Chương 36: Nút chân cua
– Lương tháng bao nhiêu? – Khải hỏi.
Kiên ngồi trên cái ghế đẩu giữa gian nhà một gian rưỡi ở ngõ Cá Đối, lưng thẳng, hai tay đặt trên đầu gối, áo the xanh mới may, khăn đen quấn gọn. Anh ta nhìn thằng bé mười bốn tuổi ngồi đối diện trên chõng, cái bàn tính đặt ngay ngắn bên cạnh như một thứ lễ vật.
– Hai quan rưỡi, – Kiên nói. – Quyền Tuần sứ thì ba quan.
– Ba quan. – Khải gảy một hòn bi. – Một năm ba mươi sáu quan. Trừ tiền ăn, tiền giấy mực…
– Khải, – ông Tước nói.
Ông ngồi trên cái ghế cạnh Kiên, mặc cái áo dài thâm cũ, cây gậy tre dựng bên cạnh. Ông là người đứng ra nói. Kiên không có cha. Mẹ anh ta ở Thượng Xá, đã già, không đi được đường xa, gửi xuống một cơi trầu, một chai rượu và một lá thư nhờ ông đồ làng viết. Kiên đi tìm người đứng ra nói thay, đi một vòng cả bến Cửa Tranh, rồi đến lạch Cầu Tre, đứng trước cửa nhà ông Tước, chắp tay vái. Ông Tước nhai trầu nhìn anh ta một lúc lâu, rồi bảo: tôi chèo cho nhà Viên ba đời. Đời thứ tư thì tôi đi hỏi nó về làm vợ cho cậu.
Còn bên nhà gái, người ngồi ghế chủ là Khải. Con trai trưởng của Viên Đình Khoan. Mười bốn tuổi.
– Cháu hỏi cho rõ, – Khải nói với ông Tước, giọng đã trầm hẳn, chỉ thỉnh thoảng còn vỡ. – Chị cháu buôn bán, mỗi năm chia lời của hội được hơn bốn chục quan. Anh Kiên làm quan, ba mươi sáu. Cháu phải biết ai nuôi ai.
Bà Đẫy ngồi ở góc nhà, phì cười, rồi lấy tay che miệng. Quyên ngồi trong buồng, sau tấm mành tre, không ra. Nàng nghe hết.
– Không ai nuôi ai, – Kiên nói. – Góp theo khoang, chia theo khoang.
Khải nhìn anh ta. Rồi thằng bé đặt bàn tính xuống.
– Câu thứ hai. Ở Ải Bồng anh khám ghe chị cháu thế nào?
– Mười lấy một. Xiên đến đáy.
– Chị cháu thành vợ anh rồi thì sao?
– Mười lấy một, – Kiên nói. – Xiên đến đáy. Lệ không có chữ vợ.
Ông Tước khẽ cười, nhổ bã trầu vào cái ống nhổ mo cau bà Đẫy đưa. Khải ngồi im một lúc lâu. Rồi nó đứng dậy, đi vào buồng.
Lúc trở ra, nó cầm một cái gói khăn đỏ. Nó đặt cái gói lên chõng, mở ra. Một đôi xuyến bạc, chạm kiểu cũ, bốn lạng một đồng cân.
– Đôi xuyến của mẹ, – nó nói. – Năm nhà cháu khó nhất, chị cháu đem cầm lấy sáu quan, làm vốn mua hũ mắm đầu tiên. Cháu ghi nợ, chị cháu nợ cháu một đôi xuyến, lãi hai phân. Chị cháu chuộc về, cháu gạch nợ. – Nó nhìn Kiên. – Từ đấy cháu giữ. Bây giờ cháu trả lại cho chị cháu, để chị cháu đeo ngày cưới. Như mẹ cháu đeo.
Nó quay về phía tấm mành tre.
– Chị Hai. Ra đây.
Quyên vén mành bước ra. Nàng không nhìn Kiên. Nàng nhìn em. Khải cầm đôi xuyến, đeo vào cổ tay chị, từng chiếc một, vụng về, như cầm hai cái vòng sắt nóng. Đeo xong, nó lùi lại một bước, nhìn, rồi gật đầu, cái gật rất khẽ.
– Thế là xong, – nó nói với ông Tước. – Ông về bảo bên ấy chọn ngày.
Mười hai tháng Hai năm Diên Bình thứ mười. Quyên hai mươi hai tuổi.
Chú Lộc còn đắp đê ở phủ Vĩnh Ninh, đến tháng Tư mới mãn hạn. Tháng Chạp gió bấc, đê nghỉ, phu được về hai tháng. Chú về đến Cửa Tranh đen sạm, gầy, hai bàn tay chai cứng như vỏ cua. Sáu mươi quan tiền phạt, Tường đang nộp dần bằng tiền lương giữ sổ ở kho chung bến Cửa Tranh. Nhà gái ở xóm Bần trả trầu hồi tháng Giêng năm ngoái. Đến tháng Mười, ông thợ đóng ghe lại sang ngõ nhà chú Lộc, đứng ở cửa, bảo con gái tôi nó không chịu lấy ai khác, cho nên tôi đến. Tường cưới vợ ngày mùng tám tháng Chạp. Hôm ấy chú Lộc vừa về được ba hôm. Chú đứng ở đầu ngõ nhà mình, không dám vào ngồi mâm trên, cho đến khi con dâu ra kéo vào.
Giỗ thứ năm của cha, chú đến. Chú quỳ trước tấm ván gỗ trên vách, không khóc. Chú lấy cuộn lạt cói ở góc bàn thờ, cầm trong tay trái rất lâu. Rồi chú đặt nó lại chỗ cũ, không buộc gì.
Ông Tiêu Bá Lâm còn hai năm nữa. Tháng Chạp, Quyên lên Vĩnh Ninh thăm ông lần thứ ba, mang theo một hũ mắm và một ấm chè xanh. Ông hỏi mẹ ông. Nàng bảo bà vẫn đan lưới, mùa đông bà ốm một trận, giờ khỏi rồi, Hoằng đưa bà ra đền Bà thắp hương mỗi rằm. Ông hỏi chín chiếc ghe. Nàng bảo hội mùa này đi Lạc Trì mười một chuyến, không mất một bao. Ông gật đầu. Trước khi nàng về, ông bảo cháu kéo vòng sau vẫn chặt quá.
Kiên được phép về ăn hỏi ba ngày. Chiều hôm ấy hai người ra mỏm đá cuối bến, chỗ nhìn ra cửa biển. Ở chân trời không còn chấm đen nào. Thuỷ binh phủ Lạc Trì đã đốt trại Cồn Rắn từ mùa thu, đảo đá bây giờ chỉ có chim biển. Hai người đứng đến khi trời tối, không nói gì nhiều. Kiên bảo mẹ anh dặn cưới xong phải đưa vợ về Thượng Xá ra mắt họ. Quyên bảo được, đi đường sông đến Vĩnh Lạc rồi đi bộ, nàng biết đường.
Hôm ăn hỏi, bà cụ Tiêu gửi xuống ngõ Cá Đối một tấm lưới. Dài ba sải, sợi gai làng Hạ, mắt lưới vuông đều. Hoằng mang đến, đặt lên chõng, bảo bà nội đan từ mùa thu, đan xong thì bảo mang cho đứa cháu nhà Thuần. Quyên mở tấm lưới ra. Mắt nào cũng thắt bằng một cái nút. Hai càng ôm nhau.
Rạng sáng mười tám tháng Hai, đoàn ghe đầu năm của thương hội Đồng Thuyền xuất bến.
Ba mươi mốt chiếc. Năm nay thêm hai ghe ở cửa sông Lạc Trì. Đèn bão treo ở mũi từng chiếc, nối thành một dải dài từ bến cá đến tận bến chính. Kho chung bến Cửa Tranh là cái kho bến cũ, ngày trước mang chữ Viên Ký rồi mang chữ Thịnh Xương. Bây giờ trên cửa không treo biển gì, chỉ có một cái cân đòn có dấu phủ treo ở xà ngang trước cửa và một tấm bảng chữ thầy Lương: Cân công. Ai cũng đo được.
Le Le đi đầu. Ông Tước cầm lái. Sáu mươi tư tuổi, ông bảo năm nay là năm cuối ông cầm lái, sang năm để thằng Sẻ. Năm ngoái ông cũng bảo thế. Sẻ đứng mũi, tay cầm sào. Khải ngồi giữa khoang, ôm cuốn sổ của thương hội, cuốn thứ năm.
Trong khoang Le Le có sáu mươi bao muối Diêm Phổ. Trên giấy diêm dẫn ty Diêm chính cấp ngày rằm tháng Giêng, người đứng tên là Viên Tố Quyên.
Nàng ngồi xổm ở mép khoang, buộc nốt miệng bao cuối cùng. Sợi dây lác. Vòng thứ nhất là cái càng trái. Vòng thứ hai là cái càng phải. Luồn vòng sau xuống dưới vòng trước. Rồi cho nó ôm lấy nhau. Nàng rút một đầu. Cái nút thít chặt.
Đôi xuyến của mẹ trên cổ tay nàng chạm vào mạn ghe, kêu một tiếng nhỏ.
Bà Đẫy đứng trên bến, giơ cái nón lên vẫy. Thằng Rơm đứng cạnh bà, cao gần bằng bà rồi. Chắt và Nhái lên từ chiều hôm trước, Chắt ôm một bó lá ngải lớn, chia cho mỗi ghe một nhánh. Lái Thìn đứng ở mũi Ba Cá, đi đi lại lại kiểm từng nút dây, cằn nhằn với cả bến rằng năm nay gió nồm về muộn. Trên chiếc thuyền buồm đầu tiên của đoàn phường cũ, Hoằng đứng ở mũi. Cờ trên cột hắn là một miếng cói, hai chữ Đồng Thuyền viết bằng mực đen, chữ của Khải.
Ông Tước kéo buồm. Rồi Lái Thìn kéo buồm. Rồi từng chiếc một.
Lúc Le Le ra giữa dòng, Quyên đứng ở lái cạnh ông Tước. Ông cầm chèo lái, mắt nhìn phía trước, miệng nhai trầu. Đi qua bến chính, qua cái kho chung, qua chỗ ngày trước có cái cầu ván dài nhất Cửa Tranh, ông không quay mặt đi chỗ nào.
– Ông ơi, – nàng nói. – Ra cửa biển thì ông nhìn cồn Ông Vọ không?
Ông Tước nhổ bã trầu xuống sông, nhìn vệt đỏ loang ra rồi tan.
– Năm ngoái tôi đi biển với thằng Sẻ một chuyến, – ông nói. – Đi qua cồn, tôi bảo nó cho ghe ghé vào. Tôi lội lên. Tôi đi một vòng cái cồn. Cát thôi, cô Hai. Không có đá. Không có ông lão nào. – Ông dừng lại. – Chỉ có người đứng chờ thì mới hoá đá. Đi thì không hoá.
Quyên không nói gì. Le Le ngược dòng, chậm, vững. Sau lưng nàng, ba mươi cánh buồm nối đuôi nhau ra khỏi trấn.
Sáng hai mươi, sương phủ kín mặt sông dưới chân Ải Bồng.
Sương tan dần ra hai bên như ai vén màn. Cây gạo già trên vách đá đã ra hoa, đỏ rực một góc trời. Dưới gốc gạo là dãy nhà gỗ hai gian, bậc đá xuống bến, lá cờ vàng. Và chắn ngang cả dòng sông là cây sào lim to bằng bắp đùi người, đầu sào treo cái chuông đồng.
Chuông kêu ba tiếng. Le Le áp vào bến đá.
Quyền Tuần sứ trạm Ải Bồng đứng ở bậc đá dưới cùng. Áo the xanh. Sổ trên tay. Bút sau tai. Ngón trỏ dính mực. Anh ta đọc giấy khai, đọc diêm dẫn, đọc tên người đứng tên. Rồi anh ta bước qua mạn ghe, vào khoang.
– Thằng bé, – anh ta nói với Khải mà không nhìn nó. – Trên ghe có bao nhiêu bao?
– Sáu mươi, – Khải đáp. Rồi nó cười. – Anh hỏi câu ấy ba năm rồi.
Kiên không cười. Anh ta đếm, mười lấy một. Anh ta cúi xuống bao thứ nhất, cầm lấy miệng bao. Hai càng ôm nhau. Anh ta nhìn cái nút một nhịp. Rồi anh ta rút một đầu.
Cái nút bung ra trong một nhịp thở. Miệng bao mở toang.
Anh ta cắm cái xiên sắt xuống đến đáy, xoay một vòng, rút lên. Muối. Trắng từ đầu đến cuối. Anh ta xúc muối vào lại, cầm sợi dây lác, buộc. Vòng trái. Vòng phải. Luồn vòng sau xuống dưới vòng trước. Anh ta buộc chậm hơn nàng. Nhưng không vụng.
Anh ta rút đầu kia. Cái nút thít chặt.
Rồi anh ta ngẩng lên, nhìn nàng đứng ở lái.
– Đúng đầu chưa?
Quyên nhìn cái nút trên miệng bao. Gió từ khe núi thổi qua, hoa gạo rụng xuống mặt sông, đỏ từng đốm trôi qua mạn ghe.
– Đúng, – nàng nói.
Gã lính trạm ra cột bên kia, kéo dây. Cây sào lim từ từ nhấc lên, đầu sào chổng lên trời, cái chuông đồng lắc lư kêu một tiếng dài.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe