Chương 34: Hai bản án
Ông Tước đi vào công đường bằng cây gậy tre, và khi ông quỳ xuống trước án, cây gậy rơi khỏi tay ông, lăn đến chạm vào một cái bao muối buộc nút chân cua thì dừng lại.
Ông không nhặt. Ông quỳ đó, cái lưng còng gập xuống, hai bàn tay đen như rễ bần đặt trên nền gạch mòn lõm, ở đúng cái chỗ người ta hay quỳ.
– Bẩm quan, – ông nói. – Tôi là Hà Văn Tước. Năm Cảnh An thứ sáu, tôi mười sáu tuổi. Tôi đứng ở công đường này. Tôi nói dối.
Quyên đã kể trước. Kể ngắn, đứng thẳng trước mười hai cái bao cói, giọng đều như đọc sổ. Cái nút là của ông Tiêu Trọng Văn. Ông nội nàng học được. Một chiếc ghe muối quan hai trăm bao. Lạch Bần Tía. Cồn Ông Vọ. Một lời khai ở công đường phủ Vĩnh Ninh bốn mươi bảy năm trước. Kể xong, nàng nói: người chèo chiếc ghe ấy còn sống, đang ngồi ngoài sân công đường. Nếu quan cho gọi.
Bố chánh Nghiêm cho gọi.
Ông Tước kể như kể trong lạch, từng đoạn, có lúc dừng lại để thở. Công đường lặng đến mức nghe được tiếng chim sẻ đậu trên mái ngói. Tiêu Bá Lâm quỳ ở hàng bên kia, mắt nhìn xuống nền gạch, không động. Hoằng nhìn ông Tước. Chú Lộc nhìn ông Tước. Ngoài sân, người ta chen nhau nhón chân.
– Ông Thuần dạy tôi nói, – ông Tước kể đến cuối. – Ba thuyền buồm đen. Ông chủ Tiêu dặn đi đường cồn. Tôi nói đúng từng chữ. Tôi không dám nhìn sang chỗ bà chủ Tiêu đứng dắt con ở cửa. – Ông ngẩng lên, nhìn về phía cửa công đường, như người đàn bà ấy vẫn còn đứng đó. – Thằng bé con bà ấy bây giờ đang quỳ ở đây.
Bố chánh Nghiêm im lâu. Rồi ông quay sang ông thông lại đứng cạnh án.
– Hồ sơ năm Cảnh An thứ sáu. Án muối quan. Tiêu Trọng Văn.
– Bẩm, bốn mươi bảy năm…
– Phủ này có hòm lưu. Tìm.
Ông thông lại đi. Công đường nghỉ hai ngày.
Hai ngày ấy Quyên ở trên chiếc Bông Lau neo ở bến phủ thành. Ông Tước nằm trong khoang, ngủ li bì, như người vừa trút được một bao muối năm mươi cân mang trên lưng bốn mươi bảy năm. Khải ngồi cạnh ông, quạt muỗi. Kiên đến mỗi chiều, không nói gì nhiều, ngồi trên mui ghe với nàng đến khi trời tối.
– Em có sợ không? – anh ta hỏi một lần.
– Sợ gì?
– Người ta sẽ biết. Cả Cửa Tranh. Cả phủ. Nhà Viên dựng lên trên muối quan. Từ nay ai nhìn em cũng sẽ nghĩ thế.
Quyên nhìn mặt sông. Ở phía xa, bức tường đá ong của ngục phủ đỏ lên trong nắng chiều.
– Ba năm em ngồi ở lối đi chợ, – nàng nói. – Người ta nhìn em như nhìn cái nền nhà cháy. Biết chỗ này ngày trước to lắm. – Nàng dừng lại. – Bây giờ người ta sẽ biết vì sao nó to. Thế thì đúng hơn.
Khải nghe hết, không chen vào. Đến khi Kiên về, thằng bé mới ngồi xuống cạnh chị trên mui ghe.
– Ở chợ Cửa Tranh người ta sẽ bảo nhà mình ăn cắp, – nó nói.
– Ừ.
– Thì mình cứ ngồi ở chợ, – nó nói. – Cân đúng. Người ta nhìn mãi thì người ta thôi.
Sáng ngày thứ ba, công đường mở lại. Ông thông lại đặt lên án một tập giấy buộc dây gai, mép giấy đã mủn, chữ đã nhoè. Bố chánh mở ra, đọc rất lâu. Ông đọc to vài dòng. Lời khai của Viên Đức Thuần, áp tải. Lời khai của Hà Văn Tước, mười sáu tuổi, người chèo. Lời khai của Văn Thị Gấm, vợ Tiêu Trọng Văn: chồng tôi nằm sốt ở nhà cả đêm. Bên lề lời khai ấy có một chữ phê bằng mực son đã phai: vợ khai cho chồng, không đáng tin.
Bố chánh gập tập giấy lại.
Rồi ngày hai mươi tháng Tư, Bố chánh Nghiêm Tư Đạo ra hai bản án.
Bản thứ nhất đọc trước. Ông thông lại đọc, giọng sang sảng, công đường đông nghẹt, ngoài sân người đứng kín đến tận cổng phủ, đến tận hai con sư tử đá.
Tôn Ngũ, gọi là Ngũ Rái, và hai mươi hai đồng đảng: giặc bể, cướp ghe dân, bắt người làm tin, giải về kinh xử theo luật giặc bể. Sào huyệt Cồn Rắn giao thuỷ binh phủ Lạc Trì đi dẹp.
Cao Bỉnh: gài muối lậu vào ghe người, trao tiền cho giặc, thuê trẻ đốt kho, viết thư cho giặc bắt người làm tin. Lưu ra đồn biên, chung thân.
Quyên nghe hai chữ đồn biên. Nàng nghĩ đến một người đàn ông nằm sốt dưới ba lớp chăn, rồi bị giải đi đồn biên, ba năm sau mất ở đấy, không ai biết chôn ở đâu. Nàng không thấy vui.
Lư Công Hách: nhận tiền của phường buôn, báo trước việc khám, bỏ chứng khỏi biên bản, bịa biên bản, thu phí trái lệ. Cách chức, tịch biên phần tài sản do tham, giam năm năm.
Tiêu Bá Lâm: chủ phường, sai người gài muối lậu vào ghe họ Viên, trả tiền đường cho giặc bể, mua chuộc quan trạm. Tịch phần lời bất chính của phường Thịnh Xương từ năm Diên Bình thứ tư đến nay, trong đó có kho bến cũ của Viên Ký. Giam ba năm. Xét tự thú, không xét tội đốt kho và bắt trẻ.
Tiêu Hoằng: không tội.
Viên Đình Lộc: chất muối lậu lên ghe anh ruột. Phạt sáu mươi quan. Lao dịch đắp đê phủ Vĩnh Ninh một năm. Xét tự thú, làm chứng, không giam.
Chú Lộc quỳ nghe. Đến hai chữ sáu mươi quan, chú ngẩng lên, nhìn về phía Quyên. Đôi mắt chú đỏ, nhưng khô. Rồi chú cúi đầu, lạy một lạy về phía án, như người nhận một món nợ đã đợi từ lâu.
Viên Đình Khoan: án năm Diên Bình thứ tư, xét lại, không có tội. Xoá án. Bỏ lệnh cấm lĩnh diêm dẫn của nhà họ Viên.
Quyên quỳ. Nàng nghe tên cha được đọc lên giữa công đường. Bốn năm rưỡi trước cha đã bị giải đến chính chỗ này, rồi chưa kịp đến ngày xử thì người ta đã báo về Cửa Tranh bảo đến nhận xác. Nàng không khóc. Nàng chỉ cúi đầu xuống nền gạch, và nghe sau lưng có tiếng Khải thở mạnh qua mũi như con mèo xù lông, như cái ngày ở phiên chợ tháng Hai.
Phùng Tử Kiên: tội bỏ trạm hai mươi hai ngày, phạt ba tháng lương. Tội nhận lễ, xét hũ mắm đặt nơi bậc đá công cộng, sau khi việc đã xử, người đặt không xin gì, người nhận không làm sai lệ cho ai, không thành tội. Phục chức. Giữ quyền Tuần sứ trạm Ải Bồng cho đến khi phủ cử người.
Kiên quỳ ở hàng sau. Quyên không quay lại nhìn anh ta. Nàng không cần nhìn.
Rồi ông thông lại cầm bản án thứ hai.
Bản này ngắn hơn. Án năm Cảnh An thứ sáu, xét lại. Tiêu Trọng Văn, chủ ghe chở muối quan, bị khép tội bày vụ cướp giả, bán muối quan, đày đồn biên, mất tại đó. Nay có người chèo ghe năm ấy là Hà Văn Tước tự thú khai man, có lời khai năm ấy của vợ Tiêu Trọng Văn đã bị gạt bỏ không xét. Xét Tiêu Trọng Văn không có tội. Minh oan. Người gây ra là Viên Đức Thuần, đã mất. Hà Văn Tước khai man năm mười sáu tuổi theo lời người lớn sai, tội ấy đã được đại xá năm Diên Bình nguyên niên, không xét lại.
Ông thông lại đọc đến chữ minh oan thì dừng một nhịp, như chính ông cũng thấy chữ ấy nặng.
Ở hàng bên kia, Tiêu Bá Lâm vẫn quỳ. Ông không cúi đầu. Ông ngẩng lên, nhìn thẳng vào tờ giấy trong tay ông thông lại, như muốn đọc lại từng chữ bằng mắt mình. Hai bàn tay ông đặt trên đầu gối nắm lại, rồi mở ra, rồi nắm lại.
Bố chánh Nghiêm nhìn xuống.
– Viên Tố Quyên. Cô còn gì nói không?
Quyên ngẩng lên.
– Bẩm quan, có hai điều.
– Nói.
– Kho bến cũ của Viên Ký, quan tịch vào quan. – Nàng nói chậm. – Kho ấy ông nội cháu dựng bằng tiền muối quan. Nhà cháu không có quyền xin lại. Ông Tiêu mua nó bằng tiền gài cha cháu. Nhà ông Tiêu cũng không có quyền giữ. – Nàng dừng lại. – Cháu xin quan cho kho ấy làm kho chung của bến Cửa Tranh. Ghe nào neo cũng được, hàng nào gửi cũng được, giá thuê công bằng, có cân có dấu phủ, ai cũng đến đo được.
Bố chánh nhìn nàng.
– Điều thứ hai?
– Năm Cảnh An thứ sáu, ông Tiêu Trọng Văn bị kết tội ở công đường này, rồi cả bến Cửa Tranh biết. Người ta nói với nhau bốn mươi bảy năm. Bà cụ nhà Tiêu gánh thuê ở bến mười mấy năm, ai đi qua cũng biết bà là vợ người bán muối quan. – Quyên nói. – Cháu xin quan cho đọc bản án minh oan ở bến Cửa Tranh. Ở đền Bà Cửa Sông. Trước mặt cả bến.
Bố chánh Nghiêm không trả lời ngay. Ông nhìn sang Tiêu Bá Lâm.
Ông Tiêu vẫn quỳ, vẫn ngẩng mặt. Nhưng bây giờ ông không nhìn tờ giấy nữa. Ông nhìn Quyên.
– Được, – Bố chánh nói. – Cả hai điều.
Chiều hôm ấy, Quyên đi vòng ra phía sau phủ đường.
Bức tường đá ong vẫn cao quá đầu người, rêu bám từng mảng, trên đầu tường cắm mảnh sành. Gã lính gác vẫn ngồi trong cái chòi canh. Lần trước nàng đứng đây, Khải mười một tuổi đứng bên cạnh, không nói. Lần này Khải mười ba tuổi, đứng bên cạnh, cũng không nói.
Sau bức tường ấy cha nàng đã nằm từ tháng Tám đến tháng Chạp. Sau bức tường ấy bây giờ có ông Tiêu Bá Lâm. Có Cao Bỉnh. Có Lư Công Hách. Có lẽ bốn mươi bảy năm trước, cũng sau bức tường ấy, có một người đàn ông vừa qua cơn sốt rét, chờ ngày giải đi đồn biên.
Kiên đến đứng sau lưng nàng. Anh ta mặc lại áo the xanh của trạm, cái áo đã bạc ở hai vai.
– Mai anh lên Ải Bồng, – anh ta nói.
– Ừ.
– Cây sào lim ấy, – anh ta nói, – lần sau em đi qua, anh nhấc lên cho em. Đúng lệ.
Quyên khẽ cười. Lần đầu tiên trong ngày.
Ra đến cổng phủ, chỗ hai con sư tử đá, có người đứng chờ. Tiêu Hoằng. Áo cánh nâu, không đội khăn. Mắt hắn đỏ, nhưng giọng hắn vẫn là giọng của người nói chuyện bằng giá cả.
– Cô Viên. Phường Thịnh Xương còn lại chín chiếc ghe. Không có bến, không có kho, không có cha tôi. – Hắn nhìn nàng. – Rằm tháng Bảy, tôi muốn mang chín chiếc ghe ấy đến đền Bà Cửa Sông. Cô có cho tôi ngồi uống chè không?
— Hết chương 34 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe