AI Truyện
Nút chân cua của nhà họ Viên

🏯 Cổ đại & cung đấu

Đếm những chuyến không bị cướp

Nút chân cua của nhà họ Viên · Chương 20/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 20: Đếm những chuyến không bị cướp

Phó Phùng đặt bốn tiền lên tấm ván ngang khoang lái chiếc Ba Cá, đếm từng đồng một, chậm rãi, để Lái Thìn phải nghe tiếng.

– Tiền đi nhờ, – anh ta nói. – Từ Cửa Tranh lên Bản Quế.

– Ai đòi thầy tiền? – Lái Thìn gắt.

– Lệ không đòi. Tôi trả.

Lái Thìn nhìn bốn tiền, rồi nhìn Quyên đứng trên bến, rồi gạt cả bốn tiền vào lòng bàn tay, nhét vào túi áo, lầm bầm câu gì đó về cái giống thư lại.

Rạng sáng hai mươi tám tháng Ba. Chín chiếc ghe của Đồng Thuyền neo thành hàng ở bến cá, đèn bão ở mũi đã tắt vì trời sắp sáng. Đoàn lên nguồn đầu mùa, lần đầu tiên đi mà không có Le Le dẫn đầu, không có Quyên đứng mũi. Ông Tước ở lại, bảo Le Le cần xảm lại đáy. Ai cũng biết ông ở lại vì cô Hai ở lại.

Phó Phùng đi nhờ đến Bản Quế, từ đấy đi bộ một ngày đường nữa lên Đầu Nguồn. Hành lý của anh ta chỉ có một cái tráp gỗ đựng sổ, một bọc quần áo, một cái nghiên đá. Anh ta đặt cái tráp vào khoang, rồi trèo trở lại lên bến, đứng trước mặt nàng.

Bà Đẫy đang ở đầu bến, đánh nhau bằng mồm với cô Lài về chuyện ai quên bó lá ngải. Sẻ đang chuyền hàng. Không ai nhìn hai người.

– Cô Viên, – anh ta nói. – Có một việc tôi muốn xin cô.

– Thầy nói.

– Đừng gọi tôi là thầy nữa. – Anh ta nhìn xuống cái nón trong tay. – Tôi chưa dạy cô được chữ nào. Cô còn dạy tôi một cái nút. Lên Đầu Nguồn thì tôi cũng không còn là Phó của Ải Bồng.

– Thế gọi là gì?

– Tên tôi là Kiên.

Quyên nhìn anh ta. Gió sớm thổi qua bến, mang theo mùi dầu rái mới và mùi mắm.

– Anh Kiên, – nàng nói.

Hai chữ ấy ra khỏi miệng nàng lạ như một hạt muối đầu mùa đặt trên lưỡi, mặn trước rồi mới ngọt. Kiên gật đầu, không nói gì thêm. Anh ta đội nón, quay xuống ghe.

Lái Thìn kéo buồm. Chín cánh buồm nối nhau ra khỏi bến cá. Quyên đứng nhìn cho đến khi chiếc cuối cùng khuất sau khúc quanh có rặng bần.

Tối hôm ấy Khải không ăn cơm.

Nó ngồi trên chõng, cái bàn tính để trên đùi, không gảy. Quyên múc canh cho nó, nó không cầm bát. Nàng ngồi xuống đối diện.

– Chú Lộc không ra tiễn, – nó nói. – Mọi lần ghe đi chú đều ra.

– Chú ốm.

– Chú không ốm. Em thấy chú ở cổng kho phường hôm qua, chú đứng nói chuyện với ông quản Cao. – Nó ngẩng lên. – Chị Hai. Hôm ở gò Cát có chuyện gì?

Quyên nhìn em. Mười hai tuổi. Nó đã hỏi một lần, nàng đã nói dối một lần. Nàng không muốn nói dối lần thứ hai.

Nàng kể. Từ cái nút đơn ở phiên chợ tháng Hai năm ngoái, đến dòng chữ bị gạch son trong phòng hòm lưu, đến hai chữ ông Tước nói trên mui ghe, đến năm bó vàng mã ở gò Cát. Nàng kể con Bống Trắng, sáu mươi quan, quán rượu đầu bến. Nàng kể câu cha hỏi chú trong ngục.

Khải ngồi nghe, hai tay nắm chặt cái bàn tính. Đến đoạn sáu mươi quan, nó khẽ gảy một hòn bi. Đến đoạn cha hỏi chú, nó buông bàn tính ra.

Kể xong, hai chị em ngồi im rất lâu. Ngọn đèn dầu lạc kêu lép bép.

– Sáu mươi quan, – Khải nói. Giọng nó không run. – Thế cha mình là sáu mươi quan.

– Không phải thế.

– Là thế. – Nó nhìn chị. – Chú đổi cha lấy sáu mươi quan với cái chức quản kho. Chức quản kho lương hai quan một tháng. Ba năm là bảy mươi hai quan. Cộng sáu mươi là một trăm ba mươi hai quan.

– Khải.

– Em tính được mà. – Nó nói nhanh dần. – Em tính được hết. Cái gì em cũng tính được.

Rồi nó khóc. Nó không khóc to như chú Lộc ở gò Cát. Nó khóc như người ta rỉ nước, mặt vẫn thẳng, nước mắt chảy xuống mà miệng không méo. Quyên kéo nó vào lòng. Nó để yên.

– Chị có ghét chú không? – nó hỏi khẽ, mặt úp vào vai chị.

– Chị không biết.

– Em ghét.

– Ừ.

– Chú cho em kẹo lạc. Chú cõng em. Em ghét.

– Ừ.

Một lúc lâu sau, nó ngồi thẳng dậy, lau mặt bằng tay áo, rồi kéo cái bàn tính lại gần.

– Chú không làm chứng, – nó nói. – Thế thì phải có cái khác.

– Cái gì?

– Chị bảo hôm ở cồn Ông Vọ thuyền phường đi qua mà giặc không động. Chú Thìn bảo ba mươi năm chưa thấy thuyền phường treo cờ đuôi nheo. – Nó gảy hai hòn bi. – Một lần thì người ta bảo tình cờ. Nhiều lần thì không phải tình cờ. Phải đếm.

Thế là trong tháng Tư, Khải đi đếm.

Nó không có sổ trạm tuần. Nó có bến cá. Nó đi từng chiếc ghe, ngồi xổm cạnh từng người đàn ông đang vá lưới, hỏi một câu: hai năm nay bác có nghe ghe nào bị Cồn Rắn chặn không. Người ta kể. Người bến cá thích kể chuyện giặc như thích kể chuyện ma, mỗi người kể một tí, có người kể sai, có người kể trùng. Khải ghi hết, rồi về nhà ngồi gạch, ghép, hỏi lại. Bà Đẫy nhớ rõ từng vụ, nhớ cả ngày, vì vụ nào bà cũng tính ngược về cái tháng thằng Tý không về. Thằng Đinh chạy về Vũng Mòi hỏi bố nó và mấy nhà chài. Lái Mõ, ngồi nhai trầu trên mui Bông Lau, kể được ba vụ mà không ai khác nhớ.

Đến giữa tháng, Khải bày ra trên chõng một tờ giấy kẻ ô. Chữ nó nhỏ, đều, mực đen. Nó dùng bộ bút Kiên cho hôm Tết.

– Chín vụ, – nó nói. – Từ đầu năm Diên Bình thứ sáu đến hôm mùng bốn tháng Hai năm nay. Chín ghe bị chặn. Ghe chài Vũng Mòi bốn, ghe buôn nhỏ Cửa Tranh ba, một ghe của phủ Lạc Trì chở vải đi ngang, và hai ghe của hội mình tính là một vụ. Trừ ghe Lạc Trì, ghe nào cũng nhỏ. Ghe nào cũng đi một mình hoặc hai chiếc.

– Thịnh Xương?

– Không vụ nào. – Khải lật sang mặt sau tờ giấy. – Em hỏi người làm ở bến chính. Thịnh Xương có mười bốn ghe biển. Một tháng mỗi ghe đi Diêm Phổ hay đi Lạc Trì độ bốn chuyến, mùa biển êm thì sáu. Hai năm là… – Nó nhíu mày. – Em không biết đúng. Nhưng không dưới năm trăm chuyến.

– Năm trăm chuyến không mất một bao.

– Không mất một bao.

Quyên cầm tờ giấy lên. Chín dòng chữ nhỏ. Một con số năm trăm viết ở mặt sau, khoanh tròn.

– Chưa thành chứng, – nàng nói.

Khải gật đầu như đã biết trước.

– Người ta sẽ bảo ghe phường to, giặc sợ, – nó nói. – Em biết. Em cũng nghĩ thế. – Nó chỉ vào một dòng. – Nhưng ghe phủ Lạc Trì chở vải cũng to. Ba buồm. Mà vẫn bị chặn.

Quyên nhìn em. Nàng nghĩ đến ông thông lại ở phủ đường hỏi ai chép cho cô cái này. Nàng nghĩ một con số đúng không đủ. Phải có một người đứng ra nói con số ấy.

– Cất đi, – nàng bảo. – Cất kỹ.

Ngày mười tám tháng Tư, Nhái mất tích.

Nó đi biển với chiếc ghe chài của bố thằng Đinh, ba người, từ lúc gà gáy, ra ngoài cồn Ông Vọ thả lưới ruốc cuối mùa. Gần trưa, ghe ấy trôi về bến Vũng Mòi, chỉ còn hai người, bị trói tay ngồi trong khoang, lưới bị cắt, ruốc bị đổ xuống biển. Hai người kể: hai chiếc thuyền buồm nâu sẫm, không lấy gì nhiều, chỉ hỏi đứa nào khoẻ nhất. Nhái mười bảy tuổi, cao hơn cả bố thằng Đinh nửa cái đầu.

Người ta bảo giặc Cồn Rắn thiếu người chèo thì đi bắt. Có đứa bị bắt một mùa thì được thả về, gầy rộc, không nói gì. Có đứa không bao giờ về.

Quyên xuống Diêm Phổ ngay chiều hôm ấy. Ông Hến ngồi trên phản, cái giỏ cói đan dở bỏ dưới chân. Ông không hút thuốc, không nói. Vợ ông ngồi trong buồng, không ra. Chắt đứng ở bậu cửa, hai tay khoanh trước ngực, mắt đỏ mà khô.

– Chị Quyên, – Chắt nói. – Người ta bảo thuyền phường đi biển không bị gì. Có thật không?

Quyên không trả lời được. Chắt nhìn nàng, rồi gật đầu, như đã nghe được câu trả lời.

Đêm ấy nàng ngủ lại ở Diêm Phổ, nằm trên cái chõng cũ trong buồng của Chắt, cái chõng nàng đã nằm hơn một năm trước, cái đêm có trăng mười ba. Lần này không ai ngủ. Hai người nằm nghe sóng.

Ngày hai mươi hai, đoàn ghe từ Bản Quế về. Chín ghe đủ, không ai mất gì. Lái Thìn lên bến, đi thẳng đến chỗ Quyên, rút trong áo ra một bọc giấy dầu, dúi vào tay nàng. Rồi ông ta quay đi kể cho cả bến nghe chuyện ở Ải Bồng ông Tuần sứ Lư giữ đoàn ghe nửa ngày để hỏi han, mà không bắt bẻ được cái gì.

Trong bọc giấy dầu là một lá thư. Chữ mực đậm, nét nào ra nét ấy.

Thư không dài. Kiên viết về trạm Đầu Nguồn: hai gian nhà tre, mái lá, mười gã lính, một cái cột cờ không có cờ vì cờ mục rồi chưa ai mang lên cờ mới. Sông ở đấy hẹp đến mức đứng bờ này ném hòn đá sang được bờ kia. Mỗi tháng có vài cái bè gỗ đi qua, người trên bè không biết chữ, giấy tờ không có, anh ta ngồi dạy họ viết tên mình để ký vào sổ. Sáng nào cũng có mây trôi ngang qua sân trạm, ướt hết sổ.

Rồi anh ta viết một đoạn, rất ngắn, nàng phải đọc hai lần mới hiểu là anh ta cố ý đặt nó vào giữa thư:

"Lệ có điều: quan đầu xứ mỗi năm đi kinh lý các phủ vào mùa xuân. Ai có oan, có việc mà quan phủ không xét, được dâng đơn thẳng lên quan đầu xứ lúc ngài kinh lý. Bố chánh bây giờ là ông Nghiêm. Người ở phủ bảo ông ấy không nhận quà."

Cuối thư, anh ta viết: "Cái nút cô dạy, tôi buộc được rồi. Kéo đúng đầu."

Không có câu chào. Chỉ có một chữ ký. Kiên.

Quyên gấp lá thư lại, cất vào cái hòm gỗ dưới chõng, cạnh tờ giấy kẻ ô của Khải. Đêm ấy nàng ngồi viết thư trả lời. Nàng viết chuyện Nhái. Viết chuyện chín vụ cướp và con số năm trăm. Nàng không viết gì về cái nút. Mở đầu thư, nàng viết hai chữ, rồi ngồi nhìn hai chữ ấy rất lâu trước khi viết tiếp: Anh Kiên.

Rạng sáng mùng hai tháng Năm, có người đập cửa.

Đập mạnh, liên hồi. Quyên chồm dậy. Khải đã ngồi dậy trước, mắt mở trừng trừng như cái đêm kho cháy. Ngoài cửa là bà Đẫy, đầu tóc rũ rượi, cầm cây đèn bão.

– Xuống bến, – bà nói. – Thằng Nhái.

Nàng chạy. Bến cá còn tối. Ông Tước đã ở đấy, và mấy người đàn ông nhà chài. Dưới chân đền Bà, trên bậc đá, có một người ngồi co ro, ướt sũng từ đầu đến chân, quần áo rách tướp, mặt mũi chân tay chằng chịt vết cứa như bị ai lấy dao lam rạch. Lá lác cứa.

Nhái ngẩng lên khi thấy nàng. Mặt nó gầy rộc đi sau hai tuần, môi nứt nẻ. Nó nhìn nàng như nhìn một người ở rất xa.

– Chị Quyên.

– Em đi đâu về đây?

– Bãi Lác, – nó nói. Răng nó va vào nhau lập cập. – Em trốn ở bãi Lác Xanh. Đêm qua. Em nấp trong lác đến lúc họ đi, rồi em men bờ sông đi xuống đây. Bốn dặm.

Ông Tước cởi cái áo ngoài của mình, choàng lên vai thằng bé. Bà Đẫy dí vào tay nó một bát nước gừng.

– Họ là ai? – Quyên hỏi. – Ai đưa em lên bãi Lác?

– Giặc. – Nhái uống một ngụm, sặc. – Họ bắt em chèo. Đêm qua họ đi hai thuyền, vào từ phía biển, đi lạch, tối om, lên đến bãi Lác. Ở đấy có một chiếc ghe nhỏ chờ sẵn. Có đèn. Có người. Người ấy đưa cho cái ông có sẹo một cái túi. Túi nặng lắm, kêu loảng xoảng. Bạc. Họ ngồi đếm bạc dưới đèn. Lúc họ đếm, em lội xuống nước, chui vào lác.

– Người trên ghe nhỏ, – Quyên nói. – Em có thấy mặt không?

Nhái gật. Nó đặt bát nước gừng xuống bậc đá. Tay nó vẫn run.

– Áo lam, – nó nói. – Ông ấy mặc áo lam. Cầm quạt. Ông ấy cười trước khi nói.

— Hết chương 20 —

Mục lục Nút chân cua của nhà họ Viên

  1. 1Năm đồng một cân12 phút
  2. 2Đường cát về Diêm Phổ11 phút đọc
  3. 3Hai mươi lăm hũ sành10 phút đọc
  4. 4Muối của đàn bà12 phút đọc
  5. 5Con Le Le11 phút đọc
  6. 6Ải Bồng10 phút đọc
  7. 7Phiên chợ Đoan ngọ ở Bản Quế12 phút đọc
  8. 8Ba ngày ở trạm Ải Bồng12 phút đọc
  9. 9Ba trăm bao11 phút đọc
  10. 10Rằm tháng Bảy ở đền Bà Cửa Sông11 phút đọc
  11. 11Chén trà nhà họ Tiêu12 phút đọc
  12. 12Ghềnh Trâu Nằm11 phút đọc
  13. 13Mắm có phải là muối12 phút đọc
  14. 14Cái đấu của Thịnh Xương10 phút đọc
  15. 15Giỗ cha11 phút đọc
  16. 16Tết muộn11 phút đọc
  17. 17Cờ đuôi nheo xanh13 phút đọc
  18. 18Tay trái10 phút đọc
  19. 19Lời thú ở gò Cát10 phút đọc
  20. 20Đếm những chuyến không bị cướp11 phút đọc
  21. 21Hội chợ Vĩnh Ninh11 phút đọc
  22. 22Hai mươi ghe11 phút đọc
  23. 23Đêm cồn Ông Vọ10 phút đọc
  24. 24Mười ngày10 phút đọc
  25. 25Hai bản của một chuyện10 phút đọc
  26. 26Bà cụ đan lưới10 phút đọc
  27. 27Kiên bị kiện10 phút đọc
  28. 28Người chèo ghe năm mười sáu tuổi10 phút đọc
  29. 29Lạch Bần Tía10 phút đọc
  30. 30Bàn thờ nhà họ Tiêu10 phút đọc
  31. 31Hai lá cờ10 phút đọc
  32. 32Bãi Lác Xanh10 phút đọc
  33. 33Công đường phủ Vĩnh Ninh11 phút đọc
  34. 34Hai bản án10 phút đọc
  35. 35Khế ước hai nhà10 phút đọc
  36. 36Nút chân cua10 phút đọc

Về truyện này

Nút chân cua của nhà họ Viên là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →