AI Truyện
Nút chân cua của nhà họ Viên

🏯 Cổ đại & cung đấu

Con Le Le

Nút chân cua của nhà họ Viên · Chương 5/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Con Le Le

Chiếc ghe nằm nghiêng trong bùn lạch Cầu Tre như một con vịt ngủ quên, mạn trái lún xuống, mạn phải chổng lên trời. Mắt ghe vẽ ở mũi đã bạc gần hết, chỉ còn một vệt đen nhìn nghiêng nghiêng.

– Con Le Le, – ông Lái Tước nói. – Ghe nhà tôi. Bố tôi đóng năm tôi mười tuổi.

Quyên đi một vòng quanh ghe. Đuôi tôm, sáu khoang, dài chừng năm sải tay. Ván be đã ngả màu xám tro, chỗ mối ván nào cũng có hà bám thành từng chùm. Cột buồm còn, buồm cánh dơi cuộn lại bọc trong tấm cói, cột bằng dây thừng mục. Nàng gõ tay vào mạn, nghe tiếng gỗ đục mà chắc.

– Ba năm nay không ai thuê, – ông Tước nói. – Tôi chở khách sang sông được ít hôm, rồi đò ngang của phường mở ra, rẻ hơn, khách đi hết. Tôi kéo nó lên đây cho khỏi chìm.

– Ghe này chở được bao nhiêu?

– Ngày trước chở sáu mươi bao muối. Hũ thì cô xếp khéo được trăm hai.

– Ông cho cháu thuê bao nhiêu?

Ông Tước không trả lời ngay. Ông nhai trầu, nhổ bã xuống bùn, nhìn con ghe.

– Không cho thuê. Cô đi buôn được thì chia cho tôi hai phần mười. Không được thì thôi.

– Không được thì ông mất công.

– Tôi còn công gì mà mất.

Quyên nhìn ông. Ba năm trước, sau vụ ghe số Ba, người ta giam ông ba tháng ở trạm, rồi thả vì không tra ra được gì. Ra khỏi trạm ông không chèo cho ai nữa. Nàng nghe nói ông đi đánh cá thuê, đi gánh muối thuê, có lúc ngồi ở bến cả ngày không làm gì.

– Thế thì cháu với ông viết giấy, – nàng nói. – Chuyến nào lời thì ông hai phần. Chuyến nào lỗ thì ông không phần nào, nhưng cháu trả tiền ăn cho ông với cháu ông. Ghe hỏng gì cháu sửa.

Ông Tước nhổ thêm một bãi trầu, gật đầu, rồi gọi to:

– Sẻ! Ra đây chào cô Hai.

Một thằng bé trai chừng mười bảy, da đen nhẻm, tóc cắt ngắn như cái bàn chải, từ sau đống củi chạy ra. Nó cười toe, chắp tay chào, rồi chạy ngay xuống bùn sờ vào mạn ghe như sờ con trâu.

Họ sửa ghe mất mười một ngày.

Mười cái hũ mắm đầu tiên Quyên mang ra chợ Cửa Tranh bán, mỗi hũ ba tiền, hết trong một phiên. Người mua đa số là người làng chài, bảo mắm này mặn mà không đắng, ruốc không có sạn. Ba quan ấy nàng chia đôi: một nửa mua dầu rái, xơ dừa, đinh tre, vải buồm vá; một nửa mua gạo, muối vừng, chum nước, nồi niêu, một tấm bạt cói che khoang.

Ông Tước bắt đầu bằng việc lật ghe. Ba người, thêm Nhái từ Diêm Phổ lên giúp, dùng đòn bẩy và con lăn, mất trọn một buổi sáng mới lật được Le Le nằm ngửa trên bãi. Đáy ghe phơi ra, hà bám dày như da cóc. Sẻ và Nhái cạo hà bằng mảnh sắt bẹt, cạo đến đâu vỏ hà rơi lách cách đến đấy. Quyên cạo cùng. Ngày thứ hai bàn tay nàng phồng rộp, ngày thứ ba thì vỡ, nàng lấy vải quấn lại, cạo tiếp.

Ông Tước xảm ghe. Ông đốt dầu rái trong cái nồi đất cho chảy lỏng, trộn với vôi và xơ dừa giã nhỏ, rồi dùng cái dùi gỗ nhồi vào từng khe ván. Ông làm chậm, không nói, tay thoăn thoắt. Mùi dầu rái khét lẹt bám vào tóc, vào áo, đến tối về nhà Khải ngửi thấy còn nhăn mũi.

Buổi trưa, mấy người ngồi dưới bóng cây bần ăn cơm nắm. Sẻ vừa ăn vừa hát một câu hò chèo ghe, giọng vỡ như vịt đực. Ông Tước gõ đầu nó một cái bằng đũa.

– Ông ơi, – Quyên hỏi, – ông chèo cho nhà cháu bao nhiêu năm?

– Cho ông nội cô hơn hai mươi năm. Cho cha cô mười mấy năm.

– Từ năm bao nhiêu tuổi?

– Mười sáu.

– Thế đêm ghe số Ba bị khám, ông ở đâu?

Ông Tước đang cầm nắm cơm, dừng lại. Ông nhìn ra mặt lạch, nước đang ròng, để lộ những gốc bần đen nhẫy.

– Tôi ngủ, – ông nói. – Ngủ trên ghe. Sáng ra thì trạm lên khám.

– Ông có thấy ai chất hàng không?

– Đêm nào chả có người chất hàng. – Ông cắn một miếng cơm, nhai lâu. – Tôi già rồi, cô Hai. Ngủ là ngủ.

Ông không nói thêm. Quyên không hỏi thêm. Nàng biết cái giọng ấy. Đó là giọng của người đóng cửa nhưng không cài then.

Ngày thứ chín, Le Le được lật lại, đẩy xuống nước. Ông Tước bắt mọi người đứng trên bờ, một mình ông lội ra, trèo lên ghe, đi từ mũi đến lái, cúi xuống nhìn từng khoang. Ông đứng im một lúc lâu ở giữa ghe, như người nghe tiếng trong bụng. Rồi ông quay lại, giơ một ngón tay cái.

Sẻ reo lên như trẻ con được kẹo.

Có một chuyện không như ý. Hôm mười bảy, Chắt lên trấn mang theo tờ giấy khai hàng mà Quyên nhờ làm. Ghe chở hàng qua trạm phải có giấy khai: hàng gì, bao nhiêu, làm ở đâu, có dấu lý trưởng nơi làm hàng. Tờ giấy Chắt mang lên có tên Quyên, có số hũ, có điểm chỉ của ông Hến làm chứng. Không có dấu đỏ.

– Ông Lý Thoan ốm, – Chắt nói. – Ốm từ hôm ông quản Cao lên nhà ông ấy uống rượu. Ông ấy bảo em nói với chị là ông ấy đóng một lần rồi, lần này ông ấy ốm.

– Ốm đến bao giờ?

– Đến khi nào ghe chị đi khỏi, chắc thế.

Quyên cầm tờ giấy. Không có dấu thì qua trạm sẽ bị hỏi. Nhưng chờ dấu thì mất con nước, mất mùa. Mắm để lâu không hỏng, nhưng chợ trên nguồn thì không chờ ai. Tháng Năm có phiên Đoan ngọ ở Bản Quế, phiên đông nhất trong năm.

– Thôi, – nàng nói. – Không có thì không có.

Chuyện Khải là chuyện khó hơn.

Thằng bé muốn đi. Nó không nói thẳng. Nó chỉ lẳng lặng gói một cái tay nải nhỏ, có hai bộ quần áo, cái ống tre đựng bút, mấy tờ giấy và cái bàn tính của thầy, để ở đầu giường. Quyên thấy, cầm lên, đặt lại xuống.

– Em ở nhà đi học.

– Thầy Lương cho em nghỉ một tháng rồi. Thầy bảo đi một ngày đàng học một sàng khôn.

– Thầy nói thế lúc nào?

– Lúc em xin.

Quyên ngồi xuống mép giường. Khải ngồi cạnh, hai chân đung đưa không chạm đất.

– Chị Hai, – nó nói, – trên ghe có một trăm mười hũ mắm. Hũ mười cân, hũ tám cân, nhà nào làm, nhà nào trả rồi, nhà nào chưa. Đến chợ Bản Quế đổi thì mỗi hũ đổi được bao nhiêu quế, quế cân bằng cân gì, lời bao nhiêu. Chị tính một mình được, nhưng chị còn phải mặc cả. Mà người mặc cả thì không đếm được. Em đếm.

– Trên sông có trạm, có ghềnh. Có người xấu.

– Ở nhà cũng có người xấu. – Nó nhìn ra cửa, chỗ ngõ Cá Đối tối om. – Chị đi rồi, em ở nhà một mình. Hôm trước có một ông áo lam đến đầu ngõ hỏi thăm nhà chị.

Quyên quay sang nhìn em.

– Hôm nào?

– Hôm chị xuống Diêm Phổ. U Đẫy đuổi ông ấy đi rồi.

Nàng ngồi im rất lâu. Rồi nàng đứng dậy, cầm cái tay nải của em lên, mở ra, nhét thêm một cái áo ấm.

– Trên sông đêm lạnh.

Rạng sáng hai mươi tháng Tư, con nước lên đỉnh. Le Le đậu ở bến cá dưới chân đền Bà Cửa Sông, khoang đầy hũ mắm chèn rơm, xếp ba tầng, dây cói buộc chéo. Một trăm mười hũ. Mười hũ còn lại gửi bà Đẫy bán ở chợ.

Bà Đẫy ra tiễn, mang theo một nồi cơm nắm và một hũ mắm tép của bà. Chắt và Nhái lên từ chiều hôm trước, ngủ lại nhà bà Đẫy, giờ đứng trên bến, Chắt ôm một bó lá ngải bảo treo ở mũi ghe cho khỏi gió độc.

Chú Lộc đến khi trời vừa hửng. Chú đi vội, áo the vạt trước còn ướt sương. Chú dúi vào tay Quyên một gói xôi lá chuối còn ấm và một phong thư gấp, ngoài đề chữ.

– Thư cho ông Thông Ký ở phố Hàng Chiếu trên phủ Vĩnh Ninh, – chú nói. – Ông ấy buôn đồ khô, quen với chú. Cháu lên đấy mà khó bán thì đưa thư, ông ấy mua giúp.

– Cháu cảm ơn chú.

Chú Lộc nhìn chiếc ghe, nhìn ông Tước đang đứng ở lái tháo dây neo.

– Ghe của ông Tước à, – chú nói, giọng nhỏ đi.

Ông Tước không quay lại. Ông cúi xuống, nhổ một bãi trầu xuống nước, rồi vứt cuộn dây neo lên khoang lái đánh bịch một tiếng.

Chú Lộc đứng thêm một lúc, như còn định nói gì. Rồi chú vỗ vai Khải, dặn nó nghe lời chị, rồi đi ngược lên dốc bến, dáng hơi khom, không ngoái lại.

Sẻ đẩy sào. Le Le rời bến, xoay mũi vào dòng. Ông Tước kéo buồm. Tấm buồm cánh dơi vá chằng vá đụp bung ra trong gió nồm, phồng lên như ngực người hít vào. Nước lên đẩy ghe đi ngược dòng nhẹ như không. Trên bến, bà Đẫy giơ cái nón lên vẫy. Chắt hét một câu gì đó Quyên không nghe rõ.

Khải ngồi trên nóc khoang mũi, ôm đầu gối, mắt mở to nhìn hai bờ sông trôi lùi lại. Mùi dầu rái mới quyện với mùi mắm ruốc và mùi nước sông.

Cả ngày hôm ấy họ đi theo con nước và gió. Sông Bạch Lãng đoạn dưới rộng, nước đục màu phù sa, hai bờ là bãi bồi trồng ngô, thỉnh thoảng một xóm chài, mấy đứa trẻ cởi truồng đứng trên bờ vẫy. Gặp mấy chiếc ghe xuôi chở củi, chở than. Một chiếc thuyền buồm lớn của Thịnh Xương lướt qua, buồm viền xanh, người trên ấy nhìn sang con ghe vá, có người cười.

Tối, ông Tước cho ghe neo vào một bãi cát giữa sông, bảo đêm nay trăng lên muộn, đi mò dễ mắc cạn. Sẻ nấu cơm trên cái bếp đất kê ở khoang lái. Ăn xong, bốn người ngồi trên mui ghe, nhìn trời đen kịt đầy sao. Gần giờ Hợi, trăng hai mươi mới nhô lên sau rặng tre bờ đông, vàng đục, khuyết một bên.

– Ông ơi, – Khải hỏi, – trên sông có giặc không?

– Giặc thì ở dưới biển, – ông Tước nói. – Ở Cồn Rắn. Lên đến đây thì không.

– Thế trên sông có gì đáng sợ?

Ông Tước rít một hơi thuốc lào, khói bay mỏng trong ánh trăng.

– Có ghềnh. Có lũ. Có trạm.

– Trạm thì sợ gì? Mình có giấy mà.

– Giấy của mình thì mình viết. Lệ của trạm thì trạm viết.

Khải ngẫm nghĩ câu ấy một lúc, rồi quay sang hỏi chị trạm là cái gì. Quyên kể cho nó nghe về trạm thuế Ải Bồng, sáu mươi dặm ngược sông, chỗ dòng hẹp lại giữa hai quả núi đá, nơi mọi chiếc ghe lên nguồn đều phải dừng. Hồi nhỏ nàng đi qua đấy hai lần, chỉ nhớ có một cây gạo to và một ông quan gầy hay ngồi câu cá trên bậc đá.

Ngày hai mươi mốt, sông hẹp dần, nước trong dần, hai bờ cao lên. Đồi bắt đầu xuất hiện, rồi núi. Gió yếu đi, Sẻ và ông Tước phải thay nhau chèo. Quyên cũng chèo. Khải ngồi đếm nhịp chèo cho mọi người, đếm đến ba nghìn thì ngủ gục trên đống rơm.

Rạng sáng hai mươi hai, sương mù phủ kín mặt sông. Le Le đi chậm trong sương, ông Tước đứng ở mũi, tay cầm sào dò đáy. Rồi ông giơ tay ra hiệu dừng.

Sương tan dần ra hai bên như ai vén màn. Phía trước, dòng sông thắt lại giữa hai vách đá đen. Trên vách đá bên phải có một cây gạo già, hoa đã rụng hết, cành mới nhú lá non. Dưới gốc gạo là một dãy nhà gỗ hai gian mái ngói, bậc đá dẫn xuống bến, trên bến cắm một lá cờ vàng.

Và chắn ngang cả dòng sông, từ bờ này sang bờ kia, là một cây sào gỗ lim dài, to bằng bắp đùi người, đầu sào treo một cái chuông đồng.

— Hết chương 5 —

Mục lục Nút chân cua của nhà họ Viên

  1. 1Năm đồng một cân12 phút
  2. 2Đường cát về Diêm Phổ11 phút đọc
  3. 3Hai mươi lăm hũ sành10 phút đọc
  4. 4Muối của đàn bà12 phút đọc
  5. 5Con Le Le11 phút đọc
  6. 6Ải Bồng10 phút đọc
  7. 7Phiên chợ Đoan ngọ ở Bản Quế12 phút đọc
  8. 8Ba ngày ở trạm Ải Bồng12 phút đọc
  9. 9Ba trăm bao11 phút đọc
  10. 10Rằm tháng Bảy ở đền Bà Cửa Sông11 phút đọc
  11. 11Chén trà nhà họ Tiêu12 phút đọc
  12. 12Ghềnh Trâu Nằm11 phút đọc
  13. 13Mắm có phải là muối12 phút đọc
  14. 14Cái đấu của Thịnh Xương10 phút đọc
  15. 15Giỗ cha11 phút đọc
  16. 16Tết muộn11 phút đọc
  17. 17Cờ đuôi nheo xanh13 phút đọc
  18. 18Tay trái10 phút đọc
  19. 19Lời thú ở gò Cát10 phút đọc
  20. 20Đếm những chuyến không bị cướp11 phút đọc
  21. 21Hội chợ Vĩnh Ninh11 phút đọc
  22. 22Hai mươi ghe11 phút đọc
  23. 23Đêm cồn Ông Vọ10 phút đọc
  24. 24Mười ngày10 phút đọc
  25. 25Hai bản của một chuyện10 phút đọc
  26. 26Bà cụ đan lưới10 phút đọc
  27. 27Kiên bị kiện10 phút đọc
  28. 28Người chèo ghe năm mười sáu tuổi10 phút đọc
  29. 29Lạch Bần Tía10 phút đọc
  30. 30Bàn thờ nhà họ Tiêu10 phút đọc
  31. 31Hai lá cờ10 phút đọc
  32. 32Bãi Lác Xanh10 phút đọc
  33. 33Công đường phủ Vĩnh Ninh11 phút đọc
  34. 34Hai bản án10 phút đọc
  35. 35Khế ước hai nhà10 phút đọc
  36. 36Nút chân cua10 phút đọc

Về truyện này

Nút chân cua của nhà họ Viên là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →