Chương 18: Tay trái
Chú Lộc đến gò Cát trước nàng, và khi Quyên lên tới đỉnh dốc thì chú đã ngồi xổm bên mộ cha, tay trái cầm cái liềm, phát những bụi cỏ gà mọc lấn lên thành mộ.
– Cháu lên muộn, – chú nói, không ngẩng đầu. – Chú tưởng cháu không lên.
– Cháu lên.
Mùng tám tháng Ba, tiết Thanh minh. Gò Cát ở phía tây trấn, một quả đồi cát thấp lổn nhổn những nấm mộ, mộ xây có, mộ đất có, mộ vô chủ cũng có. Phi lao trồng quanh chân gò reo vi vu suốt ngày. Đứng trên đỉnh gò nhìn về phía đông thấy được cả trấn Cửa Tranh, mái ngói mái lá xen nhau, bến chính, bến cá, và xa hơn là cửa biển lấp loáng.
Mộ cha là mộ đất, đắp cao, đầu mộ có một tấm bia đá nhỏ, chữ khắc nông. Năm nào cũng thế, tiết Thanh minh chú Lộc và hai chị em lên đây, phát cỏ, đắp đất, thắp hương. Năm nay Quyên gửi Khải xuống Diêm Phổ với Chắt từ hôm qua, bảo nó xuống giúp đàn bà làm mẻ mắm đầu mùa.
Chiều hôm qua, thằng bé đứng ở cửa, tay nải trên vai, nhìn chị.
– Năm nào em cũng lên mộ cha.
– Năm nay chị lên với chú. Em xuống đếm hũ giúp chị Chắt.
– Chị có chuyện gì giấu em à?
– Không.
Khải nhìn chị thêm một lúc. Nó mười hai tuổi rồi. Nó không còn là thằng bé hỏi chị một bát bánh đúc giá bao nhiêu. Nó gật đầu, rồi đi, không ngoái lại. Đến đầu ngõ nó mới dừng, nói vọng về một câu, không to không nhỏ: chị thắp cho em ba nén.
Nàng đặt cái giỏ xuống. Trong giỏ có một nắm hương, mấy bó vàng mã, một đĩa xôi, một con gà luộc, một chai rượu, một bó hoa cúc. Và một cuộn dây.
Nàng cầm cái thuổng nhỏ, bắt đầu xúc cát đắp lên mộ.
Một tháng nay nàng đã nghĩ về buổi sáng này. Một tháng, kể từ cái đêm trên mui ghe Le Le, khi ông Tước nói hai chữ rồi không nói thêm gì nữa.
Đêm ấy nàng không ngủ. Sáng hôm sau, nàng dậy, nấu cơm, ra chợ, ngồi ở cái chõng tre, bán mấy hũ mắm. Rồi nàng đi họp hội. Đồng Thuyền mất sáu mươi bao muối, mười tám quan tiền vốn. Chủ chiếc Ông Hai bỏ hội, bảo đi biển với hội thì bị cướp, đi một mình thì chưa chắc. Không ai giữ ông ấy. Lái Thìn đứng giữa kho, kể chuyện lá cờ đuôi nheo xanh, giọng sang sảng, đòi đi kiện phường cấu kết với giặc. Quyên bảo không. Một lá cờ không phải là bằng chứng. Thịnh Xương có thể nói cờ ấy treo cho đẹp, có thể nói không biết giặc vì sao không động đến thuyền mình. Kiện thì chỉ cho người ta biết là mình đã thấy. Lái Thìn cãi suốt một buổi, rồi chịu. Hội bàn với nhau từ nay đi biển phải đi đủ sáu ghe, đi ban ngày, ngày sương mù không đi.
Mọi việc vẫn chạy. Và trong lúc mọi việc vẫn chạy, nàng nhìn chú.
Chú Lộc ra chợ hai lần trong tháng. Lần đầu là hai ngày sau vụ cướp. Chú hỏi han Sẻ, hỏi han cái vai sưng, hỏi han mười người bị trói trên cồn. Chú bảo cháu đừng đi biển nữa, chú lo. Chú nói câu ấy thật lòng. Nàng biết là thật lòng. Lần thứ hai chú mang cho Khải gói kẹo lạc, ngồi trên ghế đẩu của bà Đẫy kể chuyện kho phường sắp nhập muối vụ mới. Bà Đẫy vẫn quay đi không chào chú. Chú vẫn không để ý.
Cả hai lần, nàng nhìn tay chú. Tay trái cầm chén nước. Tay trái cầm gói kẹo. Tay trái vỗ vai Khải. Chú thuận tay trái từ bé. Ông nội bắt sửa, đánh vào tay mấy lần, cha nàng kể vậy, nhưng không sửa được.
Nàng không nói với Khải. Nàng không nói với bà Đẫy. Với Phó Phùng, nàng chỉ nói một nửa.
Hôm ấy là một buổi chiều cuối tháng Hai, anh ta xuống bến cá ghi thêm lời khai của người trên chiếc Mắt Xanh. Ghi xong, anh ta đứng lại ở mép kho, nhìn hai mươi cái chum nước, rồi hỏi nàng có muốn anh ta gửi bản nháp ấy lên phủ không. Anh ta nói đã chép một bản, có ông Cai trạm ký nhận là chép đúng.
– Chưa, – nàng nói.
– Vì sao?
– Một dòng chữ bị gạch, người ta bảo vụn vặt. Ba năm trước người ta đã bảo thế. – Nàng nhìn ra sông. – Tôi cần người buộc cái nút ấy tự nói ra.
Anh ta im lặng một lúc.
– Cô biết người ấy là ai.
Nàng không trả lời. Anh ta không hỏi tiếp. Anh ta chỉ nói:
– Người đã im ba năm thì không tự nói đâu. Cô hỏi, người ta sẽ chối.
– Người ấy không chối được, – nàng nói, – trước mộ cha tôi.
Anh ta nhìn nàng rất lâu. Rồi anh ta gật đầu, gấp sổ, đi. Từ hôm ấy, mỗi lần gặp, anh ta chỉ nói chuyện hội, chuyện giặc, chuyện sổ sách của trạm. Có lần anh ta nhìn nàng như định hỏi, rồi thôi.
Ông Tước cũng không nói thêm gì. Sẻ khỏi vai thì ông lại ra ghe, xảm, sửa, nhai trầu. Nhưng có lần, lúc nàng đi ngang qua, ông nói rất khẽ, không nhìn nàng: "Cô Hai đừng làm gì vội."
Nàng không làm gì vội. Nàng chỉ mời chú lên gò Cát.
Chú Lộc phát xong cỏ, ngồi bệt xuống cát, lau mồ hôi trán bằng vạt áo. Chú nhìn nấm mộ.
– Hơn ba năm rồi, – chú nói.
– Vâng.
– Hồi bé, chú với cha cháu hay ra bến tắm. Bến Viên Ký ngày ấy còn là bến đất. Cha cháu bơi giỏi, chú bơi dở. Có lần chú bị chuột rút giữa sông, cha cháu bơi ra kéo chú vào. Ông nội đánh cả hai đứa một trận. – Chú cười, cái cười méo. – Cha cháu bảo, lỗi là của con, con rủ em ra. Thế là ông chỉ đánh cha cháu.
Quyên xúc thêm một thuổng cát. Đắp lên. Vỗ cho chặt.
– Cha cháu lúc nào cũng thế, – chú nói tiếp. – Chú làm hỏng việc gì, cha cháu nhận. Chú nợ ai, cha cháu trả. Ba lần. Ba lần cha cháu trả nợ cho chú. Lần thứ ba, cha cháu bảo: Lộc ơi, anh trả nốt lần này thôi đấy.
– Thế lần thứ tư?
Chú Lộc ngừng lại.
– Không có lần thứ tư, – chú nói. – Chú không hỏi nữa.
Chú nhặt một cọng cỏ gà, vê vê giữa hai ngón tay.
– Thằng Tường nhà chú sang năm cưới vợ, – chú nói, như để đổi chuyện. – Con gái ông thợ đóng ghe ở xóm Bần. Con bé hiền. Ông Tiêu hứa cho thằng Tường lên làm thư ký chính ở kho, lương gấp đôi. – Chú cười, lần này cười thật. – Nó cứ hỏi chú, bố ơi, sao ông Tiêu tốt với nhà mình thế. Chú bảo, vì bố làm việc chăm.
Quyên không nói gì. Nàng nhìn những ngón tay chú vê cọng cỏ, vê mãi cho đến khi nó nát ra thành sợi.
Nàng đặt cái thuổng xuống. Mộ đã đắp xong, cát mới vàng tươi phủ lên cát cũ. Nàng lấy hoa cúc cắm vào cái lọ sành ở đầu mộ. Bày xôi, bày gà, rót rượu. Rồi nàng lấy mấy bó vàng mã ra khỏi giỏ. Vàng mã gói giấy, còn rời, chưa buộc.
– Chú buộc giúp cháu.
Nàng đưa cho chú cuộn dây. Dây đay.
Chú Lộc cầm lấy, không nghĩ gì. Chú rút một đoạn dây, quấn quanh bó vàng mã, tay phải giữ bó, tay trái vòng dây qua, rút một cái. Một vòng. Một nút. Xong. Chú đặt bó vàng mã xuống, cầm bó khác. Một vòng. Một nút. Xong. Chú làm nhanh, gọn, quen tay, như người đã buộc cả nghìn cái bao trong kho.
Quyên nhìn tay chú. Tay trái. Dây đay. Nút đơn.
Năm bó vàng mã nằm trên cát. Năm cái nút đơn giống hệt nhau.
Gió thổi qua rặng phi lao, kêu u u như tiếng sáo. Dưới chân gò, có mấy nhà khác cũng đang tảo mộ, tiếng trẻ con gọi nhau, tiếng ai đó khóc khe khẽ.
Quyên ngồi xuống bên mộ, đối diện chú. Nàng cầm một bó vàng mã lên, gỡ cái nút đơn ra. Rồi nàng buộc lại. Hai vòng chéo. Vòng sau luồn ngược dưới vòng trước. Hai đầu dây chĩa ra như hai cái càng ôm lấy nhau.
Nàng đặt bó vàng mã ấy xuống cạnh bốn bó kia.
Chú Lộc nhìn cái nút. Nhìn rất lâu. Chú biết cái nút ấy từ năm bảy tuổi. Ai lớn lên ở bến Viên Ký cũng biết. Nhưng chú chưa bao giờ buộc được nó. Tay chú không quen.
– Chú, – Quyên nói. Giọng nàng không to, không run. Nàng đã tập câu này suốt một tháng. – Đêm mười bốn tháng Tám năm ấy, một trăm bao muối chú cho người chất lên ghe số Ba. Chú buộc bằng dây đay hay dây lác?
Chú Lộc không nhúc nhích.
Gió vẫn thổi. Phi lao vẫn reo. Chú ngồi đó, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn năm bó vàng mã trên cát. Mặt chú không đổi. Như người ta đổ một gáo nước lạnh lên tượng đá.
– Cháu nói gì, – chú nói. Giọng chú rất nhỏ. – Chú không hiểu.
– Bao cói thưa. Dây đay. Nút đơn. – Quyên nói, từng chữ một. – Bao một đến hai trăm buộc dây lác, nút chân cua. Bao hai trăm lẻ một đến ba trăm buộc dây đay, nút đơn. Người đếm có ghi vào bản nháp. Bản nháp còn ở trạm tuần.
Chú Lộc nhắm mắt lại.
– Đêm ấy ông Tước không ngủ, – nàng nói tiếp. – Ông ấy thấy người ta chất. Ông ấy thấy ai đứng trông.
Chú mở mắt. Chú không nhìn nàng. Chú nhìn bia mộ. Cái tên khắc nông trên đá, rêu bám vào chân chữ.
– Thằng Tước, – chú nói. Rồi chú bật cười, một tiếng cười khô, ngắn, như ho. – Ba năm nay nó không chào chú một câu. Chú tưởng nó giận vì chú làm cho phường.
Quyên chờ.
Chú Lộc đưa tay lên mặt. Tay trái. Chú ôm mặt, ngồi như thế rất lâu. Vai chú bắt đầu run. Rồi cả người chú run.
Rồi chú gục xuống. Không phải ngã. Chú quỳ xuống, hai đầu gối lún vào cát mới đắp, trán chạm vào chân bia mộ. Hai tay chú bấu vào cát.
– Anh ơi, – chú nói. Tiếng chú bị cát nuốt đi một nửa. – Anh ơi.
Quyên ngồi yên. Nàng không đỡ chú dậy. Nàng không nói gì. Nàng nhìn cái lưng áo the nâu run lên từng chặp trước mộ cha, và nàng không biết trong lòng mình đang là cái gì. Không phải giận. Giận thì nóng. Cái này lạnh.
Một lúc lâu sau, chú Lộc ngẩng lên. Mặt chú lấm cát, nước mắt chảy thành hai vệt trên má. Chú nhìn nàng. Đôi mắt lúc nào cũng như đang xin lỗi ai, bây giờ không xin lỗi nữa. Nó chỉ trống rỗng.
– Con Quyên ơi, – chú nói. – Chú không biết anh ấy sẽ chết.
— Hết chương 18 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe