Chương 17: Cờ đuôi nheo xanh
Sương dày đến mức đứng ở lái chiếc Ba Cá, Quyên không nhìn thấy mũi ghe, chỉ nghe tiếng Sẻ ở đằng ấy gõ cái mõ tre từng tiếng một, đều đều, để ghe sau biết ghe trước ở đâu.
Rạng sáng mùng bốn tháng Hai. Bốn chiếc ghe biển của Đồng Thuyền rời Diêm Phổ từ lúc gà gáy, khoang đầy muối. Một trăm hai mươi bao, mỗi ghe ba mươi bao, mua của diêm dân đúng ba tiền một bao, cân bằng cân có dấu phủ. Hôm qua ở Diêm Phổ, ông Hến đứng ở đầu bãi nhìn những bao muối buộc dây lác, nút chân cua, được khiêng lên ghe, và ông không nói gì suốt cả buổi. Đến lúc ghe nhổ neo, ông mới bảo Quyên: cha cô ngày trước cũng đứng chỗ này.
Bây giờ bốn chiếc ghe đi trong sương, nối đuôi nhau dọc bờ cát. Ba Cá đi đầu, rồi Cái Nồi, rồi Ông Hai, rồi Mắt Xanh. Biển êm. Sóng chỉ vỗ lách tách vào mạn. Gió nồm nhẹ, buồm chỉ phồng một nửa.
– Sắp đến cồn Ông Vọ, – Lái Thìn nói khẽ. Ông ta đứng cạnh Quyên ở lái, tay nắm cán chèo lái, mắt căng ra nhìn vào màn trắng đục. – Qua cồn là thấy cửa sông.
Quyên đã đi đường bộ dọc bờ cát này nhiều lần. Nàng biết cồn Ông Vọ: một doi cát dài nằm ngoài cửa biển, giữa Cửa Tranh và Diêm Phổ, lúc nước ròng thì nhô lên như lưng cá voi, lúc nước lớn thì chỉ còn một dải cát trắng mỏng. Người đi biển kể ngày xưa có một ông lão ngồi trên cồn chờ con đi biển về, chờ mãi hoá đá. Đá thì không ai thấy, chỉ thấy cát.
Mõ của Sẻ ở mũi ghe bỗng ngừng.
– Sẻ? – Lái Thìn gọi.
Không có tiếng trả lời. Rồi tiếng Sẻ vọng lại, rất khẽ, như sợ ai nghe:
– Chú Thìn. Bên trái. Có thuyền.
Quyên nhìn sang trái. Sương vẫn trắng đục. Rồi trong màn trắng ấy hiện ra một cái bóng đen. Rồi hai cái. Rồi ba. Ba chiếc thuyền mũi nhọn, thân hẹp, buồm vuông màu nâu sẫm gần như đen. Thuyền đinh. Mỗi chiếc chừng mười người, đứng thẳng, không ai nói gì. Họ không chèo về phía Ba Cá. Họ lướt qua, cách chừng hai mươi sải, đi về phía cuối đoàn.
– Giặc, – Lái Thìn nói. Giọng ông ta không to, nhưng Quyên nghe rõ từng chữ. – Cồn Rắn.
Ở phía sau, tiếng hét vang lên. Tiếng ván va vào ván. Tiếng người ngã.
Lái Thìn bẻ lái. Ba Cá xoay mũi. Phía sau Ba Cá, anh Cối trên chiếc Cái Nồi cũng xoay. Hai chiếc ghe quay lại, đi vào trong sương.
Sương tan dần từng mảng. Quyên nhìn thấy chiếc Ông Hai và chiếc Mắt Xanh đứng yên giữa nước, mỗi chiếc bị một thuyền đinh áp mạn. Người của Cồn Rắn đã nhảy sang. Họ không đánh ai. Họ trói. Họ trói tay những người trên ghe ra sau lưng, đẩy ngồi xuống sàn. Rồi họ bắt đầu chuyển bao muối sang thuyền mình, nhanh, gọn, như người ta dỡ hàng ở bến.
Chiếc thuyền đinh thứ ba đứng cách một quãng. Ở mũi thuyền có một người đàn ông cởi trần, da đen bóng, vai trái có một vết sẹo dài như vết rắn bò. Ông ta không làm gì. Chỉ đứng, khoanh tay, nhìn.
– Lái vào, – Quyên nói.
– Lái vào làm gì? – Lái Thìn gắt. – Mình có mấy người?
– Lái vào gần. Không đánh.
Lái Thìn nhìn nàng. Rồi ông ta lái vào.
Khi Ba Cá còn cách chiếc Mắt Xanh chừng mười sải, người đàn ông có sẹo trên thuyền đinh quay lại nhìn. Ông ta giơ một tay lên. Chỉ một tay. Hai gã trên thuyền đinh cầm hai cây sào dài, đầu sào có móc sắt, chĩa về phía Ba Cá.
Sẻ đứng ở mũi ghe. Thằng bé mười tám tuổi, tay cầm cây sào của ghe, mặt tái nhợt, nhưng đứng không lùi. Một gã giặc vung sào. Sẻ đỡ. Hai cây sào va nhau đánh cốp. Gã kia vung lần nữa, nhanh hơn, đầu sào quật ngang vai Sẻ. Thằng bé kêu lên một tiếng, ngã ngồi xuống sàn, cây sào văng khỏi tay, rơi tõm xuống biển.
– Sẻ! – Quyên hét.
– Lùi lại! – Lái Thìn gầm. Ông ta bẻ lái, Ba Cá xoay mũi ra ngoài.
Người đàn ông có sẹo hạ tay xuống. Gã cầm sào cũng hạ sào. Không ai đuổi theo.
Quyên bò ra mũi ghe. Sẻ ngồi ôm vai, mặt nhăn nhúm, nước mắt chảy ra nhưng không khóc thành tiếng. Vai nó sưng tấy, đỏ lựng lên một vệt dài. Không chảy máu. Nàng sờ vào, thằng bé rít lên.
– Không gãy, – nàng nói. – Không gãy đâu.
– Cô Hai… con làm rơi sào…
– Kệ cái sào.
Nàng ngẩng lên. Người của Cồn Rắn đã chuyển xong muối. Họ đẩy những người bị trói trên hai chiếc ghe sang thuyền đinh, chở ra phía cồn Ông Vọ, rồi đẩy xuống doi cát. Mười người đàn ông bị trói tay ngồi trên cát ướt, nước triều đang lên dần đến mắt cá chân.
Rồi ba chiếc thuyền đinh quay mũi, giương buồm, đi ra phía biển khơi. Nhanh và lặng như lúc đến.
Lúc ấy Quyên nhìn thấy nó.
Từ phía cửa sông, xuyên qua những mảng sương cuối cùng, một chiếc thuyền buồm lớn đang đi ra. Ba buồm. Buồm nâu viền xanh. Thuyền của Thịnh Xương, chở đầy hàng, nặng trĩu, đi về phía Diêm Phổ. Trên đỉnh cột buồm giữa có một lá cờ nhỏ, màu xanh lam, hình đuôi nheo, hai mũi nhọn bay phần phật trong gió.
Chiếc thuyền buồm đi ngang qua đường của ba chiếc thuyền đinh. Cách chừng hai trăm sải. Gần đến mức Quyên thấy được người đứng trên boong.
Ba chiếc thuyền đinh không đổi hướng. Không chậm lại. Không tăng tốc. Chúng đi qua chiếc thuyền buồm lớn như đi qua một tảng đá. Trên chiếc thuyền đinh có người đàn ông mang sẹo, một gã giặc giơ tay lên vẫy về phía thuyền buồm. Trên thuyền buồm, không ai vẫy lại. Nhưng cũng không ai chạy, không ai la, không ai rút sào.
Rồi ba chiếc thuyền đinh khuất vào biển. Chiếc thuyền buồm ba cột tiếp tục đi về phía Diêm Phổ, chậm rãi, lá cờ đuôi nheo xanh vẫn bay.
Lái Thìn đứng ở lái, nhìn theo chiếc thuyền buồm. Mặt ông ta trắng bệch dưới làn da đen sạm.
– Ba mươi năm đi biển, – ông ta nói, giọng khàn khàn, – tao chưa thấy thuyền phường treo cờ đuôi nheo bao giờ.
Quyên không nói gì. Nàng nhìn lá cờ cho đến khi nó chỉ còn là một chấm xanh trên nền trời.
Họ cởi trói cho mười người trên cồn Ông Vọ. Không ai chết. Không ai chảy máu. Một người bị trật cổ tay vì giằng co. Hai chiếc Ông Hai và Mắt Xanh còn nguyên, chỉ trống rỗng. Sáu mươi bao muối đã mất. Còn sáu mươi bao trên Ba Cá và Cái Nồi.
Gần trưa, bốn chiếc ghe về đến Cửa Tranh. Cả bến cá đổ ra. Bà Đẫy nhìn thấy Sẻ ôm vai thì chửi một tràng dài mà không ai nghe ra chửi ai. Ông Tước lội xuống nước, đỡ thằng cháu lên, sờ vai nó, rồi không nói gì, chỉ dìu nó vào trong đền.
Đầu giờ Mùi, người của trạm tuần Cửa Tranh xuống lập biên bản.
Đi đầu là Phó Phùng. Áo xanh của trạm. Sổ trên tay. Bút sau tai. Anh ta xuống từng ghe, hỏi từng người, ghi từng câu. Ba chiếc thuyền đinh, buồm nâu sẫm. Một người đàn ông có sẹo trên vai trái. Sáu mươi bao muối. Mười người bị trói bỏ trên cồn. Một thằng bé bị đánh sào sưng vai.
Rồi Lái Thìn kể đến lá cờ.
Phó Phùng ngừng bút. Anh ta hỏi lại. Lái Thìn kể lại. Anh ta hỏi Quyên. Quyên kể. Anh ta hỏi anh Cối. Anh Cối kể, ngắn hơn, nhưng như thế.
Ông Cai trạm tuần Cửa Tranh đứng sau lưng Phó Phùng, ghé đầu nhìn vào sổ.
– Thầy Phó, chỗ ấy không cần ghi. Thuyền phường đi ngang, liên quan gì.
– Người bị cướp thấy, – Phó Phùng nói. – Ba người cùng thấy. Ty ghi.
– Ghi vào thì rắc rối.
– Không ghi thì sai.
Ông Cai trạm nhìn người phó được phủ phái xuống, lắc đầu, bỏ đi.
Phó Phùng viết. Quyên đứng bên cạnh, nhìn ngòi bút chạy trên giấy. Mực đậm. Không lem. "Có thuyền buồm ba cột, buồm viền xanh, cột giữa treo cờ đuôi nheo màu lam, đi ngang qua cách chừng hai trăm sải, giặc không động đến."
Anh ta viết xong, thổi cho khô mực, rồi gấp sổ lại. Anh ta nhìn nàng.
– Tối nay, – anh ta nói khẽ. – Giờ Tuất. Trạm tuần.
Trạm tuần Cửa Tranh là một dãy nhà gạch ở đầu bến chính, sát cửa sông. Ban đêm chỉ có hai gã lính gác ở cổng, ngồi uống rượu bên đống lửa. Phó Phùng đứng chờ ở cổng. Anh ta dẫn nàng đi vòng ra phía sau, mở một cánh cửa gỗ nhỏ bằng chìa khoá đồng.
Gian phòng hẹp, thấp, ẩm. Mùi giấy cũ, mùi mối mọt. Dọc tường xếp những cái hòm gỗ sơn đen, cái nào cũng có khoá. Trên mỗi hòm dán một mảnh giấy đề năm.
Anh ta thắp đèn. Anh ta đi thẳng đến cái hòm đề "Diên Bình tứ niên". Anh ta mở khoá. Anh ta không tìm. Anh ta biết nó ở đâu.
Một tập giấy buộc dây gai. Anh ta tháo dây, rút ra một tờ, đặt lên mặt hòm, đẩy ngọn đèn lại gần.
– Đây là bản nháp, – anh ta nói. – Bản tôi viết trên ghe, sáng rằm tháng Tám. Bản sạch nộp lên phủ là tôi chép lại sau.
Quyên cúi xuống.
Chữ của anh ta. Ba năm trước nét chữ còn non hơn, chưa đều như bây giờ, nhưng vẫn là thứ chữ mực đậm, nét nào ra nét ấy. Có những dòng viết vội, nghiêng nghiêng, như viết trên đầu gối.
"Ghe số Ba, Viên Ký, chủ Viên Đình Khoan. Diêm dẫn số… hai trăm bao. Đếm được ba trăm bao.
Bao một đến hai trăm: bao cói mắt cáo, buộc dây lác, nút kép hai vòng chéo.
Bao hai trăm lẻ một đến ba trăm: bao cói thưa, buộc dây đay, nút đơn một vòng."
Hai dòng cuối bị gạch ngang bằng mực son. Bên lề, cũng mực son, một chữ phê nguệch ngoạc: "Bỏ. Vụn vặt."
Quyên đọc đi đọc lại. Nàng nhìn chữ "nút kép hai vòng chéo". Nàng nhìn chữ "dây đay". Tay nàng đặt trên mép hòm run lên. Nàng phải nắm chặt lại.
– Đến bao thứ hai trăm lẻ một, – Phó Phùng nói, giọng rất thấp, – tôi thấy cái nút khác. Tôi cầm lên. Một trăm bao sau cùng, bao nào cũng như thế. Dây đay. Nút đơn. Bao cói khác hẳn. Tôi đếm, tôi ghi. Tôi trình với Phó tuần sứ Lư. Ông ấy bảo chuyện bao bì thì liên quan gì đến lậu hay không lậu. Bảo bỏ đi. Tôi bỏ trong bản sạch. Bản nháp, theo lệ trạm phải lưu. Tôi lưu.
– Rồi thầy làm gì?
Anh ta im lặng rất lâu.
– Không làm gì, – anh ta nói. – Tôi hai mươi bốn tuổi. Tôi là thư lại. Ông ấy là quan. Tôi nghĩ phủ sẽ xử, phủ sẽ hỏi. Phủ chưa kịp hỏi thì ông Viên đã mất. Hồ sơ đóng lại. Tôi được đổi lên Ải Bồng. – Anh ta nhìn tờ giấy. – Ba năm nay, tôi nghĩ đến nó mỗi lần khám một bao muối.
Quyên đứng thẳng lên. Ngọn đèn chiếu lên mặt anh ta, mặt anh ta không trốn đi chỗ nào.
– Thầy đếm đúng, – nàng nói.
– Tôi đếm đúng.
– Một trăm bao ấy, không phải người nhà Viên buộc.
– Tôi không biết ai buộc. – Anh ta nói chậm. – Tôi chỉ biết người buộc nó không biết buộc nút của nhà cô.
Quyên rời trạm tuần lúc gần canh hai. Nàng không về nhà. Nàng đi thẳng xuống bến cá.
Le Le neo ở chỗ cũ. Trên mui ghe có ánh đỏ của một điếu thuốc lào. Ông Tước ngồi đó, một mình, không ngủ. Sẻ đã được bà Đẫy mang về nhà đắp lá thuốc.
Nàng trèo lên ghe, ngồi xuống cạnh ông. Ông không quay sang. Ông rít một hơi, khói bay mỏng trong bóng tối.
– Ông Tước, – nàng nói. – Đêm mười bốn tháng Tám năm ấy, ông bảo ông ngủ.
Ông không trả lời.
– Một trăm bao muối buộc dây đay, nút đơn, – nàng nói. – Người ta chất lên ghe số Ba trong đêm. Ông ngủ trên ghe. Một trăm bao muối, mỗi bao năm mươi cân, ông không nghe thấy gì?
Ông Tước gõ điếu thuốc vào mạn ghe. Tàn lửa rơi xuống nước, xèo một tiếng.
– Cô Hai, – ông nói, – cô hỏi thật?
– Cháu hỏi thật.
Ông im rất lâu. Dưới ghe, nước sông vỗ nhẹ vào mạn. Trên bến, có tiếng chó sủa xa xa.
– Tôi không ngủ, – ông nói. – Tôi thấy người ta chất. Tôi tưởng ông chủ sai. Người đứng trông người ta chất là người nhà. Tôi không hỏi. Ở Viên Ký, người nhà sai thì mình làm. – Giọng ông khàn đi. – Sáng ra trạm lên khám. Tôi bị trói. Rồi ông chủ bị trói. Lúc ấy tôi mới biết ông chủ không biết. Tôi ở trong trạm ba tháng. Ra được một tháng thì ông chủ mất. Tôi nói với ai? Nói với ai mà người ta tin một thằng lái ghe vừa ở tù ra?
Quyên nghe tim mình đập từng nhịp nặng nề. Nàng biết rồi. Nàng biết từ lúc nhìn hai chữ "dây đay" dưới ngọn đèn. Nàng biết từ lâu hơn thế, từ cái buổi sáng phiên chợ tháng Hai, khi nàng gỡ một cái nút đơn trên miệng bao mà không kịp nghĩ. Nàng chỉ chưa để mình biết.
– Người nhà nào? – nàng hỏi.
Ông Tước nhìn ra mặt sông tối. Ông không nhìn nàng.
– Chú cô, – ông nói.
— Hết chương 17 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe