Chương 1: Năm đồng một cân
Cái thúng muối lật úp giữa lối chợ, muối trắng vãi ra đất bùn như ai rắc vôi.
– Muối lậu! – Cai Ngạnh hất cằm, mũi giày vải còn dính hạt muối. – Bán muối không có dẫn, giữa phiên chợ, trước mặt tuần đinh. Gan.
Viên Tố Quyên không cúi xuống nhặt ngay. Nàng nhìn cái thúng, rồi nhìn đôi giày, rồi mới nhìn mặt người đá. Phiên mười hai tháng Hai, chợ Cửa Tranh đông từ lúc gà gáy, mấy chục người đứng quanh, ai cũng làm như đang mải chọn cá mà mắt thì liếc về đây.
– Thưa cai, – nàng nói, giọng không to không nhỏ, – lệ trấn mình, muối bán lẻ dưới nửa bao ở chợ thì không cần dẫn. Chỉ cần mua của diêm hộ đã nộp thuế.
– Ai bảo mày thế?
– Ty Diêm chính bảo. Bảng dán ở cổng trạm tuần, cai đi qua mỗi sáng.
Có tiếng ai khúc khích sau sạp cá đuối. Cai Ngạnh đỏ gáy.
Quyên rút trong túi áo ra một mảnh giấy dó gấp tư, mép đã sờn. Nàng mở ra, giơ ngang ngực cho cai đọc, không đưa vào tay hắn.
– Biên lai thuế của nhà bà Tám Cò ở Diêm Phổ. Bốn bao, nộp kho Diêm chính ngày mồng năm tháng này, có dấu đỏ. Con mua lại một bao. Nửa bao con bán từ phiên trước, nửa bao kia vừa nằm dưới chân cai.
Cai Ngạnh đọc, hay làm như đọc. Hắn không biết nhiều chữ, ai ở chợ cũng biết thế, nhưng dấu đỏ thì hắn biết.
Sạp bên cạnh, bà Đẫy bán mắm tép từ nãy vẫn ngồi nguyên, tay quạt ruồi bằng cái quạt mo cau. Đến lúc ấy bà mới lên tiếng, không thèm đứng dậy:
– Cai về bảo người sai cai, muốn dọn chợ thì mua cả cái chợ đi, đừng đá thúng con gái người ta. Muối rơi xuống đất thì người nghèo nhặt về ăn được, chứ cái mặt cai rơi xuống đất thì chẳng ai nhặt đâu.
Mấy người bán hàng phá lên cười. Cai Ngạnh quay ngoắt, hằm hằm bỏ đi, giẫm luôn lên đám muối vương.
Quyên quỳ xuống, lấy cái gáo dừa xúc phần muối bên trên còn sạch vào thúng. Phần dưới đã lẫn bùn, nàng gạt riêng ra một đống. Muối bẩn vẫn đem về rửa được, đun lại được, nhưng không bán được với giá năm đồng một cân.
– Mất bao nhiêu? – bà Đẫy hỏi.
– Độ tám cân.
– Bốn mươi đồng. – Bà Đẫy chép miệng. – Thằng ấy ăn của ai mà hăng thế?
Quyên không đáp. Cả chợ đều biết hắn ăn của ai, chỉ là không ai nói ra tên. Ở Cửa Tranh, cái tên ấy nằm trên tấm biển sơn son treo trước kho lớn nhất bến, cái kho mà ba năm trước còn mang chữ Viên Ký.
Nàng đặt thúng lại chỗ cũ. Sạp của nàng nhỏ nhất dãy: một chõng tre, hai thúng muối, ba hũ mắm tép của bà Đẫy gửi bán, thế là hết. Tiền thuê chỗ mỗi phiên hai đồng. Từ cuối năm ngoái đến giờ, ngày nào khá thì nàng bán được hai chục cân, ngày nào ế thì bảy tám cân. Trừ vốn, trừ tiền chỗ, mỗi tháng còn dư chừng năm sáu tiền. Đủ cho hai chị em ăn cơm độn khoai, đủ cho Khải mua giấy bút đi học, không đủ cho thứ gì khác.
Người mua đầu tiên sau vụ lùm xùm là một bà cụ ở xóm Đình, đưa cái bát sứt ra mua hai cân. Quyên cân xong, thấy bà cụ đứng nhìn mãi đống muối bẩn dưới đất, bèn vốc thêm cho bà một vốc vào cái túi vải riêng.
– Con nhà ai mà khéo thế? – bà cụ hỏi.
– Nhà họ Viên ạ.
Bà cụ gật đầu, cầm túi muối đi, nhưng đến đầu dãy thì quay lại nhìn một lần nữa. Ba năm nay Quyên quen cái nhìn đó rồi. Người ta nhìn như nhìn cái nền nhà cháy: biết chỗ này ngày trước to lắm.
Gần trưa, mùi cá phơi đã bốc lên nồng. Quyên đang tính nhẩm chỗ muối còn lại đủ bán đến phiên nào thì có người đặt tay lên mép chõng.
– Con Quyên.
Nàng ngẩng lên.
– Chú.
Viên Đình Lộc đứng đó, áo the cũ màu nâu, khăn xếp đội hơi lệch, người lúc nào cũng có vẻ vừa chạy từ đâu tới. Chú nhỏ hơn cha nàng sáu tuổi, nhưng hai người giống nhau đến lạ: cùng cái trán vồ, cùng cái cằm vuông. Chỉ có đôi mắt chú là khác, lúc nào cũng như đang xin lỗi ai.
– Chú nghe người ta kể rồi. – Chú nhìn đống muối bẩn, thở dài. – Thằng Ngạnh.
– Không sao đâu chú.
– Sao lại không sao. – Chú ngồi xuống cái ghế đẩu của bà Đẫy, bà Đẫy liếc một cái rồi quay đi không chào. – Cháu ngồi giữa chợ thế này, đứa nào thích cũng đá được. Chú đã bảo bao nhiêu lần, để chú xin cho một chân ghi sổ ở kho, nhẹ nhàng, có lương tháng.
– Kho của ông Tiêu.
– Thì kho của ông Tiêu. Người ta trả tiền đúng hạn, không bớt của ai đồng nào.
– Cháu biết chú có ý tốt.
Chú Lộc nhìn nàng một lúc, rồi rút trong ống tay áo ra một cái túi vải nhỏ, buộc túm.
– Hai quan. Cháu cầm lấy mà thuê cái sạp có mái hẳn hoi ở dãy trong, đừng ngồi lối đi nữa. Nước mưa tháng Ba xuống là ướt hết muối.
– Chú…
– Đừng cãi. Chú không cho cháu thì cho ai. Thằng Tường nhà chú giờ có lương rồi, không phải lo.
Quyên nhận cái túi. Hai quan là một trăm hai mươi ngày muối. Nàng không định nhận, nhưng tay đã cầm, và tay chú đã buông. Chú Lộc đứng dậy, lấy dải lạt trên chõng buộc lại miệng cái bao tải nhỏ đựng muối dự trữ của nàng mà nãy giờ nàng để hở. Chú buộc bằng tay trái, như mọi khi, một vòng, rút một cái, xong. Nút đơn, gọn, chắc.
– Muối để hở là hút ẩm, chảy nước. – Chú vỗ vỗ miệng bao. – Thôi chú đi. Chiều nay kho nhập hàng.
Chú đi rồi, Quyên cầm lấy miệng bao. Ngón tay nàng gỡ cái nút đơn ra trước khi nàng kịp nghĩ. Rồi nàng buộc lại, hai vòng chéo, vòng sau luồn ngược dưới vòng trước, hai đầu lạt chĩa ra như hai cái càng ôm lấy nhau.
Nút chân cua.
Năm nàng bảy tuổi, cha dắt nàng ra bến Viên Ký lúc người ta đang chất muối lên ghe số Ba. Gió chướng thổi lồng lộng, buồm cánh dơi phần phật. Cha ngồi xổm trên ván cầu, cầm tay nàng đặt lên miệng bao.
– Con nhìn này. Vòng thứ nhất là cái càng trái. Vòng thứ hai là cái càng phải. Rồi cho nó ôm lấy nhau. – Cha rút nhẹ một đầu, cả cái nút bung ra, miệng bao mở toang. Cha buộc lại, rút đầu kia, cái nút thít chặt đến mức nàng lấy cả hai tay kéo cũng không nhúc nhích. – Kéo đầu này thì mở, kéo đầu kia thì chặt. Người buôn phải biết đầu nào là đầu nào.
– Thế nếu kéo nhầm thì sao cha?
– Thì đến trạm khám, quan bắt mở bao, con mở không ra, người ta tưởng con giấu gì trong ấy.
Cả bến cười. Bao nào của Viên Ký cũng buộc dây lác, nút chân cua. Người bến bảo nhìn từ xa là biết muối nhà ai.
Bây giờ không còn bao nào như thế trên bến nữa. Bao của Thịnh Xương buộc dây đay, nút thòng lọng, nhanh hơn, rẻ hơn.
Quyên vuốt miệng bao, rồi đặt nó vào gầm chõng.
Đến giờ Mùi, Khải tan học. Thằng bé mười một tuổi, gầy như que củi, cái áo nâu nàng may lại từ áo cũ của cha dài quá gối. Nó chạy dọc dãy sạp, tay cầm cái bàn tính gỗ thầy đồ Lương cho mượn, chưa tới nơi đã hỏi to:
– Chị Hai, sáng nay bán được bao nhiêu?
– Mười một cân.
– Năm mươi lăm đồng. – Nó ngồi phịch xuống bên chân nàng, gạt mấy hòn bi trên bàn tính lách cách cho có lệ chứ nó nhẩm còn nhanh hơn. – Trừ tiền chỗ hai đồng, trừ vốn… vốn một cân muối là bốn đồng kém một chút…
– Chừng ba đồng sáu.
– Ba đồng sáu. Thế lời mười một cân là… mười lăm đồng tư, trừ hai đồng chỗ… mười ba đồng tư. – Nó nhíu mày nhìn đống muối bẩn. – Còn cái đống kia?
– Tám cân. Bị đá đổ.
Khải im một chút. Nó biết đá đổ nghĩa là gì. Nó không hỏi ai đá.
– Tám cân vốn hai mươi chín đồng. Thế là hôm nay mình lỗ mười lăm đồng tư, – nó nói chậm. – Hôm qua lời mười bảy đồng. Hai ngày còn được một đồng sáu.
– Một đồng sáu thì mua được một vốc lạc rang.
– Bà Lựu bán hai đồng một vốc.
– Thì xin bà bớt cho.
Khải cười. Nó cười giống mẹ, lộ cái răng khểnh. Quyên đưa nó cái túi hai quan của chú Lộc cầm hộ, dặn cất kỹ trong áo.
– Chú cho à? – Nó cân cân cái túi trong lòng bàn tay. – Hai quan. Một nghìn hai trăm đồng.
– Ừ.
– Chú tốt nhỉ.
– Ừ, – Quyên nói. – Chú tốt.
Đầu giờ Thân, chợ đang thưa thì từ phía cổng chợ có tiếng mõ.
Không phải mõ tuần. Tiếng mõ này đều và trơn, gõ ba tiếng ngừng một, kiểu của người đi rao việc làng. Một gã trai mặc áo nẹp xanh, vai đeo cái mõ tre, đi trước. Sau gã là hai người khiêng một tấm bảng gỗ sơn trắng. Sau nữa là một người đàn ông trẻ đi tay không, áo dài lụa màu lam nhạt, khăn đóng đen, dáng thong thả như đi xem hội.
Gã đi rao dừng ở giữa chợ, chỗ cây đa, gõ thêm mấy tiếng cho người tụ lại, rồi cất giọng sang sảng:
– Phường buôn Thịnh Xương kính báo bà con trong chợ! Kể từ rằm tháng Hai năm nay, phường đã nhận bao trọn muối làm ra ở làng Diêm Phổ, có khế ước với các diêm hộ, có trình ty Diêm chính! Muối Diêm Phổ từ nay chỉ bán qua phường! Bà con cô bác nào cần muối ăn, muối muối dưa muối cà, xin mời ra sạp Thịnh Xương ở đầu bến, giá sáu đồng một cân, cân đủ, muối sạch! Phường xin cảm tạ!
Mõ gõ ba tiếng.
Hai người kia dựng tấm bảng vào gốc đa. Chợ ồn lên một lúc. Rằm tháng Hai là ba hôm nữa. Sáu đồng thì đắt hơn một đồng. Người ta hỏi nhau thế những đứa bán muối lẻ trong chợ thì lấy muối đâu mà bán. Không ai trả lời câu ấy, nhưng mấy chục cái đầu cùng quay về phía cái sạp lối đi có hai thúng muối.
Bà Đẫy chửi một câu rất tục rồi nhổ bã trầu.
Khải nắm chặt vạt áo chị.
Quyên nhìn tấm bảng. Nàng biết ba năm nay ai cho diêm dân Diêm Phổ vay lúc giáp hạt. Người ta đã thả lưới cả năm trời, giờ chỉ là kéo lên.
Người đàn ông áo lam nhạt không đứng lại ở gốc đa. Hắn thong thả đi dọc các dãy sạp như người đi chợ thật, dừng lại xem một rổ cua, hỏi giá một xâu cá khô, rồi dừng lại trước cái sạp nhỏ nhất.
Hắn trẻ, chừng hai lăm, mặt trắng, mắt một mí dài, môi mỏng. Quyên biết mặt hắn từ trước, dù chưa bao giờ nói với nhau một câu. Cả Cửa Tranh đều biết mặt cậu cả nhà họ Tiêu, Tiêu Hoằng, học buôn trên phủ thành ba năm, mới về hồi Tết.
– Muối này bao nhiêu? – Tiêu Hoằng hỏi.
– Năm đồng một cân.
– Rẻ hơn của nhà tôi một đồng.
– Thì cậu mua của nhà cậu cho đắt.
Bà Đẫy cười hự một tiếng trong cổ họng. Tiêu Hoằng không giận. Hắn rút từ trong tay áo ra một xâu tiền, đếm đủ năm đồng đặt lên chõng.
– Cho tôi một cân.
Quyên nhìn năm đồng tiền. Rồi nàng cầm cân, xúc muối, móc quả cân, nâng đòn lên ngang mắt cho hắn xem. Cân đòn thăng bằng. Nàng đổ muối vào một miếng lá chuối, gấp lại, buộc lạt. Ngón tay nàng làm cái nút chân cua mà không cần nhìn.
Tiêu Hoằng cầm gói muối, xoay xoay ngắm cái nút.
– Nút này lâu lắm rồi tôi không thấy, – hắn nói. – Hồi bé tôi hay ra bến xem người ta chất muối. Bao nào buộc thế này là bao nhà Viên.
– Bây giờ cũng thế.
– Bây giờ còn hai thúng. – Hắn nhìn hai cái thúng, đong bằng mắt. – Độ ba chục cân. Bán chậm thì sáu phiên, nhanh thì bốn. – Hắn ngẩng lên. – Cô Viên, tháng sau cô lấy gì mà bán?
Quyên không đáp ngay. Khải đứng sát vào chị, thở mạnh qua mũi như con mèo con xù lông.
– Tháng sau cậu cứ ra đây mà xem, – nàng nói.
Tiêu Hoằng gật đầu, như thể hắn vừa nghe một cái giá hợp lý. Hắn cầm gói muối đi. Được mấy bước, hắn đưa gói muối cho gã đi rao. Gã kia nhét vào túi, cười.
Chiều hôm ấy Quyên dọn hàng sớm. Nàng đếm muối còn lại. Hai mươi chín cân. Nàng đếm tiền. Bảy mươi tư đồng lẻ, cộng hai quan của chú. Nàng xếp tất cả vào cái hòm gỗ nhỏ dưới chõng, khoá lại, đeo chìa vào cổ.
Hai chị em đi bộ về ngõ Cá Đối. Gió từ cửa biển thổi vào, có mùi tanh của bãi triều. Ngoài xa, trên mặt nước loang loáng nắng chiều, mấy cánh buồm nâu đang về bến. Buồm Thịnh Xương có viền xanh ở mép. Khải đếm buồm như mọi chiều: bảy, tám, chín.
– Chị Hai, – nó hỏi, – Diêm Phổ cách đây bao xa?
– Chín dặm. Đi bộ theo bờ cát thì nửa buổi.
– Chị định đi à?
Quyên không trả lời. Nàng nhìn những cánh buồm viền xanh hạ xuống từng chiếc ở bến chính, nơi ngày trước có cái cầu ván dài nhất Cửa Tranh, nơi một người đàn ông từng ngồi xổm cầm tay con gái buộc nút.
– Mai em ở nhà với u Đẫy, – nàng nói. – Chị đi từ lúc gà gáy.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe