Chương 7: Tường tro
Ở Bến Sắt, người chết được để trong một bức tường có hai nghìn bốn trăm cái cửa nhỏ, và đêm nào cũng có ít nhất một ngọn nến điện còn sáng.
Người ta gọi chỗ đó là phòng Lặng. Phòng nằm ở vòng Một, cuối hành lang phía đông, sau một cánh cửa gỗ thật, cánh cửa gỗ duy nhất trên cả trạm. Gỗ mít chở từ dưới Đất lên từ hồi trạm mới xây, đã đen bóng vì tay người sờ. Trong phòng không có ghế, không có bàn thờ, không có tượng. Chỉ có một bức tường cong ôm lấy ba mặt phòng, cao từ sàn tới trần, chia thành những ô vuông nhỏ bằng hai bàn tay, mỗi ô có một cánh cửa đồng, trên cửa có một tấm biển tên. Trước mỗi cửa có một cái gờ nhỏ để đặt nến điện.
Đêm ngày chín tháng Tám, lúc mười một giờ, có mười bảy ngọn nến điện đang sáng. Nhặt đếm.
Một trong mười bảy ngọn là của nó.
Ô của má nằm ở hàng thứ sáu từ dưới lên, cột thứ một trăm hai mươi tư từ cửa vào, ngang tầm mắt con bé nếu nó kiễng chân. Tấm biển đồng khắc: Hà Thị Ươm. 273 – 310. Tháng nào Nhặt cũng tới đây ít nhất một lần, đặt một cái nến điện mua bằng tiền dành dụm ở quầy tạp hóa vòng Hai, ngồi bệt xuống sàn kể chuyện cho má nghe. Kể chuyện bà Năm Lò mắng ai. Kể chuyện ông Gù cắt được cái xác nào. Kể chuyện thằng Kíp lại thi toán đứng bét. Nó kể nhỏ, vì phòng Lặng là phòng phải nói nhỏ, mà kể xong thì thấy nhẹ người, như vừa uống một ly nước mát.
Đêm nay nó không kể chuyện gì. Nó đứng trước ô của má, tay cầm cái tua vít của má.
– Mày… mày chắc chưa? – Thằng Kíp đứng sau lưng nó, thì thào. – Bác Lẫm nói phải có người lớn ký.
– Tao xin bác Lẫm hai lần rồi.
– Tao biết.
– Bác nói tro má tao sẽ bị tiễn vào bão. Tiễn vào bão là sao mày biết không?
Thằng Kíp không trả lời. Nó biết. Cả trạm ai cũng biết. Ngày đóng trạm, người ta sẽ mở hết hai nghìn bốn trăm cái cửa, đổ hết tro vào một cái bồn, rồi phóng cái bồn ấy về phía Lão Đồng. Cái bồn sẽ rơi suốt mấy ngày, nóng dần, cháy dần, rồi tan vào cơn bão màu đồng, không còn lại một hạt bụi. Công ty gọi đó là lễ tiễn. Bác Lẫm gọi đó là lệ. Má Nhặt thì đã có lần, ngồi trong phòng Lặng thắp nến cho một ông thợ hàn chết vì xì khí, nói một câu mà con bé nhớ hoài: "Chết rồi mà cũng không được về nhà."
Nhặt đặt mũi tua vít vào con vít đầu tiên trên khung cửa đồng.
Cửa các ô trong tường tro không khóa. Ai cũng mở được, để thắp nến, để lau bụi, để bỏ vào một tấm hình, một cánh hoa giấy. Nhưng phía sau cửa có một tấm chắn kim loại vặn bốn con vít, để giữ cho hũ tro khỏi rơi ra khi trạm rung. Má có kể. Ngày đưa tro má vào đây, chính ông Gù đã vặn bốn con vít ấy.
Con vít đầu tiên kẹt. Nhặt nghiến răng, xoay. Nó kêu ken két, rồi chịu ra. Con thứ hai dễ hơn. Con thứ ba. Con thứ tư.
Nhặt gỡ tấm chắn ra, đưa cho thằng Kíp cầm. Rồi nó thò tay vào.
Hũ tro của má bằng gốm trắng, cao chừng một gang, tròn như cái bình trà, nặng trĩu trong hai tay con bé. Nó lạnh. Nhặt ôm nó vào ngực, nghe tim mình đập vào lớp gốm. Rồi nó định cúi xuống, đặt hũ vào cái túi vải bốn ký nó đeo sẵn bên hông.
Thì nó thấy.
Trong ô, phía sau chỗ hũ tro của má vừa đứng, sát vách trong cùng, còn một cái hũ nữa.
Cái hũ ấy nhỏ xíu. Nhỏ bằng nắm tay của nó. Cũng bằng gốm trắng, cũng tròn tròn, nắp đậy kín bằng sáp. Trên thân hũ không có tên. Chỉ có mấy chữ khắc vụng, nét run, như khắc bằng mũi kim:
14 tháng Tư năm 300.
Nhặt đứng im rất lâu.
– Gì… gì vậy? – Thằng Kíp ghé đầu qua vai nó.
– Ngày sinh của tao.
– Hả?
– Mười bốn tháng Tư năm ba trăm. Ngày sinh của tao.
Thằng Kíp nhìn cái hũ nhỏ, rồi nhìn Nhặt, rồi nhìn cái hũ nhỏ.
– Trong… trong đó có gì?
Nhặt không biết. Nó đưa tay ra, chạm vào cái hũ nhỏ. Lạnh như hũ của má. Nhẹ hơn. Nhẹ lắm. Nó nhấc lên, cầm trong lòng bàn tay, và cái hũ nằm gọn trong đó như một quả trứng.
Rồi nó nhớ ra một chuyện.
Hồi nó lên tám, có một đêm má say. Má không hay uống, cả năm chỉ uống vào đêm giao thừa, một ly rượu nếp nhỏ bằng hai đốt ngón tay, uống xong là đỏ mặt, nói nhiều. Đêm giao thừa năm đó, má ngồi trên tấm nệm ở xưởng sửa máy, tựa lưng vào ông Gù, kể chuyện ở quê. Má kể ở quê người ta đẻ con xong thì không vứt cái nhau đi, người ta chôn nó dưới gốc cây trước nhà, hay dưới bờ ao, bờ ruộng. Má nói chỗ chôn nhau là chỗ của mình, đi đâu xa cũng phải nhớ về chỗ đó, người ta gọi là chôn nhau cắt rốn. Má nói nhau của má chôn dưới gốc cây mít sau nhà bà ngoại. Rồi má nhìn Nhặt, im lặng một hồi lâu, rồi nói, giọng nhỏ hẳn lại: "Còn con thì chưa có chỗ."
Nhặt hỏi vậy chừng nào con có. Má không trả lời. Má ôm nó, hát bài Sẻ ơi, rồi ngủ thiếp đi trước cả nó.
– Cái nhau của tao. – Nhặt nói.
– Cái… cái gì?
– Ở quê má tao, đẻ con ra phải chôn cái nhau. Chôn ở quê. Chỗ đó là quê của mình. Má tao giữ cái nhau của tao lại. Để đem về chôn.
Thằng Kíp không hiểu nhiều lắm. Nó sinh ra trên trạm, ba má nó cũng sinh ra trên trạm, nó chưa nghe ai nói chuyện chôn nhau bao giờ. Nhưng nó thấy mặt Nhặt, và nó gật đầu.
– Vậy… vậy mày đem cả hai về.
– Ừ.
Nhặt bọc cái hũ nhỏ trong cái khăn tay của má, đặt vào túi vải, cạnh hũ của má. Rồi nó đứng dậy định lắp tấm chắn lại. Nó vừa cầm tấm chắn từ tay thằng Kíp thì sau lưng hai đứa, cánh cửa gỗ mít kêu lên một tiếng kẹt rất dài.
Hai đứa quay lại cùng một lúc.
Bác Lẫm đứng ở cửa. Bác mặc áo ngủ, khoác thêm cái áo đồng phục bên ngoài, chân đi dép. Một tay bác cầm một ngọn nến điện chưa bật. Dưới chân bác, con Chổi lăn vào trước, kêu tít tít hai tiếng, rồi dừng lại giữa phòng.
Không ai nói gì.
Bác Lẫm nhìn hai đứa trẻ. Nhìn cái tua vít trong tay Nhặt. Nhìn tấm chắn trong tay thằng Kíp. Nhìn cái ô trống ở hàng thứ sáu, cột thứ một trăm hai mươi tư. Rồi nhìn cái túi vải bên hông Nhặt, nơi hai cái hũ gốm trắng làm cái túi phồng lên.
Thằng Kíp lùi lại một bước, lưng chạm vào bức tường tro, làm mấy ngọn nến điện rung rinh.
– Bác… bác ơi… tụi con…
– Bác biết. – Bác Lẫm nói.
Bác bước vào. Bác không đi về phía hai đứa. Bác đi về phía bức tường bên trái, tới một ô ở hàng thứ hai từ dưới lên, cúi xuống, đặt ngọn nến điện lên cái gờ nhỏ, bật lên. Ánh nến vàng soi lên tấm biển đồng. Nhặt không đọc được tên, chỉ thấy hai con số: 254 – 296.
Bác Lẫm đứng trước ô đó một lúc. Rồi bác quay lại.
– Hai cái hũ hả?
Nhặt không trả lời được. Nó chỉ gật đầu.
– Hũ nhỏ là của ai?
– Của con. – Nhặt nói. – Cái nhau của con. Má con giữ để đem về quê chôn.
Bác Lẫm nhìn nó. Bác gỡ kính ra lau, lau rất lâu, rồi đeo lại. Bác không nói gì về cái hũ nhỏ. Bác chỉ hỏi:
– Con có biết bác vừa thấy cái gì không?
– Dạ… dạ thấy con lấy trộm tro má con.
– Không. – Bác Lẫm nói. – Bác không thấy gì.
Nhặt mở to mắt.
– Bác tới đây thắp nến. – Bác nói tiếp, chậm, như đang đọc lại một văn bản cho chính mình nghe. – Bác thấy phòng có hai đứa nhỏ ở Nhà Chung. Hai đứa nói tới thắp nến cho má. Bác nhắc hai đứa về ngủ. Vậy thôi. Ngày đóng trạm, người ta mở hai nghìn bốn trăm cái ô, đổ vào một cái bồn. Không ai cân từng ô. Không ai mở từng hũ.
Bác cúi xuống, nhặt tấm chắn khỏi tay thằng Kíp, tự tay đặt lại vào ô của má Nhặt, vặn từng con vít bằng ngón tay. Không chặt. Chỉ đủ cho nó không rơi ra.
Rồi bác đứng thẳng lên.
– Còn một chuyện. – Bác nói.
Giọng bác lần này khác. Không còn là giọng đọc văn bản. Cũng không phải giọng hiền như lúc nãy. Nó trầm, gọn, nghe như một người đã nghĩ suốt nhiều đêm về một câu nói, và giờ mới nói ra.
– Ảnh máy bay soi hầm mười bốn, bác xử lý xong rồi. Xử lý xong từ hôm hai mươi mốt tháng Bảy. Bác chưa đưa ai coi.
Nhặt cảm thấy hai đầu gối mình nhũn ra.
– Một chiếc tàu kéo đời Hải Âu. – Bác Lẫm nói tiếp. – Gần bảy chục năm tuổi. Van khí đẩy hàn vá. Cái người duy nhất từng lái được nó thì đã mất. Muốn đi về Đất bằng chiếc tàu đó, phải chờ đúng cửa sổ quăng quanh Lão Đồng. Cửa sổ năm nay ngày mười chín tháng Tám, bác biết. Một đứa con nít mười một tuổi với một cái máy thu gom năm mươi mốt tuổi, chưa từng bay xa hơn vành rác Hòn Mốc, đi tám chục ngày giữa không gian bằng một chiếc tàu như vậy.
Bác ngừng lại.
– Con có biết như vậy là liều mạng không?
Nhặt không trả lời. Nó không cãi. Nó không khóc. Nó chỉ đứng đó, hai tay ôm cái túi vải phồng hai cái hũ, mắt nhìn thẳng vào mắt bác Lẫm qua cặp kính nứt.
Bác Lẫm nhìn nó rất lâu.
– Đêm nay bác không thấy gì. – Cuối cùng bác nói. – Còn chuyện kia, bác chưa quyết.
Bác quay lưng, đi ra cửa. Con Chổi lăn theo sau. Tới cửa thì bác dừng lại, không quay đầu.
– Về ngủ đi. Hai đứa. Đi đường chính, đừng đi đường ống. Đường ống giờ này người ta đang thử áp suất.
Cánh cửa gỗ mít đóng lại sau lưng bác.
Năm ngày sau đó, Nhặt không gặp lại bác Lẫm lần nào. Bác không cho người xuống hầm mười bốn. Ông Trượng không xuống hầm mười bốn lần nữa, dù tấm thẻ "kiểm lại bằng máy dò khí" vẫn còn treo trên khối sắt gỉ. Tàu sơ tán thứ nhất cập bến, đón đi bốn trăm người, rồi rời bến. Nhà ăn của bà Năm Lò thưa thớt tới mức bà chỉ còn nấu nửa nồi cháo. Hai cái hũ tro nằm trong tủ khoang ngủ của Sẻ Đồng, bọc trong áo khoác xanh cổ vịt của má, buộc bằng dây an toàn.
Tối ngày mười bốn tháng Tám, ông Gù kéo Nhặt ra giữa xưởng sửa máy, xoay lưng lại, chỉ vào một lỗ nhỏ ở sau gáy ông, ngay dưới cái quạt tản nhiệt. Cái lỗ ấy vừa một cái chìa khóa.
– Nghe kỹ. – Ông nói. – Sáng mai tám giờ công ty phát lệnh gọi về. Lệnh gọi về đè lên mọi thứ trong đầu Gù. Gù sẽ tự đi tới lò số Hai, không quay lại được. Muốn Gù không đi thì trước lúc đó phải bật chế độ sửa chữa. Cái chìa bảo trì cô Ươm để trong hộp đồ nghề, ngăn dưới cùng, cái chìa có buộc sợi chỉ đỏ. Tối nay trước khi ngủ con lấy nó ra, cắm vào đây, vặn sang trái ba nấc. Đừng vặn sang phải. Vặn sang phải là Gù tắt hẳn, mất điện, mà Gù mất điện quá hai giờ là…
Ông ngừng lại giữa câu.
Không phải ông ngừng vì không muốn nói. Nhặt biết ngay. Hai đèn mắt vàng chanh của ông, đang sáng đều, bỗng chuyển sang màu trắng. Cái quạt sau gáy ông không rít. Nó im phăng phắc. Cả cái tiếng lách cách khẽ trong ngực ông, cái tiếng như ai lần chuỗi hạt mà Nhặt nghe suốt mười một năm, cũng tắt ngấm.
Ở cuối xưởng, hai cái máy TG-9 còn lại đang nằm sạc cũng mở mắt ra cùng một lúc. Mắt chúng cũng trắng.
– Ông Gù?
Ông Gù đứng thẳng dậy, thẳng nhất mà cái lưng gù của ông có thể. Ông quay người. Ông bước một bước về phía cửa xưởng. Rồi một bước nữa. Đều. Nặng. Không nhìn lại.
Đồng hồ trên tường xưởng chỉ chín giờ tối. Lệnh gọi về đã tới sớm mười một tiếng.
— Hết chương 7 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe