Chương 14: Bát mì ở quán đầu hẻm
Người đàn ông tên Trượng không tới cột số Tám mươi bảy. Suốt cả ngày hai mươi lăm tháng Chín, ông ta không tới gần Sẻ Đồng lấy một bước, và cái đó làm Nhặt sợ hơn là nếu ông ta tới.
Sáu giờ kém năm, hai ông cháu ra tới cột số Chín mươi. Nhặt mặc đồ vũ trụ, đứng ở cửa khóa khí, quấn dây an toàn quanh tay. Ông Gù cầm cái máy đo áp suất cầm tay đi tới cửa khoang số Ba, cái khoang có tấm thẻ "đã xả" và cái đồng hồ chết. Ông áp đầu máy đo vào cái van thử nhỏ trên cửa khoang, vặn. Có một tiếng xì rất khẽ. Ông nhìn con số trên máy.
– Gấp bốn. – Ông nói.
– Gấp bốn gì ông?
– Áp suất. Gấp bốn lần không khí trong trạm. Trong khoang còn khí tách quặng nén. Khoang này chưa xả.
Thằng thợ của bà Bảy đứng sau lưng, mặt tái đi.
– Thẻ ghi đã xả mà.
– Thẻ ghi thì ai ghi cũng được. – Ông Gù nói. – Khoang to như vầy mà nén gấp bốn, Gù cắt vào là nó nổ bung ra như cái bánh phồng.
– Vậy làm sao?
– Mai xả. Xả từ từ qua van thử, nối ống dẫn ra ngoài màng hang. Sáu giờ. Hôm nay Gù cắt phần thân ngoài, cắt từ đầu kia lại, không đụng vách khoang Ba.
Ông lấy cái bút dầu trong túi Nhặt ra, viết lên cửa khoang Ba bằng nét chữ to, cứng, của tay kìm: CÒN KHÍ. KHÔNG CẮT. Rồi ông vào trong.
Cả buổi sáng, Nhặt đứng ở cửa, mắt dán vào sợi dây cam, nhưng đầu thì quay về phía cột số Mười hai. Từ chỗ nó đứng, nó thấy được cái mũi nhọn trắng xám của tàu Mũi Lao lấp ló giữa rừng đèn lồng. Nó thấy được cái đèn lồng trắng của thằng Tư. Nó không thấy người đàn ông kia.
– Gù ổn. – Bộ đàm vang lên mỗi mười lăm phút.
– Con ổn. – Nó trả lời. Mà nó không ổn.
Mười hai giờ, bà Bảy Sầm lại mang cặp lồng tới. Bà không ngồi lại. Bà đặt cặp lồng xuống cạnh cửa, nhìn Nhặt một cái, rồi nhìn về phía cột số Mười hai, rồi đi. Hôm nay bà không nói gì.
Chiều, ông Gù cắt xong phần thân ngoài phía đầu tàu. Hai mươi tám tấm. Ông nói như vậy là kịp, mai xả khí khoang Ba, cắt nốt phần thân sau, ngày kia cắt đáy. Tới sáu giờ, ông ra. Mỏ cắt của ông đỏ lựng, bốc hơi nóng lên trong cái lạnh của hang đá.
Hai ông cháu đi về theo con hẻm cũ, qua quán mì bà Mười ở đầu hẻm.
Ông ta ngồi ở đó.
Ông ta ngồi ở cái bàn trong cùng, sát vách thùng hàng, lưng dựa tường. Trên bàn có một cái tách trà, một bình trà nhỏ, và không có gì khác. Thấy hai người đi tới, ông ta không đứng dậy. Ông ta chỉ ngẩng đầu, nhìn, rồi gật nhẹ một cái.
Nhặt dừng lại giữa hẻm. Ông Gù dừng lại sau lưng nó.
– Mì ở đây ngon. – Ông Trượng nói. Giọng ông ta trầm, khàn, nhỏ, như giọng người ít dùng tới nó. – Chú gọi cho con một tô. Bà Mười nói bữa trước con ăn ở đây, húp sạch không chừa giọt nước nào.
– Con không đói.
– Bụng con kêu.
Nhặt nghiến răng. Ông Gù không nói đề-xi-ben. Ông Gù im.
– Con ngồi đi. – Ông Trượng nói. – Chú không bắt con. Chú không bắt ai cả. Chú chỉ muốn nói chuyện. Ông Gù của con ngồi đây luôn, nghe luôn.
Nhặt nhìn ông Gù. Ông Gù nhìn người đàn ông. Lâu. Rồi ông bước tới, ngồi bệt xuống đất cạnh cái bàn, đúng chỗ ông vẫn ngồi mỗi lần Nhặt ăn mì, cái lưng gù tựa vào chân bàn. Bàn tay mềm của ông đặt lên đầu gối sắt, gần chân con bé.
Nhặt ngồi xuống cái ghế đẩu đối diện ông Trượng.
Bà Mười bưng ra một tô mì. Sợi mì vàng, nước dùng trong, hai lát thịt, trái trứng cút, nhúm hành. Hôm nay có thêm một nhúm rau muống mầm. Rau của nó, ông già thợ quặng hôm qua mua hai gói, chắc đã đưa lại cho bà Mười một gói. Nhặt cầm đũa, chưa ăn.
– Con tên Nhặt. – Ông Trượng nói. – Hôm ở hầm mười bốn con nói rồi.
– Dạ.
– Má con tên Ươm. Hà Thị Ươm. Thợ hàn bậc cao nhất ở Bến Sắt. Mất tháng Chín năm ngoái. Anh Lẫm kể chú nghe.
– Dạ.
– Chú lấy làm tiếc.
Nhặt không trả lời. Nó gắp một đũa mì, thổi. Hơi nóng bốc lên che mất mặt người đàn ông một lúc.
– Chú nói lại cái chú đã nói trong lời nhắn. – Ông Trượng nói. – Con lên tàu Mũi Lao với chú. Tàu của chú chạy nhanh, bốn mươi ngày là tới cảng Vành Ngọc. Có giường. Có cơm nóng. Có thuốc. Chú đưa con xuống Đất, đưa con về tận Cồn Gạo, tận nhà bà ngoại con. Chú hứa.
– Còn ông Gù?
Ông Trượng không nhìn ông Gù. Ông ta nhìn vào tách trà.
– Ông Gù về Vành Ngọc với chú. Giao cho kho thu hồi của công ty ở đó. Chiếc tàu Sẻ Đồng cũng vậy.
– Rồi kho thu hồi nấu ông Gù.
Ông Trượng im một lúc.
– Ừ.
– Vậy con không đi.
– Nhặt…
– Con không đi. – Con bé nói lại, to hơn. Mấy người ngồi ở bàn bên quay lại nhìn. – Chú muốn đưa con về thì chú đưa cả ông Gù về. Không thì thôi. Con với ông Gù tự về. Tàu con có van mới rồi. Bà Bảy cho.
– Bà Bảy chưa cho. – Ông Trượng nói nhẹ. – Bà Bảy đổi công. Mà công chưa xong.
Nhặt cứng họng.
Ông Trượng rót thêm trà vào tách. Tay ông ta không run. Nhặt để ý ông ta có hai bàn tay to, xương, đầy những vết sẹo nhỏ, những vết sẹo của người làm máy lâu năm, giống tay má. Trên cổ tay trái ông ta có một sợi chỉ đỏ buộc vòng, đã bạc màu gần như trắng.
– Chú không ghét ông Gù của con. – Ông ta nói. – Chú thấy ông ấy bế con ra khỏi lò. Chú thấy ông ấy cầm tay con. Chú biết ông ấy thương con. Nhưng chú làm cho công ty, chú có giấy của công ty. Mà ông Gù còn mang pin đồng vị. Ông ấy không xuống Đất được đâu, con. Có tới Vành Ngọc thì cũng chỉ tới Vành Ngọc thôi.
– Con biết. – Nhặt nói. – Con sẽ tìm trạm tháo pin.
Ông Trượng ngẩng lên nhìn nó. Lần đầu tiên từ lúc nó ngồi xuống, ông ta nhìn thẳng vào mặt nó.
– Con biết chuyện tháo pin?
– Con biết hết. Ông Gù kể rồi. Luật Pin Đồng Vị mười hai điều. Tháo pin phải có trạm có phép. Phải có sáu chục triệu. Phải có người lớn đứng tên.
– Ai đứng tên?
– Con tìm. – Nhặt nói. – Bà ngoại con. Không thì bà Năm Lò. Không thì bác Lẫm. Không thì người khác.
Ông Trượng không nói gì. Ông ta nhìn con bé rất lâu, như người ta nhìn một cái gì vừa thấy lần đầu tiên. Rồi ông ta cúi xuống tách trà.
– Ăn đi. – Ông nói. – Mì nguội.
Nhặt ăn. Nó ăn chậm, vì nó còn giận, mà nó vẫn ăn, vì nó đói thật. Người đàn ông ngồi im uống trà. Ông Gù ngồi im dưới đất. Ba người im lặng, trong cái quán mì đầu hẻm ồn ào tiếng người, tiếng muỗng, tiếng bà Mười la đứa phụ bếp. Nhặt húp được nửa tô thì dừng lại, đặt đũa xuống, chờ cho bà Mười mang thêm nước dùng nóng như bà vẫn làm mỗi lần nó ăn ở đây.
Trong lúc chờ, nó ngân nga.
Không phải nó định ngân. Nó chỉ ngân, như người ta gõ ngón tay xuống bàn khi chờ một cái gì đó. Từ hồi má mất, mỗi lần nó chờ, nó lại ngân bài đó. Ngân rất nhỏ, chỉ trong cổ, không có lời. Sẻ ơi, sẻ nhỏ ngủ đi. Ngoài kia gió lớn, bay chi một mình.
Có một tiếng choang.
Nhặt giật mình ngẩng lên. Cái tách trà trong tay ông Trượng đã đổ. Trà nóng chảy loang trên mặt bàn, chảy xuống mép bàn, nhỏ tong tong xuống đất, nhỏ cả xuống cái chân sắt của ông Gù ngồi bên dưới. Cái tách lăn lông lốc tới mép bàn, ông Gù đưa tay mềm lên bắt lại.
Ông Trượng không lau. Ông ta ngồi im, hai tay đặt trên bàn, giữa vũng trà. Mặt ông ta trắng bệch.
– Bài đó. – Ông ta nói. Giọng ông ta không còn trầm nữa. Nó khàn đặc, như bị ai bóp cổ. – Ai dạy con bài đó?
Nhặt chớp mắt.
– Má con.
– Má con học ở đâu?
– Má con tự đặt.
Ông Trượng nhìn nó. Không. Ông ta không nhìn nó. Ông ta nhìn xuyên qua nó, nhìn ra sau lưng nó, nhìn vào một chỗ nào đó rất xa mà nó không thấy được.
– Tự đặt. – Ông ta lặp lại.
– Dạ. Má con nói vậy. Hồi con nhỏ má hát cho con ngủ. Bài Sẻ ơi.
Im lặng. Bà Mười bưng nồi nước dùng ra, thấy vũng trà, định nói gì đó, rồi thôi, lặng lẽ quay vào bếp.
– Con sinh ngày nào? – Ông Trượng hỏi. Giọng ông ta nhanh hẳn, gấp, như người đang chạy.
– Dạ, mười bốn tháng Tư năm ba trăm.
– Mười bốn tháng Tư.
– Dạ.
– Ở đâu?
– Ở Bến Sắt. Ở phòng của má. Vòng Ba, phòng bảy mươi hai. Con ra sớm, ra lúc nửa đêm, không kịp đi trạm y tế. Có ông Gù ở đó.
Ông Trượng quay đầu xuống, nhìn ông Gù đang ngồi dưới đất cạnh chân bàn, cái tách trà trong bàn tay mềm.
– Đúng vậy không?
– Đúng. – Ông Gù nói. – Ngày mười bốn tháng Tư năm Định Cư ba trăm, cô Ươm sinh con ở phòng bảy mươi hai, vòng Ba. Gù ở đó.
Quạt không kêu.
Nhặt nghe rõ, không kêu. Nó không biết tại sao nó thấy nhẹ người. Nhưng nó nhẹ người.
Ông Trượng cũng nghe thấy cái gì đó, hay không nghe thấy cái gì đó. Vai ông ta chùng xuống. Từ từ. Như cái bao gạo bị rạch. Ông ta ngồi đó, giữa vũng trà, lấy hai bàn tay ôm mặt, ngồi im rất lâu. Lâu tới mức nước dùng trong tô mì của Nhặt đã nguội.
Rồi ông ta bỏ tay xuống. Ông ta móc ví, để lên bàn một tờ tiền, đủ trả cho tô mì, bình trà, và gấp đôi số đó. Ông ta đứng dậy.
– Xin lỗi con. – Ông ta nói. Giọng đã trầm lại. – Chú nhớ lầm.
– Chú nhớ lầm cái gì?
Ông ta không trả lời. Ông ta đi ra khỏi quán, đi ra con hẻm, đi về phía cầu tàu số Mười hai, bước chân không vội, lưng hơi còng. Nhặt nhìn theo cho tới khi cái lưng áo xám của ông ta lẫn vào đám đông.
– Ông Gù. – Nó quay xuống. – Chú đó bị sao vậy?
Ông Gù không trả lời. Ông đặt cái tách trà lên bàn, ngay ngắn, đúng chỗ cũ. Hai đèn mắt vàng chanh của ông nhìn theo hướng người đàn ông vừa đi. Trong ngực ông, tiếng lách cách khẽ chạy rất chậm, rất đều, như người ta đang đếm từng hạt một mà không dám đếm sai.
Tối hôm đó, lúc chín giờ, có người gõ cửa tàu Sẻ Đồng.
Là bà Bảy Sầm. Bà đứng ở đầu cầu tàu, một mình, tay cầm cái máy tính bảng nứt màn hình. Bà không cầm tẩu.
– Thằng cha công ty tới tiệm tao hồi chiều. – Bà nói, không chào. – Nó đưa tao một tờ giấy kê biên của công ty. Giấy nói tàu Sẻ Đồng là tài sản đang tranh chấp, không được rời bến cho tới khi có quyết định. Nó trả tao một tháng tiền neo cho cái cột của bây. Gấp đôi giá.
Nhặt đứng ở cửa tàu, cảm thấy cái lạnh trong lồng ngực lan ra tới tận đầu ngón tay.
– Bà… bà nhận rồi hả bà?
– Nhận rồi.
– Bà nói ai trả tiền neo thì là chủ mà.
– Ừ. – Bà Bảy nói. – Bây trả ba ngày. Nó trả ba mươi ngày. Gấp đôi.
Bà nhìn con bé. Rồi bà nhìn ông Gù đứng sau lưng nó.
– Ở Hòn Lăn ai trả tiền neo thì là chủ. – Bà nói lại, chậm hơn. – Tao nói rồi. Mà người ta có tiền hơn bây.
Bà quay lưng đi. Đi được mấy bước, bà dừng lại.
– Cái Lưng Rùa vẫn cắt. – Bà nói, không quay đầu. – Mai sáu giờ. Trễ một phút là thôi.
— Hết chương 14 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe