Chương 1: Bàn tay vá
Mười một giờ trưa giờ trạm, ông Gù cắt rời cái mũi tàu quặng thứ ba trăm lẻ hai trong đời ông, và Nhặt bắt được ông nói dối đúng một lần.
Con bé ngồi trong lồng kính số Ba, cái bong bóng nhựa dày phồng ra ở mép ngoài vòng trạm, chỗ thợ cắt ngồi canh máy hồi trước. Trên bàn chỉ có một ly nước tái chế hơi tanh mùi ống, cái bộ đàm quấn băng keo đỏ, và Nhặt, mười một tuổi, mặc cái quần rộng của má sửa lại. Ngoài kính, cách chừng tám chục thước, ông Gù bám trên lưng cái xác tàu quặng như con ốc bám thân cột. Dưới ông, dưới tất cả mọi thứ, là Lão Đồng.
Ai lần đầu lên Bến Sắt cũng phải đứng nhìn Lão Đồng một hồi lâu. Nó lớn tới mức không còn là một hành tinh mà là một cái đáy, màu nồi đồng mới đánh, vằn sọc nâu như vỏ cây. Ngay dưới lồng kính số Ba là con mắt bão màu gạch non, xoay chậm tới mức phải nhìn suốt buổi mới thấy nó nhích. Má gọi nó là "con mắt ông Đồng", nói ông Đồng nhìn hết, đứa nào làm bậy thì cẩn thận.
– Ông Gù, – Nhặt bấm nút bộ đàm. – Sáng nay ông có nghe người ta nói gì về chuyện đóng trạm không?
Bên kia im mất hai giây. Rồi giọng ông Gù vang lên, chậm, đều, như ai đọc từng chữ trên bảng:
– Không. Gù không nghe gì.
Và qua bộ đàm, Nhặt nghe tiếng quạt.
Đó là một tiếng rít mỏng, như con muỗi bay sát tai. Cái quạt tản nhiệt sau gáy ông Gù chỉ kêu kiểu đó khi lõi máy phải chạy nhanh để nghĩ ra một câu không có thật. Ngoài chân không thì chẳng nghe được gì, nhưng cái micro trong ngực ông bắt hết tiếng trong người ông, gửi theo sóng bộ đàm về đây. Hồi Nhặt năm tuổi, má đã chỉ cho nó: "Quạt kêu là ông xạo đó con. Cả trạm này chỉ có ông Gù là nói xạo dở nhất."
Nhặt không hỏi lại. Nó chống cằm, nhìn ông Gù làm việc.
Ông Gù cao chừng một mét chín nếu đứng thẳng được, mà ông không bao giờ đứng thẳng được. Cột sống ông cong về trước từ hồi người ta chế tạo ra ông, giờ sau lưng lại đeo thêm cái thùng gom sắt to như cái lu. Vỏ sơn màu vàng đất, chỗ tróc chỗ vá, lốm đốm như da con cóc. Hai đèn mắt màu vàng chanh. Tay phải là một cái mỏ cắt, đầu lửa xanh lét nhỏ bằng sợi chỉ. Còn tay trái thì không ăn nhập gì với phần còn lại.
Tay trái ông Gù là một bàn tay mềm, nhỏ hơn bàn tay thợ, bọc một lớp đệm màu kem đã ngả vàng, các ngón tròn tròn, đầu ngón có vết khâu chỉ. Đó là bàn tay của một người máy y tá cũ hư bo mạch. Má Nhặt tháo về, hàn vào cổ tay trái ông Gù hồi Nhặt mới được một tuổi. Má kể, trước đó tay kìm của ông bóp lon nước còn bẹp lép, nói chi bế con nít. Bàn tay mềm ấy không cắt được gì, cầm cái mỏ hàn còn vụng. Nó chỉ làm được đúng một việc.
Ông Gù xong mối cắt. Cái mũi tàu quặng rời ra, xoay chầm chậm, lộ ra một cái khoang tối om đầy dây điện rối như rễ bèo. Ông đẩy nó về phía cái lưới gom sắt dưới bụng trạm, rồi quay đèn mắt về phía lồng kính số Ba. Từ xa như vậy, Nhặt vẫn biết ông đang nhìn mình.
– Con ăn trưa chưa? – Ông hỏi.
– Chưa.
– Mười hai giờ mười lăm bà Năm hết cháo.
– Con biết.
– Còn bốn mươi mốt phút.
Nhặt bật cười. Ông Gù chuyện gì cũng phải đo. Ông không bao giờ nói "sắp hết cháo". Ông nói "còn bốn mươi mốt phút", nói "cái xác này ba trăm sáu mươi tám tấn, Gù cắt mười bốn ngày". Hồi má còn sống, má hay chọc ông: "Bữa nào ông thương ai, chắc ông nói thương ba phẩy bảy." Ông Gù đứng im một hồi, quạt không kêu, rồi nói: "Gù chưa đo cái đó."
Mười một giờ bốn mươi, ông Gù vào cửa khoá khí số Sáu, mang theo mùi kim loại vừa nóng lên rồi nguội đi đột ngột, như cái chảo bị dội nước. Vòng ngoài trạm quay nên ở đây nặng chừng tám phần mười dưới Đất. Ông nặng một trăm tám mươi hai ký dưới Đất, ở đây còn chừng một trăm bốn mươi lăm, vậy mà sàn vẫn rung.
Ông đưa tay trái ra. Không phải tay phải bao giờ. Nhặt nắm lấy.
Bàn tay ấy ấm. Lúc nào cũng ấm. Ông Gù chạy bằng một viên pin đồng vị trong ngực, thứ pin tự nóng suốt tám chục năm không cần sạc. Má đã đi một đường ống nhỏ từ chỗ pin ra tới lòng bàn tay trái, để bàn tay ấy ấm như tay người. Má hàn ba đêm dưới ánh đèn đeo trán, Nhặt khi đó ngủ trong cái thùng gom lót chăn. Đó là chuyện má kể. Nhặt không nhớ. Nhưng nó biết tay ông Gù ấm, như biết thở ra thì phải hít vào.
– Sáng nay ông đi đâu? – Nó hỏi lúc hai ông cháu đi dọc hành lang vòng Hai về phía nhà ăn. – Con xuống góc sạc lúc sáu giờ không thấy ông.
– Gù đi ra văn phòng Ban Đóng Trạm.
– Làm chi?
– Người ta gọi các máy đời cũ ra kiểm số hiệu.
Quạt không kêu. Nhặt liếc lên gáy ông. Im. Vậy là thật.
– Kiểm số hiệu làm chi?
Ông Gù đi thêm bảy bước, Nhặt đếm, rồi mới nói:
– Để làm danh sách.
Nhà ăn của bà Năm Lò ở vòng Hai, sát khu thủy canh, lúc nào cũng thơm mùi rau muống non với cá khô nướng. Hồi trạm còn ba nghìn mốt người, chỗ này chen không lọt. Giờ còn chừng một nghìn hai, một nửa số bàn đã chồng chân ngược ở góc, mà bà Năm vẫn nấu nồi cháo to như hồi trước.
– Con nhỏ kia, mười hai giờ năm phút rồi đó. – Bà Năm Lò hất cái vá. – Bữa nay cháo cá khô, rau muống luộc, bánh bột đậu. Đứa nào chê thì nhịn.
– Con không chê.
– Bây giờ không chê, chứ hồi ba tuổi mày phun cháo vô mặt tao.
Bà múc cho Nhặt một chén đầy tới miệng, dằn thêm hai miếng cá khô. Bà Năm Lò già lắm rồi, tóc trắng búi củ hành, cánh tay đầy vết bỏng dầu. Ông Gù không ăn, mà bữa nào ông đi với Nhặt, bà cũng nhìn ông một cái, như nhìn ông chồng của một người bạn, xem bữa nay ổng có ốm không.
Bữa nay bà nhìn ông lâu hơn mọi khi. Rồi bà quay đi, lấy cái giẻ lau một vết dầu không có trên bếp.
Nhặt ăn ở cái bàn cạnh cửa sổ thủy canh. Ông Gù ngồi xuống sàn cạnh nó, đầu chỉ ngang vai con bé. Bên kia tấm kính, mấy dàn rau muống mọc trong ống nhựa trắng, một con máy tưới nhỏ bằng cái ấm chạy lăng xăng phun sương.
Ông Gù nhìn con máy tưới. Có lần ông nói dàn thứ ba từ trái qua bị dư nước. Nhặt đi nói với ông thợ thủy canh. Ông thợ đo, rồi gãi đầu: dư thật. Hỏi ông Gù sao biết, ông nói Gù không biết, Gù chỉ thấy.
Ăn được nửa chén thì Nhặt đặt muỗng xuống.
– Ông Gù. Bữa nay con muốn đếm thóc.
Đèn mắt ông Gù chớp một cái.
– Chưa tới Tết.
– Con biết chưa tới Tết.
– Cô Ươm dặn mỗi năm chỉ mở một lần, ngày mồng Một Tết. Mở nhiều hơi nước vô, hạt hư.
– Con biết. – Nhặt nhìn xuống chén cháo. – Bữa nay con muốn đếm.
Ông Gù im. Trong ngực ông có tiếng lách cách rất khẽ, như ai lần một chuỗi hạt. Rồi ông đi vào sau bếp, nói với bà Năm Lò một câu gì đó. Bà Năm không cãi. Bà lau tay vô vạt áo, mở cái tủ lạnh âm sâu chứa thịt cá đông của cả trạm, lấy ra một cái hộp.
Cái hộp làm từ vỏ một bình khí hàn cũ, má cắt ngắn còn một gang tay, hàn đáy, làm cái nắp vặn khít tới mức thổi không lọt hơi. Trên nắp, má khắc một con chim sẻ đứng trên cọng lúa cong, đầu nghiêng, như đang nghe ai gọi.
Bà Năm Lò đặt cái hộp xuống bàn, đẩy về phía Nhặt, rồi đi thẳng vào bếp, không nói câu nào.
Nhặt chờ cho cái hộp đỡ lạnh. Má dặn lấy từ tủ ra phải chờ mười lăm phút cho vỏ hết đọng sương rồi mới được mở. Mười lăm phút đúng, ông Gù nói:
– Được rồi.
Nhặt vặn nắp. Bên trong lót một lớp giấy dầu, rồi một túi vải nhỏ buộc chỉ đỏ. Nó cởi chỉ, nghiêng túi, đổ ra lòng tờ giấy dầu trải trên bàn.
Những hạt thóc nhỏ, dài, vỏ vàng sẫm như mật ong để lâu. Đầu mỗi hạt có một vệt nâu, xiên xiên, giống hệt một cái cánh chim sẻ xếp lại. Má gọi giống này là nếp Cánh Sẻ. Ở làng má, cái làng tên Cồn Gạo bên một con sông lớn dưới Đất, người ta trồng nó từ đời ông cố ông sơ. Xôi nếp này để nguội cả ngày vẫn dẻo, thơm như lá dứa mà không có lá dứa nào. Rồi một năm nước mặn tràn vào, cả đồng cháy đỏ, mất giống. Năm đó má bỏ làng đi. Má mang theo một nắm.
Nhặt lấy cái tăm, gạt từng hạt sang một bên, đếm thầm.
Ông Gù không đếm giùm. Ông biết con bé muốn tự đếm.
– Hai trăm mười bốn. – Nhặt nói. Rồi nó đếm lại từ đầu, lần này gạt ngược về. – Hai trăm mười bốn.
– Hai trăm mười bốn. – Ông Gù nhắc lại, như người ta ghi sổ.
Năm ngoái hai trăm mười bốn. Năm kia cũng vậy. Má nói lúc rời làng có hai trăm hai mươi hạt, sáu hạt rơi đâu mất trên tàu. Chừng đó đủ gieo một ô mạ bằng cái chiếu, cấy được một sào, giữ thóc làm giống thì năm sau đủ cấy cả làng. Lúc kể má hay giơ ngón tay ra đếm, mắt sáng lên, như người ta tính tiền lời.
Má không kịp về.
Nhặt bỏ từng hạt vào túi vải. Buộc chỉ đỏ. Gấp giấy dầu. Vặn nắp. Tay nó run một chút, vặn trật ren hai lần mới vô. Ông Gù không giúp. Bàn tay mềm của ông để yên trên đầu gối sắt.
– Ông Gù.
– Gì con.
– Nếu trạm đóng thì người ta đưa hết mọi người về Đất hả ông?
– Phải.
– Con cũng về?
– Phải.
– Vậy ông cũng về.
Ông Gù không trả lời câu đó. Nhặt chờ tiếng quạt. Không có tiếng quạt, vì ông không nói gì cả. Con bé học được điều đó từ lâu lắm: ông Gù nói dối dở, nên chuyện gì không muốn nói dối thì ông im.
Mười hai giờ năm mươi, đèn trần nhà ăn chớp vàng ba lần. Ở Bến Sắt, đèn chớp vàng ba lần cả năm chỉ có vài lần: báo bão hạt từ Lão Đồng, báo tàu tiếp tế cập bến, báo có người chết.
Cái loa trên tường rè rè một lúc. Rồi một giọng đàn ông vang lên, mệt mỏi, đọc chậm như đọc một văn bản đã đọc đi đọc lại cả buổi sáng:
"Thông báo của Ban Đóng Trạm Bến Sắt. Căn cứ quyết định của Công ty Khai Thác Ngoài Vành, trạm Bến Sắt sẽ ngừng hoạt động hoàn toàn vào ngày sáu tháng Chín năm Định Cư ba trăm mười một. Toàn bộ người ở trên trạm được đưa về Thanh Thổ bằng hai chuyến tàu sơ tán. Danh sách chuyến, quy định mang theo đồ đạc, việc xử lý máy móc và tài sản trên trạm được niêm yết ở các bảng tin từ một giờ chiều nay. Tôi là Thạch Văn Lẫm, trưởng ban." Giọng ấy ngừng một chút, như người ta định nói thêm gì đó, rồi thôi. Loa tắt.
Không ai nói gì. Rồi một ông thợ cắt già ở bàn trong cùng đặt đôi đũa xuống, nói to, không với ai cả:
– Vậy là xong.
Bà Năm Lò đứng sau quầy, hai tay chống lên mép nồi cháo, không múc thêm cho ai nữa.
Một giờ đúng, tấm bảng đèn trên tường nhà ăn, cái bảng vẫn chạy giờ ca và giá bánh, chuyển sang màu cam. Chữ chạy chầm chậm từ dưới lên. Người ta kéo nhau tới trước bảng. Nhặt cũng đứng dậy. Ông Gù thì không.
Nhặt chen vào giữa mấy cái lưng người lớn, đọc lướt. Mỗi người mang theo tối đa bốn ký đồ riêng. Trẻ dưới mười sáu tuổi không có cha mẹ đi kèm sẽ do Trung tâm bảo trợ trẻ em ở thành phố Bích Hải tiếp nhận. Rồi một đoạn chữ nhỏ hơn: Máy đời mới chuyển về kho công ty. Máy đời cũ trên bốn mươi năm tuổi, do chi phí chuyên chở vượt giá trị sử dụng, sẽ được tháo pin và đưa vào lò số Hai để thu hồi kim loại. Bên dưới là một danh sách dài, cột trái số hiệu, cột phải chỗ đưa đi.
Nhặt đọc tới chữ TG-9 thì không đọc nhanh được nữa.
TG-9, số 0412. Lò số Hai. TG-9, số 0419. Lò số Hai. TG-9, số 0431. Lò số Hai. TG-9, số 0447.
Lò số Hai.
Con bé đứng im giữa đám người lớn đang nói ồn ào. Có ai giẫm lên chân nó, xin lỗi, nó không nghe. Rồi nó quay lại.
Ông Gù vẫn ngồi dưới sàn cạnh bàn ăn, cái thùng gom tựa vào tường, hai đèn mắt vàng chanh nhìn về phía nó. Ông không nhìn cái bảng. Ông nhìn nó.
– Ông nói ông không nghe gì. – Nhặt nói. Giọng nó nhỏ, mà nó biết ông nghe được. Ông nghe được cả tiếng một con ốc vít rơi ở đầu hành lang bên kia.
– Gù nói xạo. – Ông Gù đáp. – Gù biết rồi. Gù biết từ sáng.
Lần này, cái quạt sau gáy ông im re.
— Hết chương 1 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe