Chương 8: Ba ngày ở trạm Ải Bồng
Kim cân đòn của trạm Ải Bồng chỉ vào vạch một trăm lẻ bốn, và ông Tuần sứ Lư vỗ hai bàn tay vào nhau như người vừa thắng một ván bài.
– Một trăm lẻ bốn cân, – ông đọc to, cho cả bến nghe. – Quế rừng, quá trăm cân, không có giấy rừng. Theo lệ tịch thu hết, chủ hàng phạt gấp đôi giá trị. Giữ ghe!
Hai gã lính bước xuống bến, đứng chắn hai đầu Le Le.
Chiều mười tháng Năm. Le Le xuôi dòng từ Bản Quế bốn ngày, vượt ghềnh Trâu Nằm theo luồng nước, qua Vĩnh Ninh mà không ghé phố Hàng Chiếu. Đến Ải Bồng thì trời đã ngả chiều, nắng vàng như mật quét lên vách đá. Lần này ông Tuần sứ không ngủ trưa. Ông đã ngồi chờ sẵn dưới gốc gạo, và lần này ông không phe phẩy quạt.
– Bẩm ông, – Quyên nói, giọng vẫn bình thường, dù tay nàng nắm chặt đến mức móng tay hằn vào lòng bàn tay. – Ở chợ Bản Quế cháu cân chín mươi cân. Cân trước mặt cả chợ.
– Cân của người nguồn. – Ông Tuần sứ cười. – Người nguồn thì cân bằng gì? Bằng que tre với hòn đá. Ở đây là cân của trạm, có dấu của ty.
– Xin ông cho cân lại.
– Cân rồi. Một trăm lẻ bốn. – Ông đứng dậy. – Ghe giữ lại. Mai bản chức lập biên bản.
Ông đi vào nhà. Lần này không có ai từ trong nhà gỗ đi ra chặn ông.
– Ông Phó đâu? – Quyên hỏi gã lính gần nhất.
– Ông Phó đi khám ghe ở bến Hạ, mai mới về.
Đêm ấy bốn người ngủ trên ghe, dưới chân vách đá, hai gã lính cầm giáo ngồi canh trên bến. Không ai ngủ được. Sẻ thì thầm chửi suốt, ông Tước bảo im. Khải nằm ngửa trên nóc khoang, mắt mở thao láo nhìn những ngôi sao lọt giữa hai vách núi.
– Chị Hai, – nó nói, – cái cân ấy sai.
– Chị biết.
– Không, em nói là em biết nó sai thế nào. – Nó nhỏm dậy. – Lúc lính treo bó quế, em đứng gần. Quả cân đồng của nó to hơn quả cân mười cân ở chợ Cửa Tranh. To hơn một tí. Nếu quả cân nặng hơn, mà kim vẫn chỉ đúng chỗ, thì hàng phải nặng hơn mới cân được. Không đúng. – Nó nhíu mày, lẩm bẩm tính. – À không. Nếu quả cân nặng hơn thì hàng ra nhẹ hơn. Thế thì nó phải dùng quả cân nhẹ hơn mới ra một trăm lẻ bốn. Hay là nó dịch cái móc…
– Ngủ đi.
– Em đang tính mà.
– Tính trong lúc ngủ cũng được.
Khải nằm xuống, nhưng tay vẫn gõ gõ lên mui ghe như gảy bàn tính.
Sáng mười một, trời u ám. Mây đen đùn lên từ phía nguồn, gió đổi hướng, mùi mưa đã ngửi thấy trong không khí. Phó Phùng về trạm lúc mặt trời còn chưa lên khỏi vách đá. Quyên thấy anh ta trên chiếc thuyền thúng, áo ướt sương đến ngực, đi thẳng lên bậc đá không nhìn sang Le Le. Một lúc sau, gã lính trạm chạy xuống gọi nàng lên.
Phó Phùng đứng ở hiên nhà trạm, tay cầm tờ biên bản nháp ông Tuần sứ viết từ tối qua. Ông Tuần sứ ngồi trên ghế tựa, chè đã rót, quạt đã cầm.
– Bẩm Tuần sứ, – Phó Phùng nói. – Ty xin cân lại.
– Cân rồi.
– Bẩm, lệ trạm, hàng bị giữ vì cân thì chủ hàng được xin cân lại một lần, có quan trạm đứng xem. Biên bản chưa có dòng ấy.
Ông Tuần sứ nhìn người phó của mình như nhìn một con ruồi đậu vào bát chè. Rồi ông phẩy quạt.
– Thì cân lại.
Bó quế được khiêng lên. Cái cân đòn lớn của trạm treo trên xà nhà ngang. Gã lính móc bó quế vào móc, dịch quả cân đồng trên đòn. Kim lại chỉ một trăm lẻ bốn.
Phó Phùng không nói gì. Anh ta đi vào trong nhà trạm. Một lúc sau anh ta trở ra, tay cầm một cái hộp gỗ nhỏ có khoá đồng. Anh ta mở khoá. Trong hộp, đặt trên lớp vải đỏ, là một quả cân đồng hình quả chuông, trên thân có khắc dấu.
– Quả cân chuẩn mười cân, ty Diêm chính phủ Vĩnh Ninh cấp cho trạm năm Diên Bình thứ ba, – anh ta nói, đủ to cho cả bến nghe. – Theo lệ, cân của trạm phải thử bằng quả chuẩn mỗi năm hai lần. Sổ trạm ghi lần thử cuối là tháng Tám năm ngoái.
Anh ta tháo bó quế ra, móc quả cân chuẩn vào móc cân, rồi dịch quả cân đòn. Kim đứng ở vạch mười một cân rưỡi.
Bến lặng đi.
– Quả chuẩn mười cân, cân trạm đọc ra mười một cân rưỡi, – Phó Phùng nói. – Cân lệch, mười phần lệch hơn một phần rưỡi.
Ông Tuần sứ đặt chén chè xuống. Đặt mạnh.
– Quả chuẩn ấy để mấy năm trong hộp. Đồng để lâu thì mòn. Mòn thì sai.
– Bẩm Tuần sứ, đồng mòn thì nhẹ đi. Quả chuẩn nhẹ đi thì cân phải đọc ra dưới mười, chứ không đọc ra mười một cân rưỡi.
Gã lính đứng cạnh cái cân phì cười, rồi vội vàng bịt miệng. Ông Tuần sứ không nhìn gã. Ông nhìn Phó Phùng.
– Thế cái cân này của ai? Của bản chức à?
– Bẩm, của trạm, – Phó Phùng nói. – Ty không nói ai làm lệch. Ty chỉ ghi là nó lệch.
Ông Tuần sứ đứng dậy, cái ghế kêu kẽo kẹt.
– Được. Cân lệch thì gửi lên phủ kiểm. Trong lúc chờ thì ghe giữ.
– Bẩm, cân lệch thì lệ cho cân bằng cách khác. Ty cân bằng cân đĩa với quả chuẩn, mỗi lần mười cân, cân đến hết.
Thế là cả buổi chiều hôm ấy, trên hiên nhà trạm Ải Bồng, Phó Phùng ngồi xổm cạnh cái cân đĩa gỗ cũ của trạm, một bên đặt quả chuẩn, một bên đặt quế. Khải ngồi đối diện, mỗi lần đĩa thăng bằng thì nó đọc to một con số, Phó Phùng ghi vào sổ. Lính trạm đứng xem. Mấy người ghe khác đang chờ khám cũng kéo lên xem, có người đánh cược với nhau. Ông Tuần sứ không ra.
Chín lần đầy đĩa. Lần thứ mười, quế còn lại một bó con, đĩa quế nhẹ hơn rõ.
– Chín mươi cân, – Phó Phùng nói, – lẻ ba lạng.
Có người vỗ tay. Phó Phùng nhìn người ấy một cái, người ấy thôi vỗ.
Biên bản viết lại. Quế dưới trăm cân, không cần giấy rừng, chỉ nộp thuế lâm sản một phần mười. Nhưng ông Tuần sứ không ký. Gã lính hầu ra bảo ông lớn mệt, mai ký.
Tối hôm ấy trời mưa.
Mưa đổ xuống khe núi như trút, ào ào trên mái ngói nhà trạm, trên mui ghe, trên mặt sông. Ông Tước căng bạt cói che khoang quế, bắt cả bốn người chui vào khoang lái. Khải và Sẻ ngủ lăn ra. Quyên không ngủ được. Nàng ngồi ở mép khoang, nhìn mưa, nhìn ánh đèn vàng hắt ra từ cửa sổ nhà trạm.
Gần canh hai, mưa ngớt. Nàng chui ra, đội nón, trèo lên bậc đá.
Phó Phùng ngồi một mình ở bậc trên cùng, dưới mái hiên, cạnh ngọn đèn dầu đặt trên một hòn đá. Anh ta không làm gì. Không đọc sổ, không viết. Chỉ ngồi nhìn mưa rơi xuống sông.
Nàng đứng ở bậc dưới. Anh ta quay lại.
– Cô Viên.
– Thầy Phó.
Anh ta không mời nàng ngồi, cũng không bảo nàng đi. Nàng ngồi xuống bậc dưới, cách anh ta một bậc đá, nghiêng người tránh giọt gianh.
– Tôi đến để nói cảm ơn, – nàng nói.
– Không cần. Tôi làm theo lệ.
– Thầy cứ bảo thế mãi.
– Vì nó đúng.
Mưa rơi tí tách từ mái ngói. Dưới sông, nước lên đục ngầu, cuốn theo những cành cây khô.
– Lệ ở đâu ra mà thầy thuộc nhiều thế? – nàng hỏi.
Anh ta im lặng một lúc lâu đến mức nàng tưởng anh ta không trả lời.
– Cha tôi là thầy đồ ở làng Thượng Xá, – anh ta nói. – Nhà có bốn sào ruộng. Năm tôi mười hai tuổi, lý trưởng làng sửa sổ địa bạ, bốn sào thành hai sào. Cha tôi đi kiện, mất hai năm, thua. Ông ấy không có chứng. Giấy của nhà mình thì nhà mình viết, không ai tin. Sổ của làng thì làng viết, ai cũng tin. – Anh ta nhìn ngọn đèn. – Lúc ốm sắp mất, ông bảo tôi: người ta lấy của mình bằng chữ, thì mình phải giữ của mình bằng chữ. Tôi đi học lệ.
– Thầy giữ được chưa?
– Chưa. Bốn sào ấy vẫn là hai sào. – Anh ta cầm ngọn đèn xoay xoay. – Nhưng ở trạm này, không ai sửa được sổ mà tôi không biết.
Quyên nhìn anh ta. Dưới ánh đèn, mặt anh ta không còn cái vẻ cứng như gỗ ban ngày. Chỉ còn mệt.
– Hôm trước thầy khám hũ mắm, – nàng nói, – thầy buộc lại dây vụng lắm.
Anh ta quay sang, hơi ngạc nhiên.
– Tôi không biết buộc.
– Thầy đưa tay đây.
Nàng rút trong túi áo ra một sợi lạt nàng vẫn để sẵn, đặt vào tay anh ta. Rồi nàng cầm tay anh ta, không nghĩ gì, như cha nàng đã cầm tay nàng mười hai năm trước trên ván cầu bến.
– Vòng thứ nhất là cái càng trái. Vòng thứ hai là cái càng phải. Luồn vòng sau xuống dưới vòng trước. Rồi cho nó ôm lấy nhau. – Nàng rút một đầu, cái nút bung ra. Buộc lại, rút đầu kia, cái nút thít chặt. – Kéo đầu này thì mở, kéo đầu kia thì chặt. Cha tôi bảo người buôn phải biết đầu nào là đầu nào.
Anh ta không nói gì.
– Nút chân cua, – nàng nói. – Nhà tôi bao nào cũng buộc thế. Ngày trước người ở bến nhìn từ xa là biết muối nhà Viên.
Nàng buông tay anh ta ra. Anh ta vẫn ngồi im, nhìn cái nút trong tay mình. Ngọn đèn dầu bập bùng. Ngoài kia mưa lại bắt đầu nặng hạt.
– Bao nào cũng thế? – anh ta hỏi, giọng khác hẳn. – Bao nào nhà cô cũng buộc dây lác, nút này?
– Bao nào cũng thế. Sao thầy hỏi?
Anh ta không trả lời. Anh ta nhìn cái nút thêm một lúc nữa, rồi tháo nó ra, chậm rãi, kéo đúng đầu. Rồi anh ta đứng dậy, cầm ngọn đèn.
– Muộn rồi, – anh ta nói. – Cô xuống ghe đi. Mai Tuần sứ ký.
Anh ta đi vào nhà trạm, đóng cửa. Quyên ngồi lại một mình trên bậc đá tối om, sợi lạt vẫn nằm trong tay, không hiểu mình vừa nói gì sai.
Trưa mười hai, ông Tuần sứ ký. Ông không ra bến. Biên bản do gã thư lại mang xuống, có dấu, có chữ ký, kèm biên lai thuế lâm sản. Phó Phùng cũng không ra. Cây sào lim nhấc lên, cái chuông đồng kêu một tiếng, Le Le xuôi dòng.
Ngày mười bốn, Le Le về đến Cửa Tranh. Bà Đẫy đứng trên bến, giơ cái nón vẫy, rồi chạy xuống, ôm chầm lấy Khải, khóc toáng lên giữa bến làm người ta nhìn.
Hai ngày sau đó Quyên đi khắp trấn. Quế bán cho hiệu thuốc bắc Tế Sinh Đường ở phố Hàng Mã, bốn tiền một cân. Ông chủ hiệu cầm một cuộn quế lên, bẻ, ngửi, rồi bảo quế này dày, dầu nhiều, năm nay ông mua của Thịnh Xương ba lần mà chưa lần nào được thế. Sa nhân bán cho một nhà buôn thuốc từ phủ khác xuống. Nàng trả nốt tiền mắm cho đàn bà Diêm Phổ, trả lò gốm Gò Đỏ, trả bà Đẫy hai quan. Bà Đẫy nhận, rồi dúi lại cho Khải năm tiền bảo mua giấy bút.
Ông Tước nhận phần của ông. Ông đếm, rồi đẩy lại một nửa.
– Tôi bán con Le Le cho cô, – ông nói. – Ba mươi quan. Cô trả trước một nửa, còn nửa trả sau. Tôi vẫn lái.
– Sao ông lại bán?
– Ghe phải có chủ biết đi buôn. – Ông nhổ bã trầu. – Tôi chỉ biết chèo.
Trừ hết mọi thứ, kể cả mười lăm quan trả trước tiền ghe, trong hòm của Quyên còn ba mươi mốt quan. Khải đếm bốn lần. Lần thứ tư, nó ngẩng lên, không nói gì, chỉ cười.
Tối mười sáu, nàng mời chú Lộc sang ăn cơm. Nàng nấu một nồi canh chua cá đối, rán mấy con cá bống, đặt một hũ mắm ruốc giữa mâm. Chú Lộc đến, mang theo một chai rượu và một gói kẹo lạc cho Khải. Chú hỏi chuyện chuyến đi. Quyên kể. Kể ông Thông Ký trả hai tiền, chú ngượng ngập bảo chú không biết lão ấy keo thế. Kể ghềnh Trâu Nằm, chú lắc đầu bảo nguy quá. Kể phiên Đoan ngọ, chú cười, uống một chén rượu.
Rồi nàng kể chuyện trạm Ải Bồng. Cái cân lệch. Quả cân chuẩn. Chín lần đĩa cân.
– Ông Phó ở đấy giúp cháu, – nàng nói. – Ông ấy tên Phùng Tử Kiên.
Đôi đũa trong tay chú Lộc dừng lại giữa không trung. Một con cá bống rơi xuống mâm.
– Phùng Tử Kiên, – chú nhắc lại. – Cháu chắc không?
– Ông ấy viết biên lai thuế. Cuối biên lai có tên.
Chú Lộc đặt đũa xuống. Chú cầm chén rượu lên, uống cạn, rồi đặt chén xuống, nhìn nàng. Đôi mắt lúc nào cũng như xin lỗi ai giờ nhìn nàng thẳng, lạ lùng.
– Cháu không biết thằng ấy là ai à? – chú nói. – Ba năm trước, sáng rằm tháng Tám, ở trạm tuần Cửa Tranh, chính nó đứng trên ghe số Ba, đếm từng bao muối của cha cháu.
— Hết chương 8 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe