tế không?

– Có. Ở trên tàu. Sổ y tế của trạm Bến Sắt.

– Ở Bến Sắt trạm y tế có mấy người?

– Một người máy y tá.

Bà Duyên khịt mũi.

– Vậy là không có. – Bà nói. – Tôi lấy mẫu máu. Máy tra gen ra dị ứng trong mười phút. Ở cái vành đá này người ta từ mười mấy chỗ tới, sổ y tế mỗi chỗ một kiểu, tôi không tin cái sổ nào. Tôi tin máy.

Bà lấy một giọt máu từ đầu ngón tay con bé, nhỏ vào một cái khe nhỏ trên cái hộp trắng đặt cạnh máy quét. Cái hộp kêu bíp một tiếng, đèn xanh nhấp nháy.

Ông Gù đứng nhìn cái đèn xanh.

– Trong lúc chờ, – bà Duyên nói, kéo cái máy tính bảng lại gần, – tôi phải ghi hồ sơ. Tên nó?

– Hà Thị Nhặt.

– Ngày sinh?

– Mười bốn tháng Tư năm Định Cư ba trăm.

– Nơi sinh?

– Trạm Bến Sắt.

– Mẹ ruột?

Ông Gù im một nhịp.

– Hà Thị Ươm.

Và cái quạt sau gáy ông rít lên.

Bà Duyên ngừng gõ. Bà ngẩng lên, nhìn ông Gù. Bà không biết cái quạt ấy kêu khi nào. Bà chỉ nghe một cái máy cũ phát ra một tiếng rít mỏng như tiếng muỗi, đúng lúc nó trả lời một câu hỏi. Bà là bác sĩ hai mươi năm ở cái vành đá này. Bà đã nghe người ta nói dối về tên, về tuổi, về quê, về nợ nần, về cái vết dao trên bụng, về chai rượu đã uống. Người nói dối nào cũng có một cái quạt. Có người là cái mí mắt giật. Có người là bàn tay gãi cổ. Có người là giọng lên cao nửa nốt.

Bà nhìn ông Gù lâu hơn một chút. Rồi bà cúi xuống gõ tiếp.

– Cha?

– Gù không biết.

Quạt không kêu. Bà Duyên ghi chữ "không rõ", rồi gõ ngón tay lên mặt bàn một cái, như người ta đánh dấu một chỗ cần quay lại.

– Người giám hộ hiện nay?

– Không có.

– Có người thân nào khác không?

– Bà ngoại. Nghiêm Thị Rỡ. Xã Cồn Gạo, tỉnh Đồng Sương, Thanh Thổ.

– Bà ngoại biết nó đang ở đây không?

– Hôm qua nó có gửi lời nhắn về. Bà nghe chưa thì Gù không biết.

Bà Duyên gõ xong. Bà đặt máy tính bảng xuống. Cái hộp trắng cạnh máy quét kêu bíp hai tiếng. Bà kéo cái màn hình nhỏ trên hộp lại gần, đọc.

– Không dị ứng gì. – Bà nói. – Được.

Bà khâu. Bà khâu bốn mũi trên da đầu con bé, mỗi mũi gọn gàng, đều, nhỏ như mũi khâu túi gạo của bà Năm Lò. Ông Gù đứng nhìn. Lúc bà khâu mũi thứ hai, mí mắt con bé động đậy. Lúc bà khâu mũi thứ ba, nó rên lên một tiếng rất nhỏ. Bàn tay mềm của ông Gù, đã khô sạch, đặt xuống cạnh tay con bé trên bàn khám. Không nắm. Chỉ đặt cạnh. Mấy ngón tay nhỏ của con bé, còn lạnh, tự nhích sang, tự tìm, rồi nắm lấy một ngón tay mềm của ông.

Bà Duyên thấy. Bà không nói gì. Bà khâu mũi thứ tư.

Phim chụp đầu hiện lên trên cái máy quét. Bà Duyên ngồi xem rất lâu, phóng to, thu nhỏ, xoay qua xoay lại.

– Không chảy máu trong. – Cuối cùng bà nói. – Chấn động nhẹ. Phải nằm theo dõi hai mươi bốn giờ. Cổ tay bong gân, không gãy. Phổi ổn, chưa có tổn thương do thiếu khí lâu. Nó tỉnh lại thì sẽ nhức đầu, buồn nôn, có thể không nhớ được mấy phút trước khi bị thương. Bình thường.

– Bình thường. – Ông Gù lặp lại.

– Bình thường. – Bà Duyên nói. – Nó may. Nếu cái máy của nó không đứng chắn trước luồng khí thì nó hít thêm chừng hai chục giây nữa. Hai chục giây là não nó khác.

Ông Gù không nói gì.

Bà Duyên đứng dậy. Bà đẩy cái bàn khám về phía cái giường bệnh kê sát vách, cùng ông Gù nhấc con bé sang giường. Bà đắp chăn, cài lại máy đo, kéo tấm rèm che nửa giường lại. Rồi bà đi ra phía trước phòng khám, mở cửa.

Ngoài cửa, trên cái ghế băng gỗ kê dưới mái hiên thùng hàng, có ba người đang ngồi.

Bà Mười ở quán mì đầu hẻm, tay còn cầm cái giẻ lau bàn. Thằng thợ lực lưỡng của bà Bảy Sầm, cái đứa lái máy nâng, mặt vẫn còn trắng bệch, hai tay đan vào nhau giữa hai đầu gối. Và một người đàn ông gầy, cao, vai hơi xuôi, tóc cắt sát, mặc đồ xám.

Cả ba đứng bật dậy khi cửa mở.

– Con nhỏ sao rồi bác sĩ? – Bà Mười hỏi.

– Sống. – Bà Duyên nói. – Ai là người nhà?

Không ai trả lời.

– Vậy về đi. – Bà nói. – Nó cần ngủ.

Bà Mười gật đầu, chùi tay vào cái giẻ, rồi quay về quán, vừa đi vừa lẩm bẩm gì đó về một nồi cháo gà. Thằng thợ lực lưỡng đứng thêm một lúc, môi mấp máy như muốn nói gì, rồi cũng cúi đầu đi. Chỉ còn người đàn ông mặc đồ xám.

– Tôi muốn vào thăm nó. – Ông ta nói.

– Ông là gì của nó?

Người đàn ông im.

– Không là gì cả. – Cuối cùng ông ta nói.

– Vậy ông ra ngoài.

– Tôi đang ở ngoài.

Bà Duyên nhìn ông ta. Nhìn bộ đồ xám có cái huy hiệu công ty, nhìn cái thẻ kiểm kê thu hồi trên ngực, nhìn cái túi da cũ sờn quai. Rồi nhìn cái mặt của ông ta. Bà là bác sĩ hai mươi năm ở cái vành đá này. Bà đã thấy cái mặt đó ở rất nhiều người ngồi trên cái ghế băng gỗ này. Cái mặt của người chờ.

– Ông muốn ngồi đó thì ngồi. – Bà nói. – Nhưng đừng vào.

Bà đóng cửa.

Ông Gù đứng ở cuối giường bệnh. Từ chỗ ông đứng, qua tấm kính mờ trên cửa phòng khám, ông thấy cái bóng của người đàn ông ngồi xuống lại trên ghế băng. Ngồi thẳng lưng. Hai tay đặt trên đầu gối. Không động đậy.

Chiều trôi qua. Đèn lồng ngoài hẻm số Bốn chuyển sang màu tối, rồi vặn nhỏ lại, đỏ mờ như than hồng. Bà Duyên khám thêm bốn người: một ông thợ quặng bị dằm sắt đâm vào tay, một đứa con nít sốt, một bà già đau lưng, một thằng thanh niên say rượu bị bể đầu. Bà làm việc nhanh, khô, không nói thừa một câu. Giữa mỗi người, bà đi vào sau tấm rèm, xem con số trên máy đo của Nhặt, rồi đi ra.

Tám giờ tối, bà Mười mang tới một cặp lồng cháo gà. Bà Duyên nhận, cảm ơn, để lên tủ.

Mười giờ đêm, Nhặt mở mắt.

Nó không biết mình ở đâu. Trần nhà trắng. Đèn mờ. Mùi thuốc sát trùng. Đầu nó nhức như có ai đang gõ búa vào bên trong. Nó quay đầu. Nhức thêm. Nó thấy hai cái đèn vàng chanh ở cuối giường.

– Ông Gù.

– Gì con.

– Mình ở đâu?

– Phòng khám. Hẻm số Bốn. Bác sĩ Duyên.

– Con bị gì?

– Con hít khí. Con đập đầu. Bốn mũi khâu.

Nhặt nhíu mày. Nó cố nhớ. Nó nhớ cái cột số Chín mươi. Nhớ máy nâng chạy rè rè. Nhớ con số gấp hai phẩy hai. Rồi không nhớ nữa.

– Con có giữ dây không?

– Có. Con giật được một cái.

– Một cái là ông kêu kéo.

– Gù biết. – Ông Gù nói. – Con giật đúng.

Con bé định nói gì nữa, mà mắt nó đã díp lại. Nó nằm im, rồi thở đều. Một lúc sau, bàn tay nó lại lần ra khỏi chăn, tìm. Ông Gù đặt bàn tay mềm vào đó.

Mười một giờ, bà Duyên khóa cửa trước, kéo tấm rèm che cửa kính. Bà đi vào sau tấm rèm giường bệnh, xem máy đo, rồi đứng đó, không đi ra.

– Tôi ngủ trên ghế ở bàn làm việc. – Bà nói với ông Gù. – Đêm nay ai cũng phải thức một chút. Nó có gì thì gọi.

– Phải.

Bà quay đi. Rồi bà dừng lại cạnh cái hộp trắng đặt bên máy quét, cái hộp tra gen ban chiều. Trên cái màn hình nhỏ của hộp, một đèn vàng đang nhấp nháy. Không phải đèn xanh như lúc ra kết quả dị ứng. Đèn vàng.

Bà Duyên cau mày. Bà bấm vào màn hình.

Ông Gù đứng im ở cuối giường. Tiếng lách cách trong ngực ông, chạy suốt từ sáng tới giờ, bỗng chậm lại, chậm lại, như cái đồng hồ sắp hết dây cót.

Ông biết cái đèn vàng ấy là gì. Ông biết từ lúc bà Duyên nói "tôi tin máy". Ở các vành đá, các trạm xa, những chỗ không có giấy tờ, luật bắt mọi phòng khám tra gen cho trẻ không có người giám hộ đi kèm. Kết quả phải tự động đối chiếu với các sổ tìm người mất tích. Ông biết, vì ông đã đọc cái luật ấy năm Định Cư ba trăm, trong một đêm cô Ươm ngồi khóc ở phòng bảy mươi hai, cầm một đứa bé trên tay.

Bà Duyên đọc. Đọc lâu. Rồi bà đọc lại. Mặt bà, vốn không có gì nhiều từ lúc ông đẩy cửa bước vào, giờ thay đổi. Không phải sợ. Không phải giận. Là cái mặt của một người vừa thấy một thứ mình không ngờ, và đang cố hiểu nó.

Bà tắt màn hình. Bà quay lại. Bà nhìn đứa con bé đang ngủ, tay nắm một ngón tay mềm màu kem. Rồi bà nhìn ông Gù.

– Mày ra đằng sau với tôi. – Bà nói. Giọng bà nhỏ, đều, không khô nữa. – Phòng sau. Tôi có chuyện cần hỏi riêng.

— Hết chương 16 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →