Chương 3: Hai mươi lăm hũ sành
Ông chủ hiệu cầm đồ Phúc Thọ đặt đôi xuyến lên đĩa cân tiểu ly, nheo mắt, rồi gõ nhẹ chiếc xuyến vào mép bàn đá để nghe tiếng.
– Bạc ròng, – ông nói. – Nhưng chạm kiểu cũ. Năm quan.
– Sáu quan, – Quyên nói.
– Cô ơi, bạc thì tôi cân theo lạng, chứ không cân theo kỷ niệm.
– Bác cân theo lạng thì bác đọc số lạng cho cháu nghe.
Ông chủ hiệu ngẩng lên nhìn nàng qua cặp kính lão. Trên quầy gỗ có một cái lư đồng, mấy cái đồng hồ cát, một chồng biên nhận viết dở. Ông hắng giọng, nhìn lại đĩa cân.
– Bốn lạng một đồng cân.
– Giá bạc tháng này một lạng là hai quan. Bốn lạng một đồng cân là tám quan có lẻ. Hiệu cầm thì cầm bảy phần mười giá, là năm quan bảy. Cháu xin sáu quan vì cháu chuộc trước Tết. Nếu cháu không chuộc thì bác được cả đôi.
Ông già bỏ kính ra lau vào vạt áo, lau lâu hơn cần thiết.
– Cô là con nhà ai?
– Nhà họ Viên.
– À. – Ông đeo kính lại. – Sáu quan. Hạn đến rằm tháng Chạp. Quá hạn ba ngày là hiệu bán.
Ra khỏi hiệu, Quyên đứng ở hiên một lúc. Trong túi áo nàng có tờ biên nhận và sáu xâu tiền nặng trĩu. Đôi xuyến ấy mẹ đeo ngày cưới, đeo đến lúc ốm nằm liệt mới tháo ra, nhét vào tay nàng. Mẹ không dặn gì. Mẹ chỉ bảo cất đi, con gái phải có cái gì của riêng mình.
Khải biết chuyện thì giận. Nó không khóc, nó chỉ ngồi quay mặt vào vách cả buổi tối, không ăn hết bát cơm. Đến khi Quyên ngồi xuống cạnh, nó mới nói, không quay lại:
– Đôi xuyến của mẹ nặng bốn lạng một đồng cân. Em biết, vì hồi Tết em lén lấy ra cân bằng cái cân của chị.
– Ừ. Bác Phúc Thọ cũng cân ra thế.
– Chị bảo chị chuộc trước Tết.
– Chị chuộc trước Tết.
– Nếu chị không chuộc được thì sao?
Quyên nghĩ một lúc. Nàng không muốn nói dối nó, mà nói thật thì không có câu nào cho trọn.
– Thì em cứ ghi vào sổ là chị nợ em một đôi xuyến, – nàng nói. – Lãi hai phân.
Khải quay lại. Nó nhìn chị như nhìn một người ngớ ngẩn.
– Lãi hai phân một tháng thì mười tháng là hai mươi phân, chị nợ em hơn một quan tiền lãi.
– Thì chị trả.
Nó lấy giấy ra ghi thật. Viết xong, nó gấp tờ giấy lại, nhét vào cái ống tre đựng bút. Rồi nó ăn nốt bát cơm nguội.
Sáng mười sáu, Quyên thuê một chiếc thuyền nan của nhà chài Vũng Mòi, chở hai mươi lăm cái hũ sành từ lò gốm Gò Đỏ về Diêm Phổ. Mỗi hũ đựng mười cân, men nâu, miệng loe, nắp úp bằng đĩa đất. Giá mười lăm đồng một hũ, cả thảy sáu tiền mười lăm đồng, ông lò gốm bớt cho mười lăm đồng lẻ vì nàng trả ngay. Thuyền nan chòng chành, hũ phải xếp nằm, chèn rơm. Người lái thuyền là một ông già răng đen, cả quãng đường chỉ nói một câu: "Năm nay ruốc nhiều, cô làm mắm à?"
Ở Diêm Phổ, Chắt đã gọi được mười một người đàn bà. Họ đứng chờ ở sân nhà ông Hến, có người bế con, có người còn mang theo cái cào. Quyên không nói nhiều. Nàng bày cái hòm tiền ra giữa sân, mở nắp.
– Mỗi hũ mắm làm xong, đủ mười cân, ăn được, con trả một tiền rưỡi. Con đặt trước nửa tiền ngay hôm nay để các bà các cô mua ruốc. Muối là muối nhà mình. Hũ con đưa. Tháng sau con đến lấy mắm, trả nốt.
Một bà to béo khoanh tay hỏi:
– Thế hũ nào hỏng thì sao?
– Hũ nào hỏng thì nửa tiền đặt trước con không đòi lại.
Đám đàn bà nhìn nhau. Một tiền rưỡi một hũ. Muối trong hũ ấy nếu bán cho phường thì được chừng sáu đồng. Ruốc mua ở Vũng Mòi mấy hôm nay rẻ đến mức một đồng được hai cân.
– Một tiền rưỡi, – bà béo nhắc lại, như để chắc là không nghe nhầm. – Cô định bán mắm cho ai mà trả cao thế?
– Cho người cần mắm, – Quyên nói.
Bà béo bật cười, rồi là người đầu tiên đưa tay ra nhận nửa tiền.
Từ hôm ấy, sân nhà ông Hến thành cái xưởng. Mỗi sáng, thuyền chài Vũng Mòi về, đàn bà Diêm Phổ ra tận mép nước đón, mua ruốc theo thúng. Ruốc tươi màu hồng nhạt, nhỏ như hạt gạo, nhảy lách tách trong thúng. Người ta đổ ruốc vào cái nong lớn, múc nước biển dội lên rửa, rồi ngồi quanh nhặt từng con cá con, từng sợi rong, từng mảnh vỏ ốc. Nhặt sạch thì để ráo.
Chắt đong muối. Cô đong bằng một cái bát đàn, cứ ba bát ruốc một bát muối, trộn trong cái chậu sành, hai tay xoa đều như nhào bột. Muối đầu mùa hạt to, cọ vào ruốc lạo xạo. Trộn xong thì cho vào hũ, nén chặt, bày ra sân, mặt hũ hướng về phía mặt trời.
– Mắm ruốc sợ nhất ba thứ, – Chắt vừa làm vừa giảng cho Quyên, dù Quyên đã biết. – Sợ nước mưa, sợ ruồi, sợ người lười. Mỗi sáng phải lấy đũa cả đảo một lượt cho nó thở. Chiều đậy nắp. Nắng tốt thì mười ngày bắt đầu lên màu. Mười lăm ngày thì giã nhuyễn, phơi tiếp. Một tháng thì ăn được.
– Ở nhà chị mẹ chị cho thêm một chút đường thắng.
– Cái đấy là mắm nhà giàu. – Chắt cười. – Mắm đi bán thì cứ mặn cho chắc, người mua về muốn ngọt thì tự cho đường.
Quyên ở Diêm Phổ ba ngày, về Cửa Tranh bán hết số muối còn lại trong hai phiên mười bảy và hai mươi hai, rồi lại xuống. Hai mươi lăm hũ là chuyến thử. Nàng muốn tận mắt xem nó lên màu thế nào, muốn biết bà nào làm sạch, bà nào làm ẩu, hũ nào đặt chỗ nắng sớm, hũ nào nắng muộn. Nàng ghi tất cả vào đầu. Nàng không ghi ra giấy, vì giấy thì người khác đọc được.
Phiên hai mươi hai, chú Lộc lại ra chợ.
Chú không ngồi. Chú đứng cạnh chõng, nhìn hai cái thúng gần cạn, rồi nhìn nàng.
– Chú nghe người ta nói cháu hay xuống Diêm Phổ.
– Cháu xuống chơi với con Chắt nhà ông Hến.
– Chơi. – Chú Lộc gật gù. – Ở kho người ta cũng nghe. Cửa Tranh bé lắm, cháu ạ. Cháu thở mạnh một cái ở Diêm Phổ là trên này có người biết.
Quyên tiếp tục xếp lại mấy quả cân đá.
– Ông Tiêu không phải người xấu, – chú nói, giọng thấp xuống. – Ông ấy buôn bán thì cứng, nhưng ai làm cho ông ấy thì ông ấy không bạc. Có điều ông ấy không thích người ta chọc vào cái gì đã là của ông ấy. Cháu đừng chọc ông Tiêu.
– Cháu có chọc gì đâu chú.
– Ừ thì không. – Chú thở dài. – Cháu cứ nhớ lời chú. Hai chị em cháu chỉ còn chú.
Chú đi. Bà Đẫy nhìn theo lưng chú, nói nửa như với Quyên, nửa như với hũ mắm tép:
– Ông ấy thương cháu thật đấy. Thương kiểu người đứng trên bờ thương người dưới nước.
Hôm hai mươi bảy, Quyên đang ở sân nhà ông Hến thì có người đến.
Người ấy đi bộ, không có ai theo, mặc áo dài the màu lam sẫm, tay cầm cái quạt giấy, đội nón dấu nhỏ. Mặt tròn, da hồng hào, cười trước khi nói. Đám đàn bà đang đảo mắm thấy ông thì tự nhiên tản ra, mỗi người tìm một việc gì đó để cúi xuống.
– Chào cả nhà, – người ấy nói. – Ông Hến có nhà không?
– Bố em ra ruộng, – Chắt đáp, không đứng dậy.
– Ông quản Cao, – Chắt thì thầm với Quyên khi người kia còn đứng ở cổng ngắm giàn mướp. – Quản sự của phường. Ông ấy xuống đọc khế cho cả làng hôm trước.
Cao Bỉnh đi một vòng quanh sân, chắp tay sau lưng, như người đi thăm vườn. Ông dừng lại trước mấy hũ mắm, cúi xuống, mở một cái nắp, ngửi.
– Thơm, – ông khen. – Ruốc đầu mùa. Làm nhiều thế này, nhà ăn cả năm à?
– Ăn cả năm, – bà béo nói to. – Nhà tôi có tám miệng ăn.
– Thế thì phải. – Ông đậy nắp lại cẩn thận, rồi quay sang nhìn Quyên. Ông nhìn lâu, vẫn cười. – Cô đây là người làng à? Trông không giống.
– Cháu ở trấn xuống chơi.
– Xuống chơi mà tay dính đầy ruốc. – Ông gật đầu, như thấy điều ấy rất hay. – Người trấn mà chịu khó thế này thì hiếm.
Ông không hỏi tên nàng. Ông không cần hỏi. Ông đi thêm một vòng, đếm hũ bằng mắt, rồi chào cả nhà, đi ra cổng, nhịp quạt đều đều.
Đêm hai mươi chín, trời giông.
Từ chiều, mây đã kéo từ phía biển vào, thấp và đen, bụng mây lấp loáng chớp. Ông Hến nhìn trời rồi bảo năm nay mưa sớm, chưa hết tháng Hai đã có giông. Đàn bà đã đậy nắp hũ từ chập tối, chèn đá lên trên. Nhưng đến canh ba, gió giật một trận, thổi bay nắp hai cái hũ ở góc sân, rồi mưa đổ xuống như ai dốc thúng.
Quyên chồm dậy trước cả Chắt. Nàng chạy ra sân, không kịp đội nón, tóc xổ tung. Chắt chạy theo, rồi Nhái, rồi vợ ông Hến. Mấy nhà bên cạnh cũng có người chạy ra, đèn bão chao đảo dưới mái hiên. Trong tiếng mưa rát mặt, người ta gọi nhau, khiêng hũ vào hiên, vào buồng, vào gầm phản. Hũ mười cân nặng trĩu, trơn tuột. Quyên ôm một hũ vào ngực, chân trượt trên đất sét, ngã quỵ một gối, vẫn không buông.
Khi trời rạng, hai mươi mốt hũ nằm khô ráo trong nhà ông Hến và mấy nhà hàng xóm. Bốn hũ ở góc sân, hai cái bị bay nắp, hai cái bị nước tràn qua miệng, mắm loãng ra như cháo, màu nhợt nhạt. Chắt nếm thử một chút rồi nhổ ra.
– Hỏng rồi. Nước mưa vào là chua.
– Bốn hũ, – Quyên nói.
Nàng ngồi xuống bậc cửa, thở. Đầu gối rớm máu, ống quần rách một đường. Bốn hũ là hai tiền đặt trước mất trắng, là sáu mươi đồng tiền hũ, là công của bốn nhà. Nàng tính xong thì thấy cũng không đến nỗi. Hai mươi mốt hũ còn nguyên. Hai mươi mốt hũ đầu tiên.
Bà béo ở nhà bên mang sang một nồi nước gừng nóng, bắt mọi người uống. Đàn bà ngồi kín hiên nhà ông Hến, tóc ướt, áo ướt, ai cũng cười, kể nhau nghe lúc nãy ai ngã, ai ôm nhầm cái chum nước tưởng hũ mắm.
Ông Hến ngồi ở góc phản, không cười. Ông nhìn mấy cái hũ xếp trong buồng.
– Cô Viên, – ông nói, – cô biết hôm kia ông quản xuống làm gì không?
– Xem mắm, – Quyên nói.
– Không. Xem người.
Sáng hôm ấy, mùng Một tháng Ba, trời quang như chưa từng có trận giông. Nắng hửng lên từ biển. Đàn bà đem hũ ra sân phơi lại. Quyên đang cùng Chắt lau từng cái nắp thì ngoài cổng có tiếng gọi.
Một gã trai mặc áo nẹp xanh, cái áo của người làm phường Thịnh Xương, đứng ở đó, không bước vào.
– Ông Bùi Văn Hến, – gã gọi to, giọng như đọc bảng. – Ông quản mời ông lên kho Thịnh Xương ở đầu làng. Ngay bây giờ.
— Hết chương 3 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe