Chương 21: Hội chợ Vĩnh Ninh
– Cái lạch ấy có cây bần hai thân mọc chéo nhau ở đầu lạch không? – ông Tước hỏi.
Nhái đang nằm trên phản nhà bà Đẫy, chân tay bôi lá thuốc giã, người quấn chăn dù trời đã nóng. Nó nghĩ một lúc, rồi gật.
– Có. Họ bảo em chèo lách qua giữa hai thân bần. Chỗ ấy hẹp, mái chèo quệt vào vỏ cây.
Ông Tước không hỏi gì thêm. Ông đứng dậy, ra hiên, ngồi xuống bậc cửa, quay lưng vào nhà. Bà Đẫy nhìn theo ông, rồi nhìn Quyên. Quyên không biết bà muốn hỏi gì. Nàng cũng không biết ông Tước nghĩ gì. Nàng chỉ biết ông ngồi đấy hết một miếng trầu mà không nhổ bã.
Nhái kể lại từ đầu, chậm hơn đêm qua. Hai tuần ở Cồn Rắn, nó chỉ thấy cái bãi đá có mấy chục túp lều, một cái vũng kín gió neo thuyền, một ngọn đồi trọc có người đứng canh suốt ngày đêm. Giặc không đánh nó, chỉ bắt nó chèo, bắt nó khuân, cho ăn cơm độn cá khô. Người có sẹo trên vai trái, bọn giặc gọi là anh Ngũ, nói ít đến mức có ngày nó không nghe ông ta nói câu nào. Đêm mùng Một, hai chiếc thuyền vào bờ lúc trời tối hẳn, không đi cửa sông mà đi vòng phía nam, chui vào rừng bần. Đi lạch ngoằn ngoèo gần một canh giờ thì ra một khoảng sông rộng có bãi lác. Ở đấy có đèn. Ba ngọn đèn treo trên một cây bần đầu bãi.
– Ba ngọn, – Quyên nhắc lại.
– Ba ngọn. Thuyền mình đến gần thì người ở thuyền đầu giơ hai ngọn. – Nhái nhắm mắt nhớ. – Rồi ghe nhỏ kia mới ra.
– Em có nghe họ nói gì không?
– Ông áo lam bảo: tháng này đủ. Ông có sẹo không nói gì. Ông áo lam lại bảo: tháng sau phường có đoàn đi Lạc Trì, mười hôm, đừng đụng. – Nhái mở mắt. – Rồi ông ấy cười.
Không ai trong nhà nói gì. Ngoài hiên, ông Tước vẫn ngồi quay lưng.
Quyên không đưa Nhái lên trạm tuần. Ông Cai trạm đã ghi vụ cháy kho là không rõ nguyên nhân. Một thằng bé mười bảy tuổi vừa trốn khỏi giặc, kể rằng nó nhìn thấy một ông áo lam ở bãi lác lúc nửa đêm, dưới ánh đèn, thì ông Cai trạm sẽ ghi gì, nàng đoán được. Rồi người ta sẽ biết Nhái đã thấy. Rồi một đêm nào đó Nhái sẽ lại mất tích, lần này không về.
Nàng đưa Nhái về Diêm Phổ, bảo ông Hến giữ nó trong nhà, ai hỏi thì bảo nó trôi dạt vào bờ, sốt mê man, không nhớ gì. Ông Hến nhìn con trai, nhìn nàng, rồi gật đầu. Ông vẫn không nói được câu nào. Chắt ôm em, cười, khóc, rồi lại cười, rồi đuổi tất cả ra sân cho em ngủ.
Tối hôm ấy, Quyên ghi thêm vào tờ giấy kẻ ô của Khải một dòng nhỏ ở mặt sau, dưới con số năm trăm. Mùng một tháng Năm. Bãi Lác Xanh. Áo lam. Bạc.
Nàng nhìn dòng chữ ấy rất lâu. Một con số đếm được. Một người trông thấy. Vẫn chưa thành chứng. Nhưng không còn là chuyện một lá cờ.
Tháng Sáu, phủ thành Vĩnh Ninh mở hội chợ mùa hạ.
Năm nào cũng thế, sau vụ lúa chiêm, từ mồng mười đến rằm tháng Sáu, bãi sông trước cửa Đông thành Vĩnh Ninh dựng lên mấy trăm cái lán. Người các phủ đổ về: lụa phủ Lạc Trì, gốm phủ Đông, giấy dó làng Bưởi Thượng, trâu bò từ trên nguồn dắt xuống, thuốc bắc từ phương Bắc theo đường bộ. Lái buôn ở xa đến đặt hàng cho cả năm. Hồi cha còn, Viên Ký năm nào cũng có một cái lán ở đầu bãi, cờ đỏ thêu chữ Viên, cha ngồi uống trà với lái buôn các nơi từ sáng đến tối.
Năm nay Đồng Thuyền đi mười bốn ghe. Quyên đứng mũi Le Le.
Đến Ải Bồng chiều mùng bốn. Ông Tuần sứ Lư ngồi sẵn dưới gốc gạo, chè đã rót, quạt đã cầm, trông béo hơn năm ngoái. Phó tuần ty mới đứng sau lưng ông, một người đàn ông trung niên mặt bủng, tay cầm sổ mà mắt nhìn quạt.
– Cô Viên, – ông Tuần sứ nói. – Lâu lắm mới thấy cô lên. Hôm trước đoàn ghe của cô qua đây, bản chức hỏi, người ta bảo cô ở nhà lo việc. Việc gì mà quan trọng thế?
– Bẩm, việc nhà.
– Việc nhà. – Ông cười, hai ngấn cằm rung. – Mười bốn ghe. Hàng nhiều. Phải cân kỹ. Cân trạm mới sửa xong đấy, cô yên tâm.
Gã lính khiêng cái cân đòn ra. Quyên không nói gì. Nàng quay xuống ghe, bảo Khải mở cái hòm gỗ nhỏ đặt ở khoang lái. Khải lấy ra một quả cân đồng hình quả chuông, có khắc dấu phủ Vĩnh Ninh, bọc trong vải đỏ. Thằng bé bưng nó lên bậc đá bằng hai tay như bưng bát hương.
– Quả chuẩn mười cân, – Quyên nói. – Cháu mua ở sở cân đo phủ năm ngoái. Có giấy. Xin ông cho thử cân trạm trước khi cân hàng.
Ông Tuần sứ Lư nhìn quả cân. Ông không cười nữa.
– Cô mang cả quả chuẩn đi buôn à?
– Bẩm, cháu học được ở trạm này.
Có tiếng ai khúc khích dưới bến. Gã Phó tuần ty mới nhìn quả cân, nhìn ông Tuần sứ, rồi nhìn xuống sổ.
Ông Tuần sứ phẩy quạt, bảo thôi, hàng hội Đồng Thuyền năm nào cũng qua đây, bản chức biết rồi, cứ theo lệ mà thu. Rồi ông đứng dậy. Đi được hai bước, ông quay lại, nói đủ to cho cả bến nghe:
– Có người hỏi thăm cô đấy, cô Viên. Ở trên Đầu Nguồn. Nghe bảo ngày ngày đếm khỉ.
Quyên không trả lời. Nàng gói quả cân vào vải đỏ, trả cho Khải.
Hội chợ Vĩnh Ninh đông hơn nàng nhớ. Đồng Thuyền thuê được ba cái lán liền nhau ở rìa bãi, không phải đầu bãi. Mắm ruốc, mắm cá cơm, cá khô, nồi Gò Đỏ, chiếu làng Hạ, và lần đầu tiên, bốn mươi bao muối có dẫn đứng tên bà Đẫy. Không có cờ thêu. Khải lấy một tấm cói, viết hai chữ Đồng Thuyền bằng mực đen, cắm lên cây sào trước lán.
Ngày đầu bán lẻ. Ngày thứ hai có người hỏi mua buôn. Ngày thứ ba, một bà lái buôn từ phủ Lạc Trì, người to béo, đeo cái túi da cũ, đi ngang qua lán, dừng lại nếm mắm, rồi ngồi luôn xuống chiếu.
– Mắm này của ai làm?
– Của đàn bà làng muối Diêm Phổ.
– Đàn bà làng muối mà làm mắm. – Bà lái buôn nếm thêm một đũa. – Mặn mà không đắng. Lạc Trì tôi có ba cái chợ, người trên núi xuống mua mắm suốt mùa đông. Mùa thu cô giao cho tôi ba trăm hũ được không?
Ba trăm hũ. Quyên tính trong đầu. Diêm Phổ làm được. Ghe của hội chở được. Mùa thu nước đã rút.
– Được, – nàng nói. – Đặt trước một phần ba.
Bà lái buôn nhướng mày, rồi bật cười, mở cái túi da ra.
– Người Lạc Trì chúng tôi có câu, đàn bà nói đặt trước thì là đàn bà biết buôn. – Bà đếm tiền. – Mà tôi nghe nói năm Cảnh An thứ ba mươi mốt, phủ Lạc Trì có cái án mắm cá gì đó. Người ta bảo năm ngoái có một con bé ở Vĩnh Ninh dẫn lại cái án ấy trước công đường.
– Cháu cũng nghe nói thế, – Quyên nói.
Chiều ngày thứ tư, Tiêu Hoằng đến lán.
Hắn mặc áo lụa lam nhạt như lần đầu ở chợ Cửa Tranh. Hắn đi một mình. Hắn nhìn tấm cói có hai chữ Đồng Thuyền, nhìn bốn mươi bao muối buộc dây lác, nhìn cái hợp đồng ba trăm hũ mà Khải đang chép lại cho sạch.
– Cô Viên mời tôi uống nước được không? – hắn hỏi. – Lần này tôi trả tiền chè.
Quán chè ở góc bãi, dưới gốc gạo, bàn tre ghế tre. Hắn gọi hai bát chè xanh, một đĩa lạc rang. Hắn bóc lạc, không ăn, xếp thành hàng trên mặt bàn.
– Tôi nói thẳng, – hắn nói. – Một năm nay phường với hội bán lỗ với nhau. Phường bán muối ba đồng ở Cửa Tranh, cô biết phường lỗ bao nhiêu. Cô bán mắm lên nguồn, cô cũng biết phường hạ giá muối trên ấy. Cả hai bên đều chảy máu. Tôi học buôn không phải để chảy máu.
– Cậu muốn gì?
– Phường mua bốn phần mười của hội. – Hắn đẩy một hột lạc ra khỏi hàng. – Hội vẫn là hội, cô vẫn giữ việc, chủ ghe vẫn là chủ ghe. Phường thôi phá giá. Hội được neo bến chính, dùng kho bến chính. Diêm Phổ bán muối cho cả hai, giá ba tiền như cô định. Không ai phải nằm bến.
Quyên nhìn hàng lạc trên bàn. Đây là một đề nghị tốt. Tốt hơn năm mươi quan của cha hắn. Tốt hơn ba quan một tháng của chính hắn ở Bản Quế. Cô Lài sẽ có chỗ neo ghe khi bão. Ông Mõ sẽ không phải sợ người của phường đến hỏi mua chiếc Bông Lau.
– Cậu Tiêu, – nàng nói. – Tôi hỏi cậu một câu. Cậu trả lời được thì tôi đem đề nghị của cậu về hỏi cả hội.
– Cô hỏi.
– Ghe nhà cậu treo cờ gì khi đi qua cồn Ông Vọ?
Tiêu Hoằng nhìn nàng.
– Cờ phường. Viền xanh. Cô thấy hằng ngày.
– Tôi không hỏi cờ phường. Tôi hỏi cờ đuôi nheo màu lam.
Hắn không đáp ngay. Hắn nhìn nàng như nhìn một bài tính có số lạ.
– Phường không có cờ đuôi nheo.
– Rạng sáng mùng bốn tháng Hai, – Quyên nói, giọng đều, – ở cồn Ông Vọ, hội tôi bị cướp sáu mươi bao muối. Ba chiếc thuyền đinh. Một chiếc thuyền buồm ba cột của phường đi ngang, cách hai trăm sải, cột giữa treo cờ đuôi nheo màu lam. Giặc vẫy tay. Thuyền phường không chạy. Có ba người cùng thấy. Biên bản của trạm tuần có ghi. Người ghi biên bản ấy bây giờ ở Đầu Nguồn.
Tiêu Hoằng ngồi im. Hột lạc trong tay hắn bị bóp vỡ làm đôi.
– Hai năm nay, – Quyên nói tiếp, – chín ghe nhỏ bị Cồn Rắn chặn. Ghe phường mười bốn chiếc, đi không dưới năm trăm chuyến. Không mất một bao.
– Ghe phường to, – hắn nói.
– Ghe phủ Lạc Trì chở vải cũng to. Ba buồm. Vẫn bị chặn.
Hắn đặt hai nửa hột lạc xuống bàn.
– Cô bảo phường tôi đi đêm với giặc.
– Tôi hỏi cậu, – nàng nói. – Cậu bảo phường không có cờ đuôi nheo. Thế thì tôi về bảo hội là cậu không biết.
Nàng đứng dậy, đặt hai đồng tiền chè lên bàn cạnh đĩa lạc.
– Hôm nay để tôi trả, – nàng nói. – Cậu trả lần sau. Khi nào cậu trả lời được.
Hắn không đứng dậy tiễn. Nàng đi khuất sau mấy cái lán rồi vẫn thấy hắn ngồi đó, nhìn hàng lạc trên bàn.
Đồng Thuyền về Cửa Tranh hai mươi lăm tháng Sáu. Bán hết hàng, đặt được ba hợp đồng mùa thu, thêm bốn chủ ghe ở phủ Vĩnh Ninh hỏi cách vào hội. Lái Thìn chia lời ngay trên bến, đếm từng đồng như đếm răng.
Tối hai mươi bảy, có người gõ cửa nhà Quyên ở ngõ Cá Đối.
Tiêu Hoằng đứng ngoài, không đội khăn, áo cánh nâu, ống quần ướt như vừa lội nước. Hắn không vào. Hắn đứng dưới mái hiên, cạnh cái nong tép của bà Đẫy phơi quên chưa cất.
– Cô hỏi tôi một câu, – hắn nói. – Tôi bảo tôi không biết. Hôm ấy tôi không biết thật.
Quyên đứng ở cửa, không nói gì.
– Ba hôm nay tôi đọc sổ cái của phường, – hắn nói. – Sổ cha tôi giữ, không phải sổ tôi giữ. Mỗi tháng có một khoản, từ tháng Ba năm Diên Bình thứ năm. Ba mươi quan. Chữ ông quản Cao. Ghi là tiền đường bãi Lác. Có dấu nhận của cha tôi, tháng nào cũng có. – Hắn dừng lại. – Còn một khoản nữa, ba tháng một lần, ghi là biếu Ải Bồng, gửi qua hiệu Thông Ký ở Vĩnh Ninh.
Nàng vẫn đứng im. Trong nhà, Khải đã thôi gảy bàn tính.
– Tôi hỏi cha tôi bãi Lác là đường gì mà mỗi tháng ba mươi quan, – Hoằng nói. – Cha tôi không trả lời. Cha tôi rót trà, uống hết một chén. Rồi cha tôi bảo sáng mai tôi lên Bản Quế, coi việc thu quế mùa thu, ở trên ấy đến hết mùa.
– Bao giờ cậu đi?
– Sáng mai. – Hắn nhìn ra con ngõ tối, chỗ ngày xưa cha hắn ở thuê một gian rưỡi. – Tôi không biết phải làm gì với cái tôi vừa biết, cô Viên. Tôi đến để nói với cô là tôi biết. Thế thôi.
— Hết chương 21 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe