Chương 32: Hòa giải sớm
Năm giờ sáng ngày hai mươi ba tháng Chạp, bà Rỡ mở cái khăn vải ướt trong rổ tre ở góc bếp, và Nhặt đếm được bảy cái chấm trắng.
Bảy hạt thóc đã nứt vỏ ở đầu, thò ra một cái mầm trắng nhỏ bằng đầu kim, trắng như hạt muối. Ba hạt kia nằm im, vỏ vàng sẫm, không động tĩnh gì.
– Nứt nanh. – Bà Rỡ nói. – Bảy.
Bà không cười. Bà chỉ cầm cái rổ tre lên, đưa lại sát mắt, nhìn từng hạt. Rồi bà đặt cái rổ xuống, đặt xuống chậm, như sợ làm mấy cái mầm giật mình.
– Mười bốn năm. – Bà nói. – Bảy hạt.
Nhặt ngồi bệt xuống nền bếp, cạnh cái rổ. Nó không nói được. Nó chỉ nhìn bảy cái chấm trắng nhỏ bằng đầu kim. Má mang theo hai trăm hai mươi hạt. Rơi mất sáu. Đếm mười một cái Tết. Cất trong tủ lạnh âm sâu nhà bà Năm Lò. Qua vành bức xạ Lão Đồng. Qua Hòn Lăn. Qua bốn mươi ngày trên Mũi Lao. Qua cái tàu con thoi rung bốn mươi phút.
Bảy hạt còn sống.
Ngoài sân, gió đã bắt đầu lên. Cây mít sau nhà kêu xào xạc.
Sáu giờ, chị Mến tới. Chị không dắt xe vào sân. Chị đứng ở cổng, áo mưa trùm kín đầu, nói nhanh.
– Anh Trượng, công ty xin dời phiên hòa giải lên sáng nay, tám giờ. Anh Huân nói mai công ty nghỉ Tết, anh ấy phải về Bích Hải chuyến xe trưa nay, không thì kẹt bão. Xã đồng ý rồi, nếu anh đồng ý.
Trượng đứng ở hiên, nhìn bà Rỡ, nhìn con bé.
– Dạ. – Anh nói. – Tôi đồng ý.
Bảy giờ, có một người gõ cổng nhà bà Rỡ.
Bác Lẫm đứng đó, tóc ướt, kính ướt, cái áo khoác đồng phục công ty đã nhăn lại càng nhăn hơn, tay xách một cái túi vải. Bác đi chuyến xe khách đêm từ Bích Hải, xuống bến xe Ngã Ba Sương lúc năm giờ sáng, đi xe ôm vào.
– Bác tính tới sớm vài ngày. – Bác nói, khi Nhặt chạy ra mở cổng. – Coi giùm tụi con chuẩn bị. Ai ngờ xã dời lên hôm nay.
Nhặt nhìn bác. Rồi nó cúi chào, cúi sâu. Rồi nó không chịu nổi, nó ôm bác một cái, ôm nhanh, rồi buông ra. Bác Lẫm đứng sững, kính trễ xuống mũi.
Trụ sở ủy ban xã Cồn Gạo là một dãy nhà một tầng sơn vàng, có cái sân rộng trồng hai cây bàng. Phòng hòa giải nằm ở cuối dãy. Trong phòng có một cái bàn dài phủ khăn xanh, mấy cái ghế nhựa, một cái quạt trần không quay, một tấm bảng trắng. Cửa sổ mở ra sân. Lúc tám giờ, ngoài cửa sổ đã có cả chục người đứng, toàn người xóm Bờ Đê. Bà Hai Sen đứng đầu. Thằng Lộc đứng sau. Ông già chống gậy hôm trước đứng giữa.
Chị Mến ngồi ở đầu bàn. Anh Huân ngồi một bên, cặp da đặt trên đùi, kính gọng mảnh, bộ đồ văn phòng cài nút tới cổ. Bên kia là Trượng, bà Rỡ, bác Lẫm, Nhặt. Ông Gù đứng ở cuối phòng, sát tường, vì không có ghế nào vừa. Đầu ông chạm cái quạt trần.
– Xin phép chị, tôi nói trước. – Anh Huân nói.
Anh ta nói ngắn, rõ, giọng đều, như đọc một tờ giấy đã viết sẵn. Máy thu gom TG-9 số 0447, theo sổ đăng ký, thuộc sở hữu của Công ty Khai Thác Ngoài Vành từ năm hai trăm tám mươi mốt. Năm đó tỉnh Đồng Sương bán thanh lý các máy pin đồng vị không thay pin được. Máy đã rời hàng chờ lò tại Bến Sắt ngày mười bốn tháng Tám, có biên bản. Tàu kéo Sẻ Đồng, tài sản đang thu hồi, đã bị bán cho bên thứ ba tại chợ Hòn Lăn mà không có ý kiến công ty. Cán bộ Mạc Quang Trượng tự ý giải tỏa kê biên, tự ý đứng tên giám hộ máy. Công ty đề nghị: hoặc giao trả máy, hoặc bồi thường giá trị máy theo sổ sách, một trăm hai mươi triệu.
Anh ta ngừng lại. Rồi anh ta nói thêm, không nhìn tờ giấy:
– Tôi không nói anh Trượng là người xấu. Tôi không nói cái máy này không đáng thương. Tôi chỉ nói những gì có trong giấy. Ở đây là phòng hòa giải, tôi phải nói giấy.
Chị Mến gật đầu, ghi chép. Rồi chị nhìn sang phía bên kia bàn.
– Bác Rỡ.
Bà Rỡ ngồi im một lúc. Rồi bà nói.
– Cái máy này của làng. Nó giữ cống Mỏ Cò mười chín năm. Tao không có giấy. Tao có cái chữ con tao khắc trên lưng nó.
Anh Huân nhìn bà, nhìn lâu. Rồi anh ta nói, rất nhẹ:
– Dạ, bác. Con có nghe chuyện cái chữ. Cả xã nói. Mà bác ơi, chữ khắc không phải giấy chủ quyền. Năm hai trăm tám mươi mốt, tỉnh đã bán cái máy này cho công ty. Làng không có tiền thay pin, nên tỉnh bán. Cái đó có giấy.
Bà Rỡ không cãi. Bà chỉ ngồi đó, hai tay đặt trên đùi, nhìn xuống mặt bàn phủ khăn xanh. Nhặt nhìn bà. Nó chưa bao giờ thấy bà Rỡ không cãi.
– Anh Trượng?
Trượng ngồi thẳng lưng.
– Tôi là người giám hộ của cái máy này theo Luật Pin Đồng Vị. Tôi đã ký. Tôi không giao nó. Công ty muốn kiện tôi về tiền thì kiện. Tôi trả được bao nhiêu thì trả. – Anh ngừng lại. – Tôi không có gì để nói thêm. Tôi không có giấy nào hay hơn giấy của công ty.
Chị Mến ghi. Rồi chị ngẩng lên.
– Còn bác? – Chị nhìn bác Lẫm. – Bác là…
– Thạch Văn Lẫm. Nguyên trưởng ban đóng trạm Bến Sắt. – Bác Lẫm nói. Bác đứng dậy, dù không ai bảo đứng. – Tôi xin nói hai chuyện. Một chuyện có giấy. Một chuyện không có.
Anh Huân ngẩng lên.
– Chuyện có giấy. – Bác Lẫm nói, giọng đều, giọng của người đọc văn bản ba chục năm. – Ngày hai tháng Bảy năm nay, Ban Đóng Trạm niêm yết danh sách máy đưa vào lò số Hai theo quy định của công ty. Quy định đó tôi đọc lên loa. Tôi nhớ từng chữ. Máy đời cũ trên bốn mươi năm tuổi, do chi phí chuyên chở vượt giá trị sử dụng, sẽ được tháo pin và đưa vào lò để thu hồi kim loại. Máy số 0447 có tên trong danh sách đó. Theo quy định của chính công ty, cái máy này không phải là một cái máy đáng một trăm hai mươi triệu. Nó là sắt thu hồi.
Anh Huân mở cặp ra, lật tìm một tờ giấy. Anh ta không nói gì.
– Chuyện không có giấy. – Bác Lẫm nói.
Giọng bác đổi. Không còn là giọng đọc văn bản. Nó trầm xuống, chậm hơn, như giọng người ta đi đưa tin buồn mà không biết cầm cái tin ấy bằng tay nào.
– Ngày mười bốn tháng Tám, tôi đứng ở đầu băng chuyền lò số Hai. Tôi có một con máy lau nhà. Loại rẻ nhất. Số 1188. Tôi gọi nó là Chổi. Nó theo tôi ba mươi năm, từ hồi tôi hai mươi tám tuổi. Nó có tên trong cùng cái danh sách đó.
Trong phòng im phăng phắc. Ngoài cửa sổ, gió thổi qua hai cây bàng, lá rơi.
– Tôi đặt nó lên băng chuyền. Tôi tự tay đặt. – Bác Lẫm nói. – Tôi làm đúng quy định. Tôi là người đọc quy định, tôi phải làm đúng trước. Tôi không làm sai cái gì hết.
Bác dừng lại. Bác gỡ kính ra, cầm trong tay, không lau.
– Tôi đã đưa một cái vào rồi. – Bác nói. – Tôi xin cái phòng này, đừng ai phải làm đúng quy định như tôi nữa.
Bác ngồi xuống.
Không ai nói gì rất lâu. Chị Mến ngồi im, cây bút dừng trên giấy. Ngoài cửa sổ, bà Hai Sen đưa tay lên che miệng. Nhặt nhìn bác Lẫm. Bác ngồi thẳng lưng, cặp kính nứt cầm trong tay, mắt nhìn thẳng ra trước, không chớp.
Anh Huân là người lên tiếng trước. Anh ta đóng cặp lại.
– Tôi xin phép ghi lại ý kiến của bác. – Anh ta nói. Giọng anh ta vẫn đều, mà chậm hơn. – Chuyện quy định bốn mươi năm, tôi phải báo về công ty. Tôi không tự quyết được. Mai công ty nghỉ Tết. Sớm nhất là sau Tết.
Chị Mến gật đầu.
– Vậy hôm nay chưa xong. – Chị nói. – Hẹn phiên sau, mùng tám tháng Giêng. Còn đơn xin tạm giữ máy của công ty?
– Công ty vẫn đề nghị giữ máy tại trụ sở xã cho tới phiên sau. – Anh Huân nói. – Để đảm bảo tài sản không bị di chuyển.
– Ổng phải sạc pin. – Nhặt nói, trước khi ai kịp nói. – Ngày nào cũng phải đi Ngã Ba Sương sạc. Không sạc là ổng tắt. Tắt quá hai giờ là ổng quên.
Anh Huân nhìn con bé. Rồi nhìn ông Gù đứng ở cuối phòng.
– Tôi không biết chuyện đó. – Anh ta nói. Rồi anh ta nói thêm, nhỏ hơn: – Trong giấy không ghi.
– Gù ở lại. – Ông Gù nói.
Cả phòng quay lại nhìn ông.
– Gù ở lại trụ sở xã. – Ông nói. – Không đi đâu. Gù nằm yên thì pin chạy lâu hơn.
Quạt không kêu.
Trượng nhìn ông Gù. Rồi anh đứng dậy.
– Vậy tôi đem bộ sạc tới đây. – Anh nói. – Tối nay.
– Ông Sáu Đường không cho mượn. – Nhặt nói.
– Ba hỏi lại.
Anh đi ra hành lang, bấm máy. Nhặt nghe tiếng anh nói nhỏ, nghe tiếng ông Sáu Đường nói to ở đầu dây bên kia, nghe chữ "bão", chữ "tội". Mười phút sau anh quay vào.
– Ông Sáu cho mượn đêm nay. – Anh nói. – Sáu giờ chiều ổng đóng xưởng, tôi lên chở về.
Chị Mến ghi biên bản. Mười một giờ, anh Huân ra bến xe. Chuyến xe trưa đi Bích Hải không chạy. Bến xe báo đường đê đoạn Gò Sậy đã bắt đầu ngập. Anh ta quay lại trụ sở xã, đứng dưới mái hiên, cái cặp da kẹp trong nách, nhìn mưa.
Ông Gù nằm xuống cái bàn dài phủ khăn xanh trong phòng hòa giải, vì không có chỗ nào khác đủ dài. Ông vặn đèn mắt xuống thành hai đốm cam mờ, như hồi nằm trong khoang hàng Mũi Lao.
Bốn giờ chiều, Trượng mượn được chiếc xe máy của thằng Lộc, chạy lên Ngã Ba Sương sớm hai tiếng cho chắc. Năm giờ rưỡi anh quay về, người ướt sũng, bùn tới đầu gối.
– Đường đê đoạn Gò Sậy ngập nửa thước. – Anh nói. – Nước chảy xiết. Xe không qua được. Đường trong ruộng thì sụt một khúc.
Nhặt đứng ở hiên trụ sở xã, nhìn anh, nhìn vào trong phòng, nơi hai đốm cam mờ trên mặt ông Gù vẫn sáng.
Thằng Lộc chạy tới, áo mưa rách một bên vai.
– Nước chiều lên sớm. – Nó nói, thở hồng hộc. – Tụi con quay cống. Quay được nửa chừng thì nghe cái rắc trong hộp số. Bánh răng trượt. Cánh cống kẹt, hở một gang tay.
Trong phòng hòa giải, trên cái bàn dài phủ khăn xanh, ông Gù còn chín giờ pin. Nằm yên ngủ nông thì kéo được tới sáng. Đứng dậy làm nặng thì không ai biết còn được bao lâu.
— Hết chương 32 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe