Chương 23: Mười một lời nhắn
Hai ngày sau câu hỏi trong khoang hàng, Nhặt mang cái hũ nhỏ lên buồng lái, đặt lên bàn trước mặt Trượng, giữa cái máy tính và cái tách trà, rồi buộc mình vào ghế phụ.
Trượng nhìn cái hũ. Gốm trắng, tròn, bằng nắm tay, nắp đậy kín bằng sáp. Mấy chữ khắc vụng nét run: 14 tháng Tư năm 300.
– Chú không trả lời con. – Nhặt nói. – Vậy con kể chú nghe trước.
Nó kể. Kể y như ông Gù kể nó nghe trong phòng khám, không thêm, không bớt, đọc từng chữ như đọc trên bảng. Đêm mười bốn tháng Tư. Phòng bảy mươi hai. Sớm ba tuần. Đứa bé không thở. Má ép tim bốn mươi phút bằng hai ngón tay. Ông Gù đếm. Đứa bé không khóc. Sáng ra má đưa con cho ông Gù. Lò hỏa táng nhỏ ở vòng Một, không ai trực. Má lấy kim khâu khắc ngày, không khắc tên, vì đặt tên rồi thì không chịu nổi. Má về phòng nằm. Không ăn. Không nói. Sáu ngày.
– Ngày thứ bảy thì ông Gù mang con về. – Nó nói. – Hồi đó con ngủ trong nôi. Còn mười hai ngày nữa là hết giấc ngủ lạnh. Cả trạm chỉ có má cho bú được. Ông Gù mở nắp nôi ra trước mặt má. Con khóc. Má ngồi dậy.
Trượng ngồi im. Anh nhìn cái hũ. Anh không đưa tay ra.
– Con kể để làm gì? – Anh hỏi. Giọng anh không gắt, mà khô, lạ.
– Để chú biết má không phải ăn cắp con.
– Cô ấy giữ con tôi mười một năm.
– Má cho con bú. Không có má thì con chết.
– Thì cô ấy cho con bú, rồi báo! – Trượng nói. Câu ấy bật ra như cái van nứt. – Cho bú một tháng, hai tháng, rồi báo! Trạm có máy liên lạc. Mười một năm tôi ở Bích Hải. Mười một năm tôi đi đếm nôi. Cô ấy chỉ cần bấm một cái nút. Một cái nút!
– Má sợ!
– Ai không sợ!
Hai người im. Nhặt thở hổn hển. Trượng chống hai tay lên bàn, cúi đầu, cái hũ nhỏ nằm giữa hai bàn tay anh.
– Tôi xin lỗi. – Anh nói. Lần này anh biết anh xin lỗi ai. – Chú xin lỗi con. Chú không nên nói to.
– Chú nói tôi. – Nhặt nói nhỏ.
Trượng ngẩng lên.
– Chú nói "tôi ở Bích Hải". Chú nói "con tôi". – Con bé nói. – Lúc chú giận chú nói tôi. Lúc chú không giận chú nói chú.
Anh nhìn nó rất lâu.
– Ừ. – Cuối cùng anh nói. – Chắc vậy.
Bốn giờ chiều, giờ tàu, tới giờ ông Gù được tháo đai.
Lần này ông không chờ Nhặt mang cơm xuống. Ông tự tháo đai, tự lướt tới cửa khoang hàng, đứng chắn ở đó, rồi nói với ra hành lang, vừa đủ nghe tới buồng lái:
– Anh Trượng. Gù có cái này phải đưa anh.
Trượng ra. Nhặt theo sau.
– Cô Ươm để lại mười một lời nhắn. – Ông Gù nói. – Gửi người nhà của con bé. Cô thu mà không gửi. Gù giữ trong thẻ nhớ. Cô dặn: nếu người nhà tìm tới, thì đưa người nhà nghe trước. Con bé nghe sau, nếu người nhà cho.
Nhặt đứng sững.
– Ông giữ mười một lời nhắn mà ông không nói với con?
– Cô Ươm dặn người nhà nghe trước.
– Con là người nhà!
– Con là con. – Ông Gù nói. – Cô Ươm nói người nhà là người đi tìm.
Quạt không kêu.
Trượng nhìn ông Gù. Rồi nhìn con bé.
– Con chờ ở buồng lái được không? – Anh hỏi nó. – Chú nghe trước. Rồi chú cho con nghe. Chú hứa.
Nhặt cắn môi. Rồi nó gật. Nó đi.
Ông Gù đóng cửa khoang hàng lại. Trong ánh đèn duy nhất, ông ngồi bệt xuống sàn, móc chân vào quai. Trượng ngồi xuống đối diện, lưng tựa vào vách, cạnh tấm vỏ sơn con sẻ. Ông Gù đưa tay lên ngực, bấm.
"Tôi không biết người nghe cái này là ai.
Tôi tên Hà Thị Ươm. Thợ hàn ở trạm Bến Sắt, vòng Ba, phòng bảy mươi hai. Hôm nay là đêm hai mươi mốt tháng Tư năm Định Cư ba trăm.
Con của anh chị đang ở với tôi. Nó là con gái. Ông Gù vớt nó trong cái nôi cứu sinh số bảy, ở vành rác Hòn Mốc, hôm qua. Nó khỏe. Nó bú được. Nó bú giỏi lắm. Trên tay nó có sợi chỉ đỏ, tôi cởi ra rồi, tôi sợ nó siết, tôi cất kỹ.
Mai tôi báo. Tôi thu cái này để mai tôi gửi kèm. Anh chị đừng giận tôi. Mai tôi báo."
Tiếng rè rè. Lời nhắn thứ hai.
"Nó một tuổi rồi. Hôm nay hai mươi tháng Tư. Tôi tính ngày ông Gù mang nó về là ngày sinh của nó, trong bụng tôi tính vậy, chứ giấy tờ thì tôi ghi khác.
Tôi hàn cho ông Gù một bàn tay mới. Tay của máy y tá. Để ổng bế nó. Ổng bế nó giỏi hơn tôi.
Tôi chưa báo. Anh chị ơi, tôi chưa báo."
Lời nhắn thứ ba. Giọng người đàn bà cười trước khi nói.
"Trời đất ơi, nó biết nói rồi. Mà anh chị biết chữ đầu tiên nó nói là chữ gì không? "Gù". Không phải "má". "Gù". Tôi giận ông Gù ba ngày. Ổng không biết tôi giận cái gì."
Trượng ngồi im. Anh nhìn ông Gù. Cái máy ngồi đó, hai đèn mắt vàng chanh nhìn xuống sàn.
Lời nhắn thứ tư, năm Định Cư ba trăm lẻ ba. Con bé sốt bốn ngày, trạm y tế chỉ có cái máy y tá, tàu tiếp tế còn ba tuần. Người đàn bà nói chậm, nói nhỏ, nói tôi sợ, tôi sợ lắm, nếu nó có chuyện gì thì tôi lấy cái gì mà trả anh chị. Rồi giọng nhẹ đi: nó hết sốt rồi, sáng nay nó đòi ăn cháo cá khô của bà Năm.
Lời nhắn thứ năm.
"Nó hỏi tôi sao trong bài ru có "có ba", mà nó không có ba. Tôi nói bài ru nào cũng phải đủ người. Nó tin.
Anh chị ơi, trong bài đó có ba. Nghĩa là nó có ba. Nghĩa là ở đâu đó có một người đàn ông đang nghe bài đó trong đầu mà không có ai để hát cho."
Trượng đưa tay lên che mặt.
Lời nhắn thứ sáu. Năm ba trăm lẻ năm. Người đàn bà kể chuyện vớt được một chiếc tàu kéo đời Hải Âu, kể chuyện trả phí chuộc từng tháng. Người đàn bà tính sửa nó để chở con về Cồn Gạo, về tới nơi rồi sẽ tìm anh chị. Dưới Đất người ta không soát gen ở chợ quê, tôi tìm từ từ. Lời nhắn thứ bảy, thứ tám: con bé đi học ở Nhà Chung, con bé thi toán đứng nhất. Con bé cãi giỏi, cãi cả bà Năm Lò, giống tôi, mà không phải giống tôi, chắc là giống ai đó trong nhà anh chị. Lời nhắn thứ chín: tôi ho. Lời nhắn thứ mười, năm ba trăm lẻ chín: cái máy y tá nói phổi tôi có bụi kim, tôi chưa nói với ai. Ông Gù biết vì ổng nghe tôi ho, ổng nghe được hết, ổng không nói gì, ổng chỉ hàn nhanh hơn.
Lời nhắn thứ mười một thì khác. Có tiếng máy đo bíp bíp đều đều trong nền. Có tiếng thở nặng, khò khè, như ai kéo bễ.
"Hôm nay hai mươi bốn tháng Chín năm ba trăm mười. Tôi nằm ở trạm y tế. Ông Gù đứng đây. Tôi nói ổng thu.
Tôi không về được. Tôi biết rồi.
Anh chị ơi. Mười một năm tôi nói mai. Tôi nói mai tới chết. Tôi không xin anh chị tha. Tôi không có mặt mũi nào xin.
Tôi xin anh chị một việc khác.
Ông Gù."
Một tràng ho. Dài. Khục khặc. Rồi dứt.
"Ông Gù không phải của công ty. Ông Gù có một chuyện mà chính ổng không biết. Tôi không nói được, tôi để má tôi nói. Má tôi là bà Nghiêm Thị Rỡ, ở xóm Bờ Đê, xã Cồn Gạo, tỉnh Đồng Sương. Bà dữ lắm. Anh chị đừng sợ.
Công ty sẽ đem ổng vào lò. Ổng sẽ không cãi. Ổng không biết cãi.
Anh chị là người nhà của con bé. Anh chị là người lớn. Anh chị đứng tên cho ổng được. Tôi xin anh chị đứng tên cho ổng. Tháo cái pin cho ổng. Đưa ổng xuống Đất. Đưa ổng về Cồn Gạo.
Tôi tính cách đó từ lâu rồi. Tìm ra anh chị, rồi xin anh chị. Tôi tính chưa xong.
Đừng để người ta nấu ông Gù.
Đó là việc tôi xin. Còn con bé, tôi không xin gì hết. Nó là của anh chị. Tôi chỉ mượn."
Tiếng rè rè. Hết.
Trong khoang hàng, máy lọc khí chạy hết một chu kỳ, tắt, rồi chạy lại.
Trượng ngồi im. Anh không biết đã bao lâu. Bốn giờ tháo đai của ông Gù đã hết từ lâu, mà ông Gù không tự buộc mình lên giá thép, và anh không nhắc.
– Mày… – Anh mở miệng, rồi dừng lại.
Anh nhìn cái máy ngồi đối diện. Lưng gù. Vỏ tróc như da cóc. Tay phải mỏ cắt. Tay trái bàn tay mềm màu kem, đầu ngón có vết khâu chỉ, thứ một người đàn bà đã hàn vào trong ba đêm để cái máy bế được con anh. Mười một năm cái máy này giữ mười một lời nhắn trong ngực, chờ một người đi tìm mà nó không biết là ai, có tới hay không. Nó nghi anh từ lời nhắn thứ hai. Nó chạy. Rồi nó tự đi lên cầu tàu của anh.
Cô ấy tính cách đó từ lâu rồi. Tìm ra anh chị, rồi xin anh chị.
Cái máy không biết cách đó. Nó chỉ biết một cách: đường màu cam vào mặt trời.
– Cô ấy có nói với mày cô ấy tính cách đó không?
– Không. – Ông Gù nói. – Cô Ươm nói cô tính cách khác. Gù không biết cách gì. Gù không mở lời nhắn ra nghe. Cô dặn người nhà nghe trước.
– Mười một năm mày không nghe?
– Gù nghe lúc cô thu. Gù đứng đó. – Ông Gù nói. – Rồi Gù chép vào thẻ. Gù không mở lại.
Quạt không kêu.
Trượng nhìn xuống hai bàn tay mình. Anh nghĩ tới mười chín tờ giấy gấp làm tư trong túi áo ngực. Mỗi tờ một cái máy, một cái nôi, một chữ rỗng. Tờ cuối cùng ghi số 0447.
Anh nghĩ tới cái câu cuối. Nó là của anh chị. Tôi chỉ mượn.
Anh đứng dậy. Anh đẩy mình tới cửa khoang hàng, mở ra.
Con bé đang ngồi ở cuối hành lang, buộc mình vào cái quai cạnh cửa buồng lái, hai tay ôm đầu gối, cái áo khoác xanh cổ vịt trùm kín tới cằm. Nó không ở trong buồng lái như anh dặn. Nó đã ngồi đó suốt mấy tiếng. Thấy anh, nó ngẩng lên, mắt mở to, không hỏi.
Trượng nhìn nó. Rồi anh quay đầu lại, nhìn vào trong khoang hàng tối, nơi cái máy gù lưng vẫn ngồi bệt dưới sàn cạnh tấm vỏ sơn con sẻ, hai đèn mắt vàng chanh.
– Ông Gù. – Anh nói. – Ông mở cho con bé nghe đi.
— Hết chương 23 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe