Chương 12: Chợ Hòn Lăn
Chợ Hòn Lăn nằm trong bụng một hòn đá, và cái đầu tiên Nhặt ngửi thấy khi cửa tàu mở ra là mùi mì nước.
Không phải mùi cháo cá khô của bà Năm Lò. Đây là mùi xương hầm lâu, mùi hành phi, mùi hồi quế, mùi nước tương cháy cạnh, trộn với mùi khói hàn và mùi nhang. Nó đặc quánh, nóng hổi, ùa vào khoang tàu như một đám đông chen nhau vào cửa. Con bé đứng sững ở cửa khóa khí, hít vào một hơi, rồi một hơi nữa. Ba mươi bốn ngày ăn gạo sấy với bột đậu, cái bụng nó kêu lên một tiếng to tới mức ông Gù quay đầu lại.
– Đói. – Ông nói.
– Không đói.
– Bụng con kêu bốn mươi hai đề-xi-ben.
– Ông im đi.
Hòn Lăn từ bên ngoài trông chẳng có gì. Một hòn đá xám to chừng ba cây số, méo mó như củ khoai, lăn chầm chậm giữa vành đá trôi nằm giữa đường từ Lão Đồng về Thanh Thổ. Nhưng một đầu của nó có một cái hang lớn khoét sâu vào lòng đá. Miệng hang được bít lại bằng một tấm màng kín khí khổng lồ, có những cái cửa tròn mở ra mở vào cho tàu chui qua. Ông Gù lái Sẻ Đồng chui qua cửa số Tám, chậm, rất chậm, vì trong hang chật cứng những tàu là tàu. Tàu quặng cũ kỹ như cái hộp thiếc. Tàu kéo nhỏ như con cá. Tàu chở nước to như cái bồn. Chúng neo vào những cái cột đá nhô ra từ vách hang, dây neo chằng chịt như mạng nhện.
Rồi Nhặt thấy đèn lồng.
Hàng nghìn cái đèn lồng giấy. Đỏ, vàng, xanh lá, tím, cam. Chúng treo dọc theo những dây cáp căng ngang vách hang, treo trên mái những căn nhà làm bằng thùng hàng cũ đục cửa sổ, treo ở đầu những cái cầu tàu dài thượt bắc từ vách ra. Hòn Lăn quay chậm, nên trong hang có một chút trọng lực, nhẹ lắm, nhẹ hơn trạm nhiều. Mấy cái đèn lồng không treo thẳng mà nghiêng nghiêng về một phía, đung đưa, như có gió.
– Đẹp quá ông Gù. – Con bé nói. Lần thứ hai trong chuyến đi nó nói câu đó.
– Phải. – Ông Gù nói. – Đèn lồng ở đây là của dân tàu quặng. Mỗi lần tàu đi xa về, người ta treo một cái. Tàu không về thì người nhà treo một cái màu trắng.
Nhặt nhìn kỹ hơn. Giữa rừng đèn lồng màu, lâu lâu có một cái màu trắng.
Sẻ Đồng neo vào cột số Tám mươi bảy, cột cuối cùng của dãy cầu tàu phía tây, cột xa nhất, rẻ nhất. Ông Gù tắt máy. Tiếng ù ù dưới sàn mà Nhặt đã nghe suốt ba mươi bốn ngày tắt đi, để lại một khoảng im lặng lạ hoắc, như tai người ta vừa bị ai rút nút ra. Rồi tiếng chợ tràn vào. Tiếng rao. Tiếng mặc cả. Tiếng búa gõ vào sắt. Tiếng một cái loa đâu đó đang phát một bài hát cũ rè rè. Tiếng người.
Chưa kịp bước ra, đã có người gõ cửa tàu.
Đó là một bà già thấp, mập, da đen sạm, tóc cắt ngắn ngang tai nhuộm màu đỏ đồng đã phai. Bà mặc một cái áo khoác thợ máy rộng thùng thình, tay áo xắn cao để lộ hai cánh tay đầy sẹo bỏng chằng chịt. Bà đứng ở đầu cầu tàu, một tay chống nạnh, một tay cầm một cái máy tính bảng nhỏ đã nứt màn hình. Sau lưng bà là hai thằng con trai lực lưỡng mặc đồ thợ, đứng khoanh tay.
– Tàu Sẻ Đồng. – Bà đọc trên cái máy, không ngẩng lên. – Tàu kéo đời Hải Âu. Không đăng ký cảng nhà. Không bảo hiểm. Chủ tàu là ai?
– Dạ, con. – Nhặt nói.
Bà già ngẩng lên. Bà nhìn Nhặt từ đầu xuống chân, từ cái áo khoác thợ hàn xanh cổ vịt dài quá gối xắn tay ba vòng, xuống tới đôi giày từ cũ mòn đế. Rồi bà nhìn ông Gù đứng sau lưng con bé, cái lưng gù, đôi đèn mắt vàng chanh, cái bàn tay mềm màu kem.
– Bây giỡn với tao hả?
– Dạ không. Tàu của má con. Má con mất rồi. Giờ là của con.
– Bây mấy tuổi?
– Mười một.
Bà già khịt mũi một tiếng to như cái ống bễ.
– Tao là Bảy Sầm. – Bà nói. – Dãy cột từ tám mươi tới chín mươi là của tao. Ai neo ở đây thì trả tiền cho tao. Bốn trăm nghìn một ngày. Đặt trước ba ngày. Một triệu hai.
Nhặt quay vào tàu, lục cái túi vải bốn ký. Ở dưới đáy túi, gói trong giấy dầu, có một xấp tiền. Đó là tiền thằng Kíp để dành cả năm ở Nhà Chung, dúi cho nó hôm cuối. Thêm một gói nữa nó tìm thấy trong cái hộp bánh bột đậu của bà Năm Lò, kẹp dưới lớp giấy lót, không có lời nhắn. Cộng lại hai triệu tám trăm nghìn. Nó đếm ra một triệu hai, đưa cho bà Bảy Sầm.
Bà Bảy đếm lại. Đếm bằng ngón tay cái liếm nước miếng, nhanh như máy. Rồi bà nhét tiền vào túi áo.
– Ba ngày. – Bà nói. – Ngày thứ tư không trả là tao cắt dây neo, kéo tàu bây ra bãi chờ bán.
Bà quay lưng định đi.
– Bà ơi. – Nhặt gọi.
– Gì?
– Ở đây có bán van dẫn khí đẩy đời Hải Âu không bà?
Bà Bảy dừng lại. Bà quay đầu nhìn con bé, rồi nhìn ông Gù, rồi nhìn chiếc Sẻ Đồng, nhìn từ mũi tàu có con chim sẻ vẽ vụng tới cái đuôi xòe ba cánh ngắn ngủn.
– Van nứt hả?
– Dạ. Nứt hai lần rồi.
– Tàu Hải Âu mà. Van nó nứt như trứng gà. – Bà nói. Rồi bà hất đầu về phía cuối dãy cầu tàu. – Đi theo tao.
Ba người đi theo bà Bảy dọc cầu tàu, rồi rẽ vào một con hẻm hẹp chạy giữa hai dãy nhà thùng hàng. Hẻm đông nghẹt. Nhặt chưa bao giờ thấy nhiều người như vậy trong một chỗ hẹp như vậy, ngay cả hồi nhà ăn bà Năm Lò còn đông nhất. Người ta đi qua đi lại, vai chạm vai. Đàn ông râu ria, áo dính dầu. Đàn bà quấn khăn trên đầu, tay xách giỏ. Con nít chạy chân đất, la hét. Hai bên hẻm là quầy hàng. Một quầy bán ốc vít, ốc vít đổ thành đống như đống đậu phộng. Một quầy bán dây điện cuộn tròn. Một quầy bán cây kiểng trồng trong vỏ bình khí. Một quầy bán đèn lồng giấy, có một ông già đang ngồi dán giấy đỏ lên khung tre, tay thoăn thoắt. Một quầy bán mì nước, nồi nước dùng to bằng cái lu sôi sùng sục, khói bốc lên che mất nửa mặt bà chủ quán.
Nhặt nhìn nồi mì, bụng lại kêu.
– Bốn mươi lăm đề-xi-ben. – Ông Gù nói nhỏ.
Con bé thúc cùi chỏ vào hông ông, chỉ làm đau cùi chỏ mình.
Tiệm phụ tùng của bà Bảy Sầm nằm cuối hẻm, trong một cái thùng hàng to gấp ba những cái khác, bên trong tối om, chất đầy những kệ sắt cao tới trần. Mùi dầu nhớt, mùi sắt, mùi bụi. Bà Bảy bật đèn, đi thẳng vào kệ thứ tư, kéo ra một cái hộp gỗ. Trong hộp, nằm trên lớp mùn cưa, là một cái van.
Nó y hệt cái van trong buồng máy Sẻ Đồng. Chỉ khác là nó không có đường hàn vá nào.
– Van Hải Âu. – Bà Bảy nói. – Hàng tháo từ tàu còn chạy được. Hai mươi bảy triệu.
Nhặt nghe như ai vừa đập cái nắp nồi bên tai.
– Hai… hai mươi bảy triệu?
– Hai mươi bảy. Không bớt. Ở cả cái vành đá này có đúng ba cái van đời Hải Âu còn tốt. Một cái tao giữ. Hai cái kia ở trên tàu người ta, người ta không bán.
– Con có một triệu sáu.
Bà Bảy nhìn con bé như nhìn một con mèo hoang lạc vào tiệm.
– Còn khí đẩy nữa. – Ông Gù nói. – Bồn thiếu chín phần trăm. Nạp lại tốn bao nhiêu?
– Tám triệu.
Ông Gù im. Nhặt nghe tiếng lách cách trong ngực ông. Nó không cần nghe ông tính cũng biết. Hai mươi bảy cộng tám. Ba mươi lăm triệu. Má làm thợ hàn bốn tháng không ăn không uống.
Bà Bảy đóng hộp van lại, cất về kệ. Bà đi ra cửa tiệm, ngồi phịch xuống một cái thùng sơn úp ngược, móc trong túi áo ra một cái tẩu thuốc lá cũ mèm. Bà không châm. Ở trong hang này không ai được đốt lửa ngoài lò hàn. Bà chỉ ngậm cái tẩu, nhai nhai đầu ống, nhìn ông Gù.
– Con máy của bây làm nghề gì?
– Thu gom ngoài vỏ. – Ông Gù nói. – Cắt xác tàu. Ba mươi năm.
– Cắt nhanh không?
– Ba trăm sáu mươi tám tấn, mười bốn ngày.
Bà Bảy rút cái tẩu ra khỏi miệng.
– Ở cột chín mươi có cái xác tàu quặng tên Lưng Rùa. – Bà nói. – Một trăm hai chục tấn. Tàu của thằng cha nào đó chết nợ, bỏ lại cho tao trừ tiền neo. Tao có mối mua sắt, sáu ngày nữa người ta tới lấy, mà người ta chỉ lấy sắt đã cắt thành tấm. Thợ cắt của tao ba đứa, đứa nào cũng đang có việc. Bây cắt cho tao xong cái Lưng Rùa trước sáu ngày, tao đưa bây cái van, nạp đủ khí, miễn tiền neo cho tới lúc bây đi.
Nhặt quay sang nhìn ông Gù. Ông Gù đang tính.
– Một trăm hai chục tấn. – Ông nói. – Bốn ngày.
– Ba ngày. – Bà Bảy nói. – Tao cần dư ra ba ngày cho thằng mua kiểm hàng.
– Bốn ngày. – Ông Gù nói. – Gù cắt nhanh hơn thì cắt ẩu. Cắt ẩu thì xác tàu xì khí. Lưng Rùa còn khí trong khoang không?
Bà Bảy nhìn ông. Lần này bà nhìn lâu hơn.
– Còn. Ba khoang chưa xả.
– Vậy bốn ngày.
Bà Bảy ngậm lại cái tẩu. Rồi bà gật đầu, một cái gật ngắn, gọn, như người ta đóng dấu.
– Bốn ngày. Mai bắt đầu. Sáu giờ sáng. Trễ một phút là thôi.
Bà đứng dậy, phủi cái quần, đi vào trong tiệm. Tới cửa thì bà dừng, quay đầu lại, nhìn Nhặt.
– Mà nè, con nhỏ.
– Dạ?
– Bây đói thì ra quán bà Mười đầu hẻm, ăn một tô mì. Nói tao bảo. Ghi sổ tao.
Nhặt chưa kịp cảm ơn, bà đã đi mất vào trong cái bóng tối của những kệ sắt.
Tô mì ở quán bà Mười đầu hẻm là tô mì ngon nhất đời Nhặt. Nó biết vậy, dù đó là tô mì đầu tiên đời nó. Sợi mì vàng, dai, nước dùng trong, ngọt lịm, có hai lát thịt mỏng, một nhúm hành lá, một trái trứng cút. Nó húp sạch tới giọt cuối cùng, rồi ngồi nhìn cái tô không. Ông Gù ngồi bệt dưới đất cạnh cái ghế đẩu, cái lưng gù tựa vào chân bàn.
– Bà Bảy tốt ghê ông.
– Bà Bảy làm ăn. – Ông Gù nói. – Một trăm hai chục tấn sắt cắt thành tấm, bà bán được ba trăm triệu. Một cái van với tám triệu khí là rẻ.
– Ông nói vậy chứ bà vẫn cho con ăn mì.
– Phải. – Ông Gù thừa nhận. – Vẫn cho ăn mì.
Hai ông cháu về tàu khi đèn lồng trong hang chuyển sang màu tối. Ở Hòn Lăn người ta không tắt đèn lồng ban đêm. Người ta chỉ vặn nhỏ lại, để cả hang chìm trong một thứ ánh sáng đỏ mờ mờ như than hồng. Nhặt đi trên cầu tàu, nhìn những cái đèn lồng trắng lẫn giữa rừng đèn đỏ, đếm. Được mười chín cái thì tới cột tám mươi bảy.
Bà Bảy Sầm đang đứng ở đó, cạnh dây neo của Sẻ Đồng. Hai thằng con trai lực lưỡng không có theo. Bà đứng một mình, tay cầm cái tẩu, mặt không vui không buồn.
– Nói bây biết cái này. – Bà nói khi hai người tới gần. – Cho bây tính.
Nhặt dừng lại. Ông Gù dừng lại sau lưng nó.
– Chiều nay cảng nhận được tin. – Bà Bảy nói. – Một tàu công ty, tên Mũi Lao, báo sẽ cập Hòn Lăn. Sau hai ngày nữa. Trong tin có hỏi thăm. Hỏi có thấy một con máy gù lưng, tay trái là tay máy y tá, đi với một đứa con gái nhỏ không.
Nhặt cảm thấy cái lạnh trong lòng ngực, cái lạnh từ đêm cái lỗ bằng hạt thóc, quay trở lại.
– Bà… bà trả lời sao?
Bà Bảy Sầm ngậm cái tẩu, nhai nhai đầu ống. Bà nhìn ra rừng đèn lồng đỏ mờ trong hang.
– Tao chưa trả lời. – Bà nói. – Ở Hòn Lăn, ai trả tiền neo thì người đó là chủ. Bây trả rồi. Mà người ta cũng có tiền.
— Hết chương 12 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe