Chương 10: Rằm tháng Bảy ở đền Bà Cửa Sông
– Con bé nhà Viên mà đòi làm trùm ghe, – Lái Thìn nói, rồi nhổ một bãi nước bọt xuống mạn chiếc Ba Cá, cách chân Quyên chừng một gang tay.
Quyên không lùi. Nàng đứng trên ván cầu, nhìn ông ta. Lái Thìn năm mươi tuổi, lùn, ngực như cái thùng, râu quai nón lởm chởm bạc. Chiếc Ba Cá của ông nằm ở bến cá từ đầu tháng Sáu, không có chuyến nào. Ba mái chèo dựng ở khoang lái đã phủ bụi.
– Cháu không đòi làm trùm, – nàng nói. – Cháu đòi đi chung.
– Đi chung để làm gì? Ghe tôi chạy nhanh hơn ghe cô. Lái của tôi giỏi hơn lái của cô.
– Lái của chú là chú. Lái của cháu là ông Tước.
Lái Thìn ngừng lại. Ông ta nhìn sang phía bến, nơi ông Tước đang ngồi trên mui Le Le xảm lại một khe ván.
– Thằng Tước. – Ông ta lẩm bẩm. – Nó còn chèo được à?
– Chú ra mà hỏi ông ấy.
Lái Thìn không ra hỏi. Ông ta quay vào khoang, lấy cái giẻ lau mái chèo, lau rất mạnh, như muốn lau cho mòn đi.
– Đi chung thì được gì? – ông ta hỏi, không quay ra.
– Chú không có hàng. Cháu có hàng mà không đủ ghe. Bến chính Thịnh Xương nắm, hàng của ai cũng phải qua tay họ, họ chỉ cho ghe họ chở. Chú nằm đây thêm một tháng thì ghe mục. Cháu chạy một mình thì người ta nhắm vào một mình cháu.
– Người ta nhắm vào cô là việc của cô.
– Thì chú cứ nằm đây.
Nàng quay đi. Đi được mấy bước, nàng nghe tiếng ông ta gọi với theo, cộc lốc:
– Bao giờ họp?
– Rằm tháng Bảy. Sau lễ cúng ở đền Bà.
Lái Thìn không nói gì nữa. Nhưng tiếng giẻ lau mái chèo đã thôi.
Tháng Bảy năm ấy là tháng tệ nhất của Quyên từ khi nàng ra chợ.
Muối lẻ Thịnh Xương vẫn bán ba đồng. Mắm ruốc hai tiền. Không chỉ ở chợ Cửa Tranh, mà cả những chợ làng quanh trấn. Người mua không có lỗi gì, người ta mua chỗ rẻ. Những sạp nhỏ dẹp hết. Bà Lựu đi làm thuê cho một lò bánh. Ông Cả Bống đem con ghe nhỏ đi bán cho người ở vạn chài. Con Sim ở dãy trong bế con về quê ngoại. Mỗi lần nghe tin một người dẹp sạp, bà Đẫy lại chửi một trận, nhưng giọng chửi mỗi lần một nhỏ.
Quyên không bán được gì ở chợ. Nhưng nàng vẫn ra ngồi, mỗi phiên. Nàng bày hai hũ mắm, một bó cá, rồi ngồi đếm người đi qua. Nàng muốn biết ai vẫn đi qua mà không ra sạp Thịnh Xương. Có một số người như thế. Không nhiều. Một bà cụ ở xóm Đình vẫn mua của nàng hai cân muối mỗi tháng, trả năm đồng, bảo muối của phường tuy rẻ nhưng không biết từ đâu ra. Một người đàn ông làm nghề đóng ghe vẫn mua mắm của nàng, bảo mắm của phường mặn chát như nhai muối. Những người như thế giữ cho cái chõng tre không mục.
Và nàng đi khắp bến cá, gặp từng chủ ghe nhỏ.
Bến cá Cửa Tranh nằm dưới chân đền Bà Cửa Sông, cách bến chính một quãng dài. Ghe ở đây là ghe nghèo: ghe đánh cá, ghe chở củi, ghe đò ngang, ghe chở hàng thuê cho ai thuê thì chở. Ba năm nay, kể từ khi Thịnh Xương mua lại bến chính, mọi hàng đi lên nguồn đều phải qua kho phường, mà kho phường thì chỉ giao cho ghe phường. Ghe nhỏ chỉ còn chở những thứ phường không thèm: phân bón, rơm rạ, người đi ăn cưới.
Nàng gặp cô Lài, chủ chiếc Mẹ Con, một người goá ba mươi tuổi, nước da đen, cái miệng rộng hay cười. Cô chở ghe cùng thằng con trai mười hai tuổi tên Bin, hai mẹ con chèo ghe từ hồi chồng cô chết đuối. Cô Lài nghe xong thì gật đầu ngay, không hỏi gì.
– Cô không sợ à? – Quyên hỏi.
– Sợ gì? Sợ chết đói thì sợ rồi. – Cô cười, xoa đầu thằng Bin. – Em đi.
Nàng gặp anh Cối, chủ chiếc Cái Nồi, một người to như con trâu mộng, nói ít, tay cầm cái bát cơm to bằng cái chậu. Anh Cối nghe, ăn hết bát cơm, rồi bảo:
– Có hàng thì đi.
Nàng gặp ông Lái Mõ, ông già bảy mươi, chủ chiếc Bông Lau, chiếc ghe đẹp nhất bến cá, gỗ sao đen bóng, mui cong như cánh cò. Ông Mõ không có con trai, chỉ có ba đứa cháu gái. Ông bảo ông định bán ghe cuối năm, rồi ông ngồi nhìn chiếc ghe, không nói thêm.
– Bán cho ai? – nàng hỏi.
– Người của phường đến hỏi mấy lần rồi. – Ông vuốt mạn ghe. – Bố tôi đóng nó. Tôi không muốn bán. Nhưng ghe mà nằm bến thì chẳng khác gì cái quan tài.
– Thế thì ông đi với cháu một chuyến. Rồi ông bán sau.
Ông Mõ cười, cái cười móm. Ông bảo được.
Nàng gặp thêm ba chủ ghe nữa. Hai người từ chối thẳng, một người sợ, bảo phường biết thì không cho ghe ông neo bến nữa.
Bà Đẫy đi theo nàng mấy hôm. Bà không nói giúp, chỉ đứng sau lưng nàng, khoanh tay, nhai trầu. Nhưng người ở bến cá ai cũng biết bà, biết con trai bà, biết bà chửi ai thì người ấy xấu hổ ba ngày. Bà đứng đó, và người ta nghe Quyên nói hết câu.
Rằm tháng Bảy. Lễ Vu lan. Ngày xá tội vong nhân.
Từ chiều, đền Bà Cửa Sông đã đông người. Đền nhỏ, ba gian mái ngói rêu phong, trước sân có cây đa cổ thụ rễ buông như râu ông già. Trong đền thờ Bà, tượng gỗ sơn son đã bong tróc, hai bên là hai con hạc đứng trên lưng rùa. Người đi biển, người chèo ghe ở Cửa Tranh đời nào cũng đến đây thắp hương trước mỗi chuyến đi.
Quyên mang đến một mâm cúng cô hồn: một nồi cháo trắng, một đĩa bỏng ngô, mấy nắm muối gạo, mười cái bánh đa, ít tiền vàng. Nàng bày trên cái chiếu trải ngoài sân, cạnh những mâm khác. Khải đứng cạnh, tay cầm nắm hương.
Trăng rằm lên từ phía biển khi trời vừa tối, tròn và vàng như cái mâm đồng. Người ta thắp hương, khấn, rồi đốt vàng mã trong cái lò gạch ở góc sân. Lửa bốc lên đỏ rực, tàn bay như bướm đêm. Rồi theo lệ, người ta tung cháo, tung bỏng, tung muối gạo ra khắp sân. Trẻ con trong xóm ùa vào giành nhau nhặt bỏng, nhặt bánh, nhặt mấy đồng tiền lẻ, la hét om sòm. Thằng Bin của cô Lài giành được hai cái bánh đa, chạy về khoe mẹ.
Khi sân đã vắng, Quyên ở lại. Dưới gốc đa, ông Tước đã trải sẵn một tấm cói. Bà Đẫy mang ra một ấm chè xanh, mấy cái bát đàn.
Người đến không đông. Cô Lài với thằng Bin. Anh Cối. Ông Lái Mõ chống gậy. Người chủ ghe sợ hãi hôm trước cũng đến, đứng ở mép sân không ngồi. Rồi, khi chè đã rót xong lượt đầu, Lái Thìn đi vào cổng đền, không chào ai, ngồi phịch xuống một góc chiếu.
Năm chủ ghe và một thằng bé. Cộng Quyên, ông Tước, bà Đẫy, Khải.
Quyên không đứng lên nói. Nàng ngồi, như mọi người, rót thêm chè cho Lái Thìn.
– Cháu nói ngắn, – nàng nói. – Ghe của các chú các cô không có hàng. Cháu có hàng, mà một chiếc Le Le không chở hết. Mắm ruốc, cá khô Vũng Mòi, mắm tép của u Đẫy, nồi đất Gò Đỏ, chiếu cói của làng Hạ. Những người làm hàng ấy cũng như mình, cũng bị phường ép giá. Họ cần người chở lên nguồn. Người trên nguồn cần hàng. Mình ở giữa.
– Ở giữa thì bị kẹp, – Lái Thìn nói.
– Đi một mình thì bị kẹp. Đi chung thì không.
– Đi chung là thế nào?
– Đi một đoàn. Ghe nào cũng đi cùng ngày, neo cùng bến, qua trạm cùng lúc. Gặp ghềnh thì kéo cho nhau. Gặp trạm thì một người lên trình giấy cho cả đoàn, không ai bị giữ riêng. Gặp người hỏi giá thì một giá, không ai phá giá ai.
– Hàng của ai?
– Hàng của mỗi người. Mỗi ghe góp bao nhiêu khoang thì chở bấy nhiêu hàng. Lời bao nhiêu, chia theo khoang. Ghe nào chở ít khoang thì chia ít.
– Thế ghe nào chìm?
Cả đám im. Câu ấy là câu mọi người muốn hỏi.
– Mất chung chịu chung, – Quyên nói.
Lái Thìn đặt bát chè xuống, mạnh đến mức nước sóng sánh ra ngoài.
– Mất chung chịu chung! Ghe tôi tốt, chắc như cái cối đá. Ghe con mụ Lài mỏng như cái lá. Nó chìm thì tôi phải gánh à? Ai bảo nó đóng ghe mỏng?
Cô Lài đỏ mặt, định cãi. Quyên giơ tay.
– Không phải gánh thế. – Nàng rút trong túi áo ra một tờ giấy, mở trên chiếu. Khải đã viết sẵn, chữ to và cẩn thận. – Mỗi chuyến, trước khi chia lời, mỗi ghe trích ra một phần mười theo khoang, bỏ vào một cái quỹ. Gọi là quỹ chìm. Ghe nào mất hàng, quỹ trả lại vốn hàng ấy. Ghe nào hỏng, quỹ trả tiền sửa. Ghe chú tốt, ít chìm, thì chú góp vào quỹ mà ít khi phải lấy ra. Nhưng ghe nào cũng có lúc gặp lũ. Lúc ấy quỹ đứng ra.
Lái Thìn nhìn tờ giấy. Ông ta không biết chữ, nhưng ông ta nhìn như người đọc được.
– Quỹ ấy ai giữ?
– Cháu giữ. Khải ghi sổ. Ai muốn xem thì xem, lúc nào cũng được.
– Cô giữ. – Lái Thìn cười khẩy. – Cô lấy gì ra mà bảo người ta tin?
Không ai nói gì. Gió từ biển thổi vào, lá đa xào xạc. Trong đền, hương khói vẫn bay.
Bà Đẫy cởi cái túi vải đen buộc ở thắt lưng ra. Bà đặt nó lên chiếu, cạnh tờ giấy.
– Ba quan, – bà nói. – U góp vào quỹ trước. U không có ghe. U không đi. Nếu con Quyên ăn mất ba quan của u thì u đi chửi nó khắp chợ cho đến lúc u chết.
Có người phì cười. Cô Lài cười to nhất.
Ông Tước ngồi im từ đầu buổi, giờ mới lên tiếng:
– Thìn này. Ba mươi năm trước tôi với mày chèo chung ghe cho ông Viên Đức Thuần. Ông ấy trả lương đúng ngày. Ông Khoan con ông ấy cũng thế. – Ông nhổ bã trầu ra ngoài chiếu. – Con bé này cạo hà cùng thằng Sẻ nhà tao mười một ngày, tay rớm máu không kêu một câu.
Lái Thìn quay sang nhìn ông Tước. Hai ông già nhìn nhau rất lâu.
– Một chuyến, – Lái Thìn nói cuối cùng. – Tôi đi một chuyến xem.
Cô Lài vỗ đùi. Anh Cối gật đầu. Ông Lái Mõ cười móm. Người chủ ghe đứng ở mép sân vẫn đứng đó, rồi lặng lẽ đi ra cổng.
Năm ghe. Le Le, Ba Cá, Mẹ Con, Cái Nồi, Bông Lau.
– Đặt cái tên đi, – cô Lài nói. – Có cái tên cho nó oai.
Mọi người nhìn nhau. Có người bảo gọi là đoàn ghe bến cá. Có người bảo gọi là hội ghe nghèo, cả đám cười. Khải đang ngồi chép tên năm chiếc ghe vào tờ giấy, ngẩng lên nói:
– Mình đi chung thì là cùng một thuyền.
Ông Tước nhắc lại, chậm rãi, như nếm thử một miếng trầu mới:
– Đồng Thuyền.
Không ai phản đối.
Họ ngồi bàn đến khuya. Ngày đi, hàng gì, ghe nào chở gì, ai lo gạo, ai lo dầu đèn. Trăng rằm lên cao, chiếu xuống sân đền trắng như rắc muối. Lái Thìn cãi về mọi điều, nhưng cãi xong thì gật. Ông Lái Mõ ngủ gật dựa vào gốc đa. Thằng Bin nằm gối đầu lên đùi mẹ ngủ say.
Quyên về nhà khi trăng đã ngả về tây. Khải đi bên cạnh, ôm tờ giấy có tên năm ghe vào ngực, như ôm một thứ quý.
Đến đầu ngõ Cá Đối, nàng thấy có người đứng dưới gốc cây bàng. Áo the nâu. Khăn xếp hơi lệch.
– Chú.
– Chú chờ cháu từ chập tối. – Chú Lộc bước ra khỏi bóng cây. Mặt chú dưới ánh trăng xanh xao. – Chú nghe nói cháu họp ở đền Bà.
– Vâng.
– Năm chiếc ghe. – Chú thở dài. – Cháu ơi.
Quyên không nói gì. Khải đứng nép sau lưng chị.
– Chú không đến để can, – chú Lộc nói. – Chú biết can cũng không được. Chú đến để nhắn. – Chú nhìn nàng, đôi mắt vẫn như xin lỗi ai. – Ông Tiêu muốn gặp cháu. Chiều mai, giờ Thân. Ở nhà ông ấy, phố Hàng Buồm.
— Hết chương 10 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe