AI Truyện
Nút chân cua của nhà họ Viên

🏯 Cổ đại & cung đấu

Ghềnh Trâu Nằm

Nút chân cua của nhà họ Viên · Chương 12/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 12: Ghềnh Trâu Nằm

Nước lên một gang tay trong lúc Quyên ăn xong bát cơm, và đến khi nàng rửa bát dưới mép bãi thì cái bậc đá nàng ngồi lúc nãy đã chìm.

– Kéo ghe lên! – ông Tước hô. – Kéo hết lên bãi cao!

Năm chiếc ghe neo trong một cái vịnh nhỏ bên bờ trái, chỗ dòng sông khoét vào chân đồi thành một lòng chảo nước tù. Ông Tước chọn chỗ này từ chiều mùng năm, khi nước bắt đầu chuyển màu. Ông bảo lũ trên nguồn về thì đừng cố, cố là chết. Tìm chỗ nước quẩn mà nấp, đợi đỉnh lũ qua.

Ba ngày họ nằm trong cái vịnh ấy. Ngày thứ nhất nước lên chậm. Ngày thứ hai nước lên nhanh, đục như cháo, cuốn theo cả cây, cả bè nứa, cả một cái chuồng gà còn nguyên mái. Đêm thứ hai có tiếng gì đó ầm ầm ở phía thượng nguồn, ông Tước bảo là núi lở. Không ai ngủ. Đàn ông thay nhau canh dây neo, cô Lài ôm thằng Bin ngồi trong khoang. Lái Thìn không cãi câu nào suốt hai ngày ấy, chỉ ngồi ở lái chiếc Ba Cá, mắt nhìn chòng chọc vào mặt nước.

Ngày thứ ba, nước đứng. Ngày thứ tư, nước bắt đầu rút. Ông Tước cắm một cái que tre ở mép nước, cứ nửa canh giờ lại ra xem. Đến trưa, nước rút được hai đốt que.

– Đi, – ông nói.

– Nước còn to thế kia, – Lái Thìn nói.

– To mà rút thì đi được. To mà lên thì không. – Ông Tước nhổ bã trầu. – Mày muốn ngồi đây đến bao giờ? Gạo còn mấy ngày?

Lái Thìn nhìn bao gạo trên ghe mình, không nói gì, đứng dậy tháo dây neo.

Từ cái vịnh ấy lên Vĩnh Ninh mất ba ngày, chậm gấp rưỡi mùa khô. Nước ngược mạnh, gió nồm yếu dần, có hôm phải chèo cả ngày mà chỉ đi được mười dặm. Đến Vĩnh Ninh, đoàn ghe không ghé phủ. Quyên đứng ở mũi Le Le nhìn bức tường đá ong của ngục phủ trôi qua bên bờ phải, rêu xanh thẫm vì mưa.

Ngày mười bốn, họ đến ghềnh Trâu Nằm.

Mùa khô, con trâu đá nằm phơi lưng giữa dòng. Bây giờ nó biến mất. Mặt sông phẳng, rộng, nước nâu chảy xiết. Chỉ có một chỗ, giữa dòng, mặt nước gồ lên như có một cái lưng khổng lồ nằm ngay bên dưới, và ở hai bên cái gồ ấy, nước xoáy thành những vòng tròn chậm rãi, sâu hoắm.

Ông Tước cho đoàn ghe dừng sát bờ. Ông đứng ở mũi Le Le nhìn rất lâu.

– Đi luồng phải, – ông nói. – Sát bờ. Cách cái gồ nước ấy ít nhất mười sải. Đừng để ghe bị hút vào giữa. Chỗ xoáy ấy hút cả cây cổ thụ xuống đáy rồi nhả ra ở dưới kia, cành lá trụi hết.

– Ai đi trước? – cô Lài hỏi.

– Tôi đi trước. Thìn đi sau tôi. Rồi đến Cối, rồi ông Mõ. Lài đi cuối, ghe nhẹ, dễ lái.

Le Le đi trước. Ông Tước cầm chèo lái, Sẻ và Quyên chèo hai bên, Khải ngồi giữa khoang ôm cái sổ. Ghe ngược luồng phải, sát vách đá, nước đập vào mạn như ai lấy tay tát. Le Le run lên từng chặp. Có lúc mạn trái chỉ cách vách đá một sải tay, Quyên nhìn thấy cả những cái tổ chim bám trong khe đá. Rồi ghe nhô qua khỏi ghềnh, vào khúc nước êm hơn. Ông Tước cho ghe ghé vào một doi cát, quay lại nhìn.

Ba Cá qua. Lái Thìn lái cứng như cái máy, ghe ông ta nặng, chắc, cắt nước đi thẳng. Cái Nồi qua, anh Cối đứng ở lái hai chân dạng rộng như cắm rễ vào ván ghe. Bông Lau qua, ông Lái Mõ bảy mươi tuổi mà tay chèo vẫn ngọt, chiếc ghe gỗ sao lướt qua sát vách đá như con cá.

Mẹ Con là chiếc cuối.

Cô Lài cầm lái, thằng Bin chèo mũi. Ghe nhẹ, chở ít hàng, nảy trên mặt nước như cái lá. Cô Lài đi đúng luồng phải, sát vách. Nhưng giữa ghềnh, một khúc gỗ to trôi xuống từ phía trên, va vào mạn trái chiếc Mẹ Con. Ghe xoay ngang. Thằng Bin hét lên. Cô Lài bẻ lái, nhưng ghe đã chệch ra khỏi luồng, mũi chĩa về phía giữa dòng.

– Bẻ lái! – ông Tước gào. – Bẻ lái sang phải!

Mẹ Con trôi về phía cái gồ nước. Cô Lài vẫn bẻ lái. Cái ghe xoay một vòng, rồi một vòng nữa, chậm rãi, như người say. Rồi mạn trái nó chúi xuống, nước tràn vào, và cả chiếc ghe lật úp.

Quyên không biết mình đã chạy từ lúc nào. Nàng chỉ biết mình đang chạy dọc doi cát, chân lún vào cát ướt, tay cầm một cuộn dây thừng giật trên ghe Le Le. Đằng sau nàng có tiếng chân nặng nề, anh Cối, và tiếng thằng Sẻ.

Giữa dòng, chiếc Mẹ Con úp bụng trôi chậm. Cô Lài bám vào mạn ghe, đầu ngoi lên ngụp xuống. Thằng Bin không thấy đâu.

– Bin! – cô Lài gào. – Bin ơi!

Rồi cái đầu tròn của thằng Bin trồi lên, cách ghe chừng ba sải, bị nước cuốn ra phía giữa dòng.

Anh Cối không nói một lời. Anh buộc đầu dây thừng vào ngang lưng, ném đầu kia cho Quyên và Sẻ, rồi lội xuống. Nước lên đến ngực anh, đến cổ anh. Rồi anh bơi. Anh bơi như con trâu bơi, đầu nhô cao, hai tay đập nước. Quyên và Sẻ cầm đầu dây, chân bám vào một gốc cây trên doi cát, ngả người về phía sau.

Anh Cối tóm được thằng Bin ở chỗ nước bắt đầu xoáy. Anh túm cổ áo nó, giơ lên khỏi mặt nước.

– Kéo! – anh gầm lên.

Quyên kéo. Sẻ kéo. Rồi có thêm hai bàn tay nữa nắm lấy sợi dây phía sau nàng. Lái Thìn. Ông ta không nói gì, chỉ cắm hai chân vào cát, kéo như kéo neo.

Anh Cối và thằng Bin được kéo vào bờ. Thằng bé nôn ra một bụng nước, rồi khóc thét lên. Anh Cối nằm ngửa trên cát, thở như bễ lò rèn.

Ông Lái Mõ đã cho chiếc Bông Lau quay mũi lại, chèo ra chỗ chiếc Mẹ Con. Ông vươn cây sào cho cô Lài túm, kéo cô vào. Rồi ông và ông Tước cùng hai chiếc ghe, dùng dây thừng và sào, kéo chiếc Mẹ Con úp bụng vào doi cát.

Không ai chết.

Đêm ấy họ đốt một đống lửa to trên doi cát. Chiếc Mẹ Con đã được lật lại, nằm trên cát, mạn trái nứt một đường dài nửa sải. Ba mươi hũ mắm trên ghe đã trôi mất. Mười hai cái nồi đất vỡ. Mấy tấm chiếu cói ướt sũng, phơi trên những cành cây quanh đống lửa.

Cô Lài ngồi ôm thằng Bin, khóc không thành tiếng. Thằng Bin đã ngủ, mặc cái áo khô của ai đó rộng thùng thình. Quyên nhìn kỹ mới nhận ra là áo của Lái Thìn.

Ông Tước và ông Mõ ngồi bên ghe, dùng đuốc soi vết nứt, bàn nhau cách vá.

Quyên ngồi bên Khải. Thằng bé đang ghi vào sổ, tay còn run. Ba mươi hũ mắm cá cơm. Mười hai cái nồi. Bốn tấm chiếu ướt không dùng được. Ván ghe cần thay.

– Bao nhiêu? – nàng hỏi khẽ.

– Mắm ba mươi hũ, vốn bốn quan rưỡi. Nồi mười hai cái, một quan hai. Chiếu bốn tấm, bốn tiền. Ván với công vá thì ông Tước bảo chừng hai quan. – Khải tính. – Tám quan mốt.

Quỹ chìm có ba quan của bà Đẫy. Còn lại phải trích từ chuyến này.

Lái Thìn ngồi ở phía bên kia đống lửa, hơ tay. Ông ta nghe hết. Mọi người đều nghe hết.

– Đấy, – Lái Thìn nói. – Đã bảo rồi. Ghe mỏng như cái lá.

Cô Lài ngẩng lên, mặt đỏ bừng, nước mắt còn chưa khô.

– Ông nói thế là thế nào?

– Thì nói thế. – Lái Thìn nhổ một bãi nước bọt vào lửa. – Ghe mỏng. Gặp khúc gỗ là lật. Đi buôn đường lũ thì phải đóng ghe cho dày.

– Tôi không có tiền đóng ghe dày!

– Thì đi buôn làm gì!

Cô Lài đứng phắt dậy, thằng Bin trong lòng giật mình. Anh Cối đặt tay lên vai cô, ấn cô ngồi xuống.

Quyên không nói gì. Nàng nhìn Lái Thìn. Ông ta nhìn vào lửa, mặt cau có, những nếp nhăn sâu hoắm trong ánh lửa.

Rồi ông ta thò tay vào trong áo, lấy ra một cái túi vải nhỏ, ném sang phía Khải. Cái túi rơi xuống cạnh cuốn sổ, kêu loảng xoảng.

– Phần của Ba Cá, – ông ta nói, không nhìn ai. – Một phần mười. Tao góp trước. Cuối chuyến tính sau.

Khải nhìn cái túi, rồi nhìn chị.

– Ghi vào, – Quyên nói.

Lái Thìn đứng dậy, đi ra phía ghe mình, vừa đi vừa lẩm bẩm câu gì đó về đàn bà với ghe mỏng. Không ai nghe rõ. Cô Lài nhìn theo ông ta, mặt vẫn đỏ, nhưng không khóc nữa.

Rằm tháng Tám, họ đến Bản Quế.

Trăng lên từ sau dãy núi phía đông, tròn vành vạnh, sáng đến mức nhìn rõ từng mái nhà sàn trên sườn đồi. Người nguồn mừng mùa. Lũ đã qua, lúa nương đã chín vàng, quế mùa thu đã bóc vỏ, phơi trên những giàn tre trước nhà. Chợ phiên rằm đông hơn cả phiên Đoan ngọ. Có trống, có chiêng, có những đứa trẻ cầm đèn giấy hình con cá chạy quanh chợ.

Bà cụ đội khăn chàm vẫn ngồi ở lán cũ. Bà nhận ra Quyên, nhưng lần này bà nhìn qua vai nàng, nhìn năm chiếc ghe đậu ở bến, rồi nói một câu gì đó với người cháu. Người cháu cười.

– Bà bảo, lần trước cô đến một mình. Lần này cô đến cả nhà.

Năm ghe, mỗi ghe một thứ hàng. Mắm cá cơm của Diêm Phổ, mắm tép của bà Đẫy, cá khô Vũng Mòi, nồi đất Gò Đỏ, chiếu cói làng Hạ. Người nguồn chưa bao giờ thấy một đoàn ghe nhỏ bày hàng cạnh nhau trên bãi như một cái chợ con. Họ đi từ lán này sang lán kia, nếm, sờ, hỏi giá. Giá ở lán nào cũng như nhau. Cân bằng cân của người mua.

Không có ghe ba buồm của Thịnh Xương ở bến. Người ta bảo họ lên từ đầu tháng, đổi hết quế tốt rồi về trước lũ.

Đến tối rằm, hàng đã hết quá nửa. Đến trưa mười sáu thì hết sạch. Năm chiếc ghe chở về bốn trăm cân quế, sáu mươi cân sa nhân, hai mươi ống mật ong, mấy bó mộc nhĩ. Khải tính đến khuya. Trừ tiền vốn, trừ tám quan mốt của chiếc Mẹ Con, trích quỹ chìm, mỗi khoang hàng chia được gần một quan.

Lái Thìn nhận phần của mình, đếm, rồi đếm lại. Ông ta không nói gì. Nhưng tối hôm ấy, Quyên thấy ông ta ngồi bên chiếc Mẹ Con đã vá xong, cầm cái dùi gỗ xảm lại cho chắc một khe ván mà ông Tước đã xảm rồi.

Hai mươi mốt tháng Tám, đoàn ghe xuôi đến Ải Bồng.

Nước đã rút gần hết. Cây sào lim lại chắn ngang dòng. Chuông lại kêu. Nhưng lần này, trên bến trạm, ngoài lá cờ vàng, còn có một tấm bảng gỗ mới đóng vào cái cột lim đầu bến. Trên bảng dán một tờ giấy vàng, chữ đen, có dấu đỏ lớn ở cuối.

Ông Tuần sứ Lư đã ngồi sẵn dưới gốc gạo. Ông không phe phẩy quạt. Ông cầm cái quạt gập lại, chỉ vào tấm bảng.

– Cô Viên. Đọc đi.

Quyên lên bậc đá. Nàng đứng trước tấm bảng. Bốn chủ ghe kia đứng sau lưng nàng.

"Ty Diêm chính phủ Vĩnh Ninh, ngày rằm tháng Tám năm Diên Bình thứ bảy. Nay xét thấy nhiều kẻ gian dùng mắm ruốc, mắm cá, cá ướp muối để chở muối lên nguồn, tránh nộp thuế diêm. Từ nay, mắm và cá muối chở qua các trạm sông, từ mười hũ trở lên, phải có diêm dẫn tương đương số muối trong hàng. Không có thì coi như muối lậu."

Quyên đọc hết, rồi đọc lại lần nữa.

Từ mười hũ trở lên. Diêm dẫn tương đương.

Nhà họ Viên bị cấm lĩnh diêm dẫn mười năm.

– Lệnh có hiệu lực từ ngày ký, – ông Tuần sứ nói, giọng vui vẻ. – Chuyến này cô xuôi, chở quế, bản chức không bắt. Chuyến sau thì cô Viên chở quế lên nguồn mà bán nhé.

Có tiếng cười khẩy của mấy gã lính. Lái Thìn chửi thề. Cô Lài nắm chặt tay thằng Bin.

Quyên quay đi khỏi tấm bảng. Nàng nhìn xuống bậc đá, rồi nhìn về phía nhà trạm.

Phó Phùng đứng sau cái cột lim đầu bến, cách tấm bảng chừng ba bước. Anh ta không cầm sổ, cũng không cầm bút. Hai tay anh ta buông thõng. Anh ta nhìn tấm bảng, rồi nhìn nàng. Anh ta không nói gì.

Nhưng nàng thấy mặt anh ta. Cái mặt ấy trông như mặt người vừa bị ai tát.

— Hết chương 12 —

Mục lục Nút chân cua của nhà họ Viên

  1. 1Năm đồng một cân12 phút
  2. 2Đường cát về Diêm Phổ11 phút đọc
  3. 3Hai mươi lăm hũ sành10 phút đọc
  4. 4Muối của đàn bà12 phút đọc
  5. 5Con Le Le11 phút đọc
  6. 6Ải Bồng10 phút đọc
  7. 7Phiên chợ Đoan ngọ ở Bản Quế12 phút đọc
  8. 8Ba ngày ở trạm Ải Bồng12 phút đọc
  9. 9Ba trăm bao11 phút đọc
  10. 10Rằm tháng Bảy ở đền Bà Cửa Sông11 phút đọc
  11. 11Chén trà nhà họ Tiêu12 phút đọc
  12. 12Ghềnh Trâu Nằm11 phút đọc
  13. 13Mắm có phải là muối12 phút đọc
  14. 14Cái đấu của Thịnh Xương10 phút đọc
  15. 15Giỗ cha11 phút đọc
  16. 16Tết muộn11 phút đọc
  17. 17Cờ đuôi nheo xanh13 phút đọc
  18. 18Tay trái10 phút đọc
  19. 19Lời thú ở gò Cát10 phút đọc
  20. 20Đếm những chuyến không bị cướp11 phút đọc
  21. 21Hội chợ Vĩnh Ninh11 phút đọc
  22. 22Hai mươi ghe11 phút đọc
  23. 23Đêm cồn Ông Vọ10 phút đọc
  24. 24Mười ngày10 phút đọc
  25. 25Hai bản của một chuyện10 phút đọc
  26. 26Bà cụ đan lưới10 phút đọc
  27. 27Kiên bị kiện10 phút đọc
  28. 28Người chèo ghe năm mười sáu tuổi10 phút đọc
  29. 29Lạch Bần Tía10 phút đọc
  30. 30Bàn thờ nhà họ Tiêu10 phút đọc
  31. 31Hai lá cờ10 phút đọc
  32. 32Bãi Lác Xanh10 phút đọc
  33. 33Công đường phủ Vĩnh Ninh11 phút đọc
  34. 34Hai bản án10 phút đọc
  35. 35Khế ước hai nhà10 phút đọc
  36. 36Nút chân cua10 phút đọc

Về truyện này

Nút chân cua của nhà họ Viên là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →