AI Truyện
Ông Gù đưa con về đất

🚀 Khoa học viễn tưởng

Xác tàu Lưng Rùa

Ông Gù đưa con về đất · Chương 13/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 13: Xác tàu Lưng Rùa

– Khoang số Ba, đã xả. – Thằng thợ của bà Bảy đọc tấm thẻ treo trên cửa khoang, rồi gõ gõ ngón tay vào cái đồng hồ áp suất bên cạnh. – Kim chỉ số không. Xong rồi đó.

Ông Gù không nhìn tấm thẻ. Ông nhìn cái đồng hồ.

Lúc đó là sáu giờ mười lăm sáng ngày hai mươi bốn tháng Chín. Cái xác tàu quặng Lưng Rùa nằm neo ở cột số Chín mươi, cột cuối cùng của dãy bà Bảy, sát vách hang, chỗ ánh đèn lồng gần như không chiếu tới. Nó to và tròn, lưng gồ lên, bụng phẳng, vỏ màu xám xanh lốm đốm những mảng gỉ, nhìn đúng như con rùa khổng lồ đang ngủ. Ba cái khoang hàng nằm dọc lưng nó như ba cái mai. Hai khoang đầu đã mở toang, trống rỗng, tối om. Khoang thứ ba còn đóng.

– Đồng hồ này chết. – Ông Gù nói.

– Hả?

– Kim không nhúc nhích khi Gù gõ. Đồng hồ còn sống thì kim phải rung.

Thằng thợ gõ lại vào cái đồng hồ, mạnh hơn. Kim đứng im ở số không. Nó nhún vai.

– Thì nó chỉ số không, chắc là không.

– Chắc là không thì chưa chắc. – Ông Gù nói. – Gù cắt khoang Một, khoang Hai trước. Khoang Ba để sau. Gù cần mượn một cái máy đo áp suất cầm tay.

Thằng thợ nhìn ông như nhìn một ông già khó tính, rồi nói để nó hỏi bà Bảy. Nó đi. Ông Gù quay lại nhìn Nhặt.

Con bé đang đứng ở cửa khóa khí bên hông xác tàu, mặc bộ đồ vũ trụ cỡ trẻ con má đã sửa lại từ hồi nó tám tuổi, cái mũ trùm đầu lật ra sau lưng. Trên tay nó là một cuộn dây an toàn màu cam, một đầu móc vào cái vòng sắt trên vách, đầu kia nối vào hông ông Gù.

– Người giữ dây. – Ông Gù nói. – Con nhớ việc người giữ dây làm gì không?

– Nhớ. – Nhặt đọc như đọc bài. – Không bao giờ rời cửa. Mắt không rời dây. Dây giật hai cái là ông kêu kéo. Dây giật ba cái là ông kêu báo động. Dây chùng quá mười giây mà ông không trả lời bộ đàm là gọi người.

– Đúng.

– Mà ông, con nhỏ vầy giữ dây sao được. – Thằng thợ thứ hai, đứa lực lưỡng hơn, đứng khoanh tay sau lưng, nói. – Bà Bảy mà biết là bả la.

– Con bé này giữ dây từ năm tám tuổi. – Ông Gù nói. – Ở Bến Sắt, Gù với cô Ươm dạy nó. Nó giữ dây tốt hơn người lớn.

– Sao biết?

– Vì nó không bao giờ rời cửa đi hút thuốc.

Thằng thợ đỏ mặt, ngậm miệng.

Ông Gù vào trong. Nhặt đứng ở cửa, hai tay cầm dây, nhìn sợi dây cam trôi theo ông vào bóng tối của khoang Một. Một lúc sau, tia lửa hàn xanh lét lóe lên trong khoang. Tiếng mỏ cắt rít. Rồi một tiếng rắc dài, một tiếng loảng xoảng, và tấm vỏ đầu tiên rời ra.

Con bé đếm từng tấm.

Tới trưa, ông Gù cắt được mười bốn tấm lớn từ khoang Một, mỗi tấm nặng cả tấn. Hai thằng thợ của bà Bảy dùng máy nâng kéo từng tấm ra, chất thành chồng ở đầu cầu tàu. Nhặt đứng ở cửa không rời, chân mỏi nhừ, tay rát vì dây. Dây chưa giật lần nào. Ông Gù gọi bộ đàm ra mỗi mười lăm phút, đúng giờ, nói đúng một câu: "Gù ổn."

Mười hai giờ, bà Bảy Sầm tới.

Bà xách một cái cặp lồng nhôm ba ngăn và một cái ghế xếp. Bà đặt cái ghế xếp sát cạnh cửa khóa khí, ngồi xuống, mở cặp lồng. Ngăn trên là cơm. Ngăn giữa là cá kho tộ, nước kho sánh đặc, màu cánh gián. Ngăn dưới là canh bí đỏ nấu tôm khô.

– Ăn. – Bà nói.

– Con đang giữ dây.

– Ăn bằng một tay. Giữ dây bằng một tay. Tao ngồi đây coi giùm.

Nhặt chần chừ. Rồi nó quấn dây hai vòng quanh cổ tay trái, cầm muỗng bằng tay phải, ăn. Mắt nó vẫn không rời sợi dây cam.

Bà Bảy ngồi nhìn nó ăn. Bà không nói gì một lúc lâu. Bà móc cái tẩu ra, ngậm, nhai nhai.

– Thằng Tư nhà tao hồi xưa cũng giữ dây cho ba nó. – Bà nói, không nhìn con bé, nhìn ra rừng đèn lồng. – Năm nó mười hai tuổi. Ba nó cắt xác tàu, nó đứng ngoài cửa giữ dây, y như bây.

Nhặt ngừng nhai.

– Rồi sao bà?

– Rồi nó lớn. Rồi nó đi tàu quặng. – Bà Bảy nói. – Chín năm trước, tàu nó chạy tuyến Lão Đồng, dính bão hạt. Không về.

Bà hất cằm về phía rừng đèn lồng. Ở chỗ cầu tàu số Mười hai, gần cửa hang, có một cái đèn lồng trắng treo cao hơn những cái khác.

– Cái đó của nó. – Bà nói.

Nhặt nhìn cái đèn lồng trắng. Nó không biết nói gì. Nó nghĩ tới phòng Lặng. Nghĩ tới hai nghìn bốn trăm cái cửa đồng. Nghĩ tới hũ tro má đang nằm trong tủ tàu Sẻ Đồng, bọc trong áo khoác xanh cổ vịt.

– Con có tro má con. – Nó nói nhỏ. – Con đem về quê.

Bà Bảy quay sang nhìn nó.

– Vậy là tốt. – Bà nói. – Có tro mà đem về thì tốt. Tao không có gì mà đem.

Rồi bà đứng dậy, gập cái ghế xếp. Bà để lại cái cặp lồng.

– Bây tưởng bà già này tốt hả? – Bà nói, giọng gắt lên. – Tao không tốt. Tao làm ăn. Con máy của bây cắt sắt giỏi, tao lời. Tao cho bây ăn là để bây khỏi xỉu ngoài cửa, xỉu ra là con máy không có ai giữ dây, nó chết trong đó, tao mất thợ. Vậy thôi.

– Dạ.

– Tao chỉ không muốn treo thêm cái đèn trắng nào ở dãy cột của tao. – Bà nói thêm, nhỏ hơn. Rồi bà đi.

Buổi chiều, ông Gù cắt xong khoang Một, bắt đầu cắt khoang Hai. Tới bốn giờ, ông ra nghỉ, nói Gù cần nguội mỏ cắt nửa tiếng. Nhặt được rời cửa.

Nó không ngồi nghỉ. Nó chạy về tàu, ôm ra cái túi vải ướt trồng rau mầm. Đợt rau thứ ba đã lên cao bằng ngón tay, xanh mướt, dày tới mức không thấy được mặt vải. Nó lấy cái kéo nhỏ cắt ra từng nhúm, gói vào những mảnh giấy dầu xin của bà Mười, mỗi gói bằng cái nắm tay, buộc bằng sợi chỉ rút từ cái túi gạo. Được mười lăm gói.

Rồi nó ra đầu hẻm, trải một tấm giấy dầu xuống đất cạnh quán mì bà Mười, bày mười lăm gói rau lên.

– Rau mầm. – Nó rao. Giọng nó nhỏ. Nó chưa rao bao giờ. – Rau muống mầm. Mới cắt.

Không ai để ý. Người ta đi qua đi lại, vai chạm vai, chân bước qua tấm giấy dầu của nó như bước qua cái rãnh nước.

Nhặt hắng giọng. Nó nghĩ tới bà Năm Lò. Bà Năm Lò mà rao thì cả nhà ăn phải quay lại nhìn.

– Rau muống mầm đây! – Nó rao lại, lần này to hơn. – Rau xanh mới cắt đây! Ở Hòn Lăn có ai ăn rau xanh chưa? Rau trồng trên tàu, ba mươi bốn ngày đường mới tới! Ăn sống được, chấm mắm được, nhúng mì được!

Một ông thợ quặng già đang húp mì ở quán bà Mười quay ra. Ông nhìn mười lăm gói rau. Rồi ông đứng dậy, đi tới, cầm một gói lên, mở ra, ngửi.

– Rau thật hả?

– Dạ thật.

– Bao nhiêu?

Nhặt không biết bán bao nhiêu. Nó chưa nghĩ tới.

– Dạ… hai chục nghìn.

Ông già nhìn nó, rồi bật cười, cái cười khàn đục.

– Con nhỏ này ngu. – Ông nói. – Ở Hòn Lăn một nhúm rau xanh bán năm chục. Rau ở đây toàn rau khô chở từ dưới Đất lên, xanh vầy chưa ai thấy.

Ông móc túi đưa cho nó một trăm, cầm luôn hai gói, rồi quay vào quán, xé gói rau thả hết vào tô mì, gọi bà Mười:

– Bà Mười! Bà coi nè! Rau xanh!

Mười ba gói còn lại bán hết trong mười hai phút. Ông Gù đếm. Nhặt cầm bảy trăm năm chục nghìn trong tay, tay run run, tiền lẻ nhàu nhĩ dính dầu mỡ.

Nó không đem về tàu. Nó đi thẳng tới cái quầy nhỏ ở đầu cầu tàu số Mười hai, chỗ có tấm biển vẽ hình cái ăng-ten, nơi người ta nhận gửi lời nhắn về Thanh Thổ. Gửi một lời nhắn tiếng nói ba phút về Thanh Thổ, mất hai trăm nghìn. Tin đi hai mươi lăm phút mới tới.

Nó gửi hai lời nhắn.

Lời nhắn thứ nhất gửi về Trung tâm bảo trợ trẻ em, thành phố Bích Hải, cho Đinh Văn Kíp. Thằng Kíp chưa tới. Tàu sơ tán thứ hai còn đang trên đường. Nhưng người ở trung tâm sẽ giữ lời nhắn lại. Nó nói nó tới Hòn Lăn rồi. Nó nói van nứt lần nữa mà vẫn ổn. Nó nói nó bán được rau mầm. Nó nói ông Gù khỏe. Nó nói mày đừng có leo lên băng chuyền nữa.

Lời nhắn thứ hai gửi về ủy ban xã Cồn Gạo, tỉnh Đồng Sương, nhờ chuyển cho bà Nghiêm Thị Rỡ, xóm Bờ Đê.

Nó cầm cái micro nhỏ trong cái buồng thu âm chật như cái tủ, im lặng một hồi lâu. Ông Gù đứng bên ngoài cửa buồng, không nhìn vào.

– Bà ơi. – Cuối cùng nó nói. – Con là Nhặt. Con là con của má Ươm. Hà Thị Ươm. Con mười một tuổi. Con sinh ra ở trạm Bến Sắt.

Nó dừng lại. Đồng hồ trên vách buồng thu âm chạy từng giây.

– Má con mất rồi bà. Mất năm ngoái. Má bị bệnh phổi. Con đang đem tro má về. Con đem về cho bà một hộp thóc nữa. Nếp Cánh Sẻ. Hai trăm mười bốn hạt. Má nói của con Ươm gửi về. Má nói con Ươm xin lỗi.

Nó nuốt nước bọt.

– Bà nói với cán bộ xã là bà không có cháu nào ở trên đó. Chắc tại má chưa kể với bà về con. Giờ con kể. Con là cháu bà. Con đang về.

Nó định nói thêm. Nó định nói con có một ông Gù, bà ơi, ông Gù là người máy, ông không xuống Đất được, bà có chịu đứng tên cho ông không. Nhưng đồng hồ trên vách đã chạy tới hai phút năm mươi giây.

– Bà đừng đóng cổng nghe bà. – Nó nói vội. – Con về rồi bà la con cũng được.

Đồng hồ hết ba phút. Đèn trên micro tắt.

Đêm đó, ông Gù cắt xong khoang Hai lúc mười một giờ. Tổng cộng ba mươi mốt tấm. Ông nói ngày mai cắt khoang Ba, ngày kia cắt phần thân, ngày sau nữa cắt phần đáy, xong đúng bốn ngày. Thằng thợ của bà Bảy đã mang tới một cái máy đo áp suất cầm tay, để ở cửa khóa khí. Ông Gù cầm lên coi, rồi đặt xuống.

– Mai đo khoang Ba. – Ông nói.

Nhặt nằm trong giường trên tàu, người mỏi rã rời, tay rát vì dây, mà không ngủ được. Nó nghĩ tới lời nhắn của nó đang bay qua khoảng không về phía cái chấm xanh ngọc. Hai mươi lăm phút. Giờ chắc đã tới nơi rồi. Giờ chắc đang nằm trong một cái máy nào đó ở ủy ban xã Cồn Gạo, chờ sáng mai có người mở ra nghe.

Bà ngoại sẽ nghe. Bà ngoại sẽ nói gì?

Sáng ngày hai mươi lăm tháng Chín, lúc năm giờ bốn mươi, chưa tới giờ ra cột số Chín mươi, Nhặt bị đánh thức bởi tiếng còi.

Không phải còi báo động. Đây là còi tàu. Một tiếng dài, trầm, vang khắp cái hang đá, dội vào vách rồi dội lại, làm những cái đèn lồng giấy rung rinh. Ở Hòn Lăn, tàu lớn nào cập bến cũng kéo còi một tiếng như vậy, để thuyền nhỏ tránh đường.

Con bé chui ra cửa tàu, bám vào dây neo, nhìn về phía cửa hang.

Ở cửa hang số Hai, cửa dành cho tàu công ty, một con tàu đang chui vào. Nó dài, thon, màu trắng xám, mũi nhọn như mũi giáo, hai bên sườn in cái huy hiệu của Công ty Khai Thác Ngoài Vành. Nó lướt qua rừng đèn lồng, êm, nhẹ, không lắc một chút nào, như con cá nhám trôi giữa đám cá con. Nó neo vào cột số Mười hai.

Cột số Mười hai. Ngay dưới cái đèn lồng trắng của thằng Tư.

– Sớm hơn bà Bảy nói nửa ngày. – Ông Gù nói sau lưng nó.

Cửa tàu Mũi Lao mở ra. Một cái cầu tàu nhỏ thò ra, bắc xuống cầu tàu đá. Một người bước xuống. Gầy, cao, vai hơi xuôi, tóc cắt sát, mặc đồ xám, trên vai đeo một cái túi da cũ sờn hết cả quai.

Người đó đứng ở đầu cầu tàu, ngẩng đầu nhìn cái đèn lồng trắng một lúc. Rồi quay lại, nhìn dọc theo dãy cầu tàu phía tây, nhìn về phía cột số Tám mươi bảy.

Nhặt thụt đầu vào trong tàu. Nhưng nó biết, chắc chắn như biết hơi thở ra thì phải hít vào, rằng người đó đã thấy nó.

— Hết chương 13 —

Mục lục Ông Gù đưa con về đất

  1. 1Bàn tay vá12 phút đọc
  2. 2Bốn ký12 phút đọc
  3. 3Con sẻ trong hầm mười bốn12 phút đọc
  4. 4Nồi cháo cá khô12 phút đọc
  5. 5Người đến đếm sắt11 phút đọc
  6. 6Đêm giấu chim11 phút đọc
  7. 7Tường tro11 phút đọc
  8. 8Lò số Hai13 phút đọc
  9. 9Quỹ đạo chôn12 phút đọc
  10. 10Luật cấm hạ đất11 phút đọc
  11. 11Ba mươi tư ngày12 phút đọc
  12. 12Chợ Hòn Lăn11 phút đọc
  13. 13Xác tàu Lưng Rùa11 phút đọc
  14. 14Bát mì ở quán đầu hẻm11 phút đọc
  15. 15Khoang số Ba11 phút đọc
  16. 16Phòng khám hẻm số Bốn11 phút đọc
  17. 17Bốn mươi tám giờ11 phút đọc
  18. 18Nôi số bảy11 phút đọc
  19. 19Người đàn ông ngân bài ru12 phút đọc
  20. 20Kê biên11 phút đọc
  21. 21Tấm vỏ sơn con sẻ11 phút đọc
  22. 22Bài ru vợ tôi đặt10 phút đọc
  23. 23Mười một lời nhắn10 phút đọc
  24. 24Lệnh của công ty11 phút đọc
  25. 25Cảng Vành Ngọc11 phút đọc
  26. 26Dây cầu nguồn11 phút đọc
  27. 27Lần đầu thấy mưa11 phút đọc
  28. 28Đường về Cồn Gạo11 phút đọc
  29. 29Chữ khắc dưới lớp sơn10 phút đọc
  30. 30Bà Rỡ10 phút đọc
  31. 31Ba sôi hai lạnh9 phút đọc
  32. 32Hòa giải sớm10 phút đọc
  33. 33Đêm ông Táo10 phút đọc
  34. 34Gần bốn giờ không điện11 phút đọc
  35. 35Cái cân thóc10 phút đọc
  36. 36Gieo11 phút đọc

Về truyện này

Ông Gù đưa con về đất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →