Chương 10: Luật cấm hạ đất
Lời nhắn đầu tiên của ông Trượng tới vào lúc ba giờ chiều ngày hai mươi hai tháng Tám, giờ tàu. Nó bắt đầu bằng một tiếng hắng giọng giống hệt tiếng hắng giọng của má trong cái máy ở hầm mười bốn.
Nhặt giật mình tới mức làm rơi cái muỗng. Cái muỗng trôi lơ lửng giữa khoang ngủ, xoay chầm chậm, mấy hạt cháo bột đậu bám trên đó tách ra thành những viên tròn nhỏ như hạt cườm. Ông Gù đưa tay mềm ra bắt lại.
"Tàu Sẻ Đồng. Đây là Mạc Quang Trượng, cán bộ kiểm kê thu hồi của Công ty Khai Thác Ngoài Vành, trên tàu Mũi Lao.
Tôi biết trên tàu có một cái máy thu gom số 0447 và một đứa trẻ mười một tuổi tên Hà Thị Nhặt. Anh Thạch Văn Lẫm đã báo cho tôi việc tàu rời hầm mười bốn sáng ngày mười chín. Theo luật của công ty, tàu Sẻ Đồng vẫn đang ghi tên trong danh sách tài sản thu hồi, chưa hoàn tất thủ tục chuộc xác. Cái máy số 0447 là tài sản của công ty.
Nói vậy cho đủ thủ tục. Bây giờ tôi nói chuyện khác.
Con Nhặt. Nếu con nghe được thì nghe chú nói. Chiếc tàu con đang đi gần bảy mươi năm tuổi. Chú đã thấy tàu đời Hải Âu nằm trong mấy cái bãi xác. Chú biết van khí đẩy của nó hay nứt. Ở giữa đường không có ai cứu được con. Chú không muốn con chết. Con quay mũi về hướng Mũi Lao, chú đón con, chú đưa con về Thanh Thổ bằng tàu của chú. Tàu của chú có buồng riêng, có giường, có cơm nóng. Chú hứa đưa con về tới tận nhà bà ngoại.
Cái máy thì phải theo luật. Chú không hứa được chuyện đó.
Hết."
Rồi tiếng rè rè.
Nhặt ngồi im. Ông Gù cũng ngồi im. Lời nhắn ấy đi mất ba mươi mấy giây mới tới, vì Mũi Lao giờ đã cách xa họ cả chục triệu cây số. Nhặt tính trong đầu: ba mươi mấy giây đi, ba mươi mấy giây về. Nếu nó bấm nút trả lời bây giờ, phải hơn một phút nữa mới nghe được ông Trượng nói lại. Nói một câu, chờ một phút. Nói một câu, chờ một phút. Nói chuyện kiểu đó thì ai cũng phải nghĩ kỹ trước khi nói.
– Mình quay mũi được không ông? – Nó hỏi. Không phải vì nó muốn quay mũi. Nó chỉ muốn biết.
– Không. – Ông Gù nói. – Muốn quay mũi về đón Mũi Lao thì phải đốt khí đẩy để hãm lại. Mũi Lao cũng phải đốt khí để đi chậm lại cho khớp với mình. Đốt như vậy hai tàu đều không còn đủ khí về tới Vành Ngọc.
– Vậy ông Trượng đuổi theo mình không kịp hả?
– Đuổi kịp thì được. Mũi Lao chạy nhanh hơn mình gần gấp đôi. Nhưng đuổi kịp rồi phải chạy song song với mình để bắt người qua tàu, mà muốn chạy song song thì tốn khí gấp bốn lần. Mũi Lao không chở nhiều khí như vậy. Gù đoán người đó sẽ không đuổi. Người đó sẽ chạy thẳng tới Vành Ngọc, tới trước mình, chờ ở đó.
– Chờ ở cổng số Bốn. – Nhặt nói.
Ông Gù không trả lời.
Nhặt cầm cái muỗng ông Gù vừa bắt lại, múc thêm một muỗng cháo, đưa lên miệng. Cháo bột đậu nấu bằng nước tàu lọc, hơi tanh mùi ống, nhưng bà Năm Lò đã trộn sẵn muối mè vào bột nên vẫn bùi bùi. Hai ngày rồi nó mới ăn được tới muỗng thứ năm. Hai ngày nay nó ít nói chuyện với ông Gù. Nó ngủ trong hốc tủ chắn, ăn trong hốc tủ chắn, chỉ ra ngoài lúc đi vệ sinh, tập thể dục ba mươi phút theo cái máy đếm ông Gù đặt sẵn ở góc khoang. Nó không gọi ông. Ông không gọi nó. Có lúc nó nằm trong hốc, nghe tiếng lách cách trong ngực ông vọng qua loa, rồi nó lấy gối bịt tai lại.
Nhưng lời nhắn của ông Trượng làm nó thấy một điều. Ông Trượng nói cái máy thì phải theo luật. Ông Gù nói Gù không xuống Đất được vì luật. Hai người lớn ở hai con tàu khác nhau, nói cùng một chữ. Luật.
– Ông Gù. – Nó nói. – Ông kể con nghe cái luật đó đi. Kể hết.
Ông Gù kể.
Lần này ông kể kỹ hơn. Luật Pin Đồng Vị của nước Hòa Lục có mười hai điều. Điều một, cấm máy mang pin đồng vị vào khí quyển. Điều hai, cấm máy mang pin đồng vị xuống mặt đất, kể cả hạ cánh khẩn cấp. Điều ba, máy nào muốn xuống đất thì phải tháo pin đồng vị ra, tại một trạm tháo pin có phép, ở trên quỹ đạo, có người kiểm định ký giấy. Viên pin tháo ra phải nộp lại cho nhà nước. Máy được thay pin hóa học.
– Vậy ông tháo pin! – Nhặt ngồi bật dậy, đầu cộc vào trần hốc tủ chắn một cái, nó cũng không thấy đau. – Tháo pin rồi ông xuống được!
– Phải. – Ông Gù nói.
– Vậy sao ông không tính chuyện đó? Sao ông tính chuyện bay vô mặt trời?
Ông Gù im một chút. Rồi ông giơ tay phải lên, gập từng ngón kìm xuống mà đếm, như mỗi lần ông muốn nói một chuyện có nhiều phần.
– Một. Gù là tài sản của công ty. Tới cảng Vành Ngọc, có giấy của công ty là người ta giữ Gù, đưa vào kho thu hồi, nấu. Không cần tới mặt trời.
– Hai?
– Tháo pin ở trạm có phép tốn sáu chục triệu. Tiền đó Gù không có. Con cũng không có.
– Ba?
– Pin hóa học thay vào cho máy đời cũ như Gù chỉ chạy được chừng ba mươi giờ một lần sạc. Sạc chậm, phải có bộ sạc kiểu cũ, mà bộ sạc kiểu cũ dưới Đất không còn mấy cái. Gù xuống Đất rồi thì phần lớn thời gian là nằm một chỗ chờ sạc. Như cái tủ lạnh hư.
– Ông không phải cái tủ lạnh.
– Bốn. – Ông Gù nói tiếp, như không nghe. – Lúc thay pin, nếu không có dây cầu nguồn, Gù mất điện. Mất điện quá hai giờ thì lõi nhớ xóa. Mỗi giờ sau năm năm. Sau này dưới Đất, mỗi lần pin hóa học cạn mà không ai sạc kịp, cũng vậy. Mỗi lần một ít.
Nhặt im. Nó nghĩ tới cái đêm mất điện năm hai trăm chín mươi sáu mà má kể. Chín tiếng. Sáng ra ông Gù không còn nhớ gì trước năm hai trăm chín mươi lăm.
– Năm. – Ông Gù nói. Ông gập ngón kìm cuối cùng. – Máy tháo pin xuống Đất phải có một người lớn đứng tên giám hộ. Người đó ký giấy chịu trách nhiệm cho máy. Trẻ con chưa đủ mười tám tuổi không được đứng tên. Gù không có ai đứng tên.
– Bà ngoại. – Nhặt nói ngay.
– Bà ngoại nói không có cháu nào ở trên đó.
Câu đó ông nói bằng giọng đều đều như mọi câu khác. Nhưng nó vẫn làm Nhặt đau như ai lấy kim châm vào ngực.
Con bé chui ra khỏi hốc tủ chắn. Nó lướt về phía buồng lái, nắm lấy lưng ghế, xoay người lại cho đối diện với ông Gù. Đây là lần đầu tiên trong hai ngày nó nhìn thẳng vào hai cái đèn mắt vàng chanh ấy.
– Bà Năm Lò nói bà Rỡ la xong là đi nấu xôi.
– Bà Năm Lò chưa gặp bà Rỡ.
– Má nói vậy. Trong cái máy ở hầm mười bốn, má nói vậy. Má nói con cứ đứng đó cho bà la, bà la xong bà sẽ đi nấu xôi.
Ông Gù không trả lời.
– Con sẽ xin bà. – Nhặt nói. – Con đưa hộp thóc cho bà. Con đưa tro má cho bà. Con nói con Ươm xin lỗi. Rồi con xin bà đứng tên cho ông. Bà không chịu thì con xin bà Năm Lò. Bà Năm Lò cũng về Đất mà. Bà Năm Lò không chịu thì con xin bác Lẫm. Bác Lẫm đã mở cửa hầm cho mình. Bác Lẫm không chịu thì…
– Thì sao?
– Thì con tìm người khác. – Con bé nói. – Thanh Thổ có mấy trăm triệu người mà ông. Kiểu gì cũng có một người chịu.
Ông Gù im rất lâu. Lâu tới mức Nhặt nghe được tiếng lách cách trong ngực ông đếm được mười hai lần.
– Còn chuyện quên. – Ông nói.
– Ông quên thì con nhớ giùm ông.
Ông Gù nhìn nó.
– Ông mất nhớ năm năm thì con kể lại cho ông năm năm. – Nhặt nói, nói nhanh như sợ mình đổi ý. – Ông quên má thì con kể ông nghe về má. Ông quên Bến Sắt thì con kể ông nghe Bến Sắt. Con nhớ hết. Con nhớ giỏi lắm. Ông dạy con đếm ốc vít mà, ông biết con nhớ giỏi.
– Gù biết.
– Vậy ông hứa đi.
– Hứa gì?
– Hứa là tới Vành Ngọc, mình đi tìm trạm tháo pin. Mình tìm người đứng tên. Mình tìm đủ cách. Hết cách rồi thì mới tính tới cái đường màu cam.
Ông Gù không nói gì.
– Mà dù có hết cách, – Nhặt nói tiếp, giọng nó run lên, – ông cũng không được đi mà không nói với con. Ông không được thả con ở cổng số Bốn rồi lén bay đi. Ông phải nói. Ông phải đứng trước mặt con mà nói.
Ông Gù đưa bàn tay mềm ra.
Nhặt nhìn bàn tay ấy. Màu kem ngả vàng, các ngón tròn tròn đầu có vết khâu chỉ. Nó không nắm ngay.
– Gù hứa. – Ông nói. – Gù hứa tới Vành Ngọc đi tìm trạm tháo pin, tìm người đứng tên. Gù hứa không đi mà không nói.
Quạt không kêu.
Nhặt nắm lấy bàn tay ấy. Ấm.
Tối hôm đó, lần đầu tiên từ lúc rời Bến Sắt, nó không ngủ trong hốc tủ chắn. Nó buộc mình vào cái giường xếp cạnh vách, ngay chỗ có cái tay vịn ông Gù hàn thêm. Ông Gù ngồi dưới sàn cạnh giường, chân móc vào hai cái quai ở sàn cho khỏi trôi. Trước khi ngủ, Nhặt sờ ra sau gáy ông, tìm cái chìa bảo trì vẫn còn cắm ở đó.
– Cái chìa này con rút ra được không ông?
– Không được. Rút ra là đường lệnh nối lại. Ở xa Bến Sắt như vầy lệnh không tới được. Nhưng tới gần cảng nào có trạm phát của công ty thì lệnh gọi về lại tới. Gù lại đi.
– Vậy để nó ở đây luôn.
– Phải.
Con bé tháo sợi chỉ đỏ ra khỏi cái chìa, buộc lại cho chặt, thắt ba nút, rồi quấn quanh cái chìa hai vòng, như người ta buộc chỉ cổ tay cho con nít đầy tháng.
Ba ngày sau đó yên ả. Nhặt bắt đầu ngâm hạt rau muống trong túi vải ướt, như bà Năm Lò dặn. Ông Gù chỉnh lại máy lọc khí. Mũi Lao không nhắn thêm gì. Nhặt cũng không trả lời lời nhắn đầu tiên. Nó nghĩ mãi mà không biết nói gì với một người ở cách mình ba mươi mấy giây.
Sáng ngày hai mươi lăm tháng Tám, lúc Nhặt đang tập thể dục, cả tàu kêu lên một tiếng.
Không phải tiếng động cơ. Tiếng động cơ thì nó quen rồi. Đây là một tiếng rít dài, cao, chói, phát ra từ cái loa báo động ở trần khoang, và nó vang mãi không dứt. Đèn trong tàu chuyển sang màu vàng.
Ông Gù đã đứng dậy trước khi nó kịp hỏi. Ông lướt về phía cửa buồng máy, tay phải mở cửa, tay mềm giữ khung. Nhặt bám theo.
Bên trong buồng máy, ở chỗ mấy cái ống dẫn khí đẩy từ bồn chạy về động cơ, có một làn hơi trắng mỏng đang phụt ra. Nó phụt ra từ một cái van, cái van có một đường hàn vá sáng màu thép còn mới chạy vòng quanh thân như vết sẹo.
– Van nứt. – Ông Gù nói.
Ông lấy tay phải vặn cái khóa trước van. Làn hơi trắng yếu đi, rồi tắt. Tiếng báo động vẫn rít. Ông nhìn cái đồng hồ trên vách, đọc to, như ông vẫn đọc mọi con số:
– Mất chín phần trăm khí đẩy.
– Chín phần trăm là sao ông?
– Bồn còn tám phần mười lúc rời trạm. Đủ đi, không dư. Giờ không đủ.
Nhặt nhìn cái van, nhìn đường hàn vá như vết sẹo, nhìn ông Gù. Ông Gù không nhìn nó. Ông đang tính. Nó nghe tiếng lách cách trong ngực ông chạy nhanh hơn mọi khi, nhanh như mưa đá.
– Không đủ tới Vành Ngọc. – Cuối cùng ông nói. – Còn thiếu chừng mười tám ngày đường. Phải ghé lại một chỗ để mua van, mua khí.
– Chỗ nào?
Ông Gù quay về phía buồng lái. Trên màn hình bên phải, giữa Lão Đồng và Thanh Thổ, có một chấm nhỏ màu bạc mà con đường đứt nét màu vàng của họ chỉ đi lướt qua bên cạnh.
– Chợ Hòn Lăn. – Ông nói. – Ở đó có bán van đời cũ. Ở đó ai trả tiền thì người đó là chủ.
— Hết chương 10 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe