Chương 6: Ải Bồng
Cái chuông đồng ở đầu sào kêu ba tiếng khi Le Le còn cách mười sải nước. Từ bến trạm, một chiếc thuyền thúng xoay tròn chèo ra, trên ấy một gã lính đội nón dấu, ngực áo thêu chữ Tuần.
– Ghe nào? Chở gì? Cập vào bến! – Gã quát, giọng ngái ngủ.
Ông Tước lái Le Le áp vào bến đá. Sẻ quăng dây buộc vào cái cọc lim đen bóng. Trên bến đã có hai chiếc ghe khác đang chờ, một chở vải, một chở nồi đồng, người trên ghe ngồi bó gối, có vẻ chờ từ hôm qua.
– Chờ lâu không anh? – Quyên hỏi người ghe vải.
– Từ chiều qua. – Người kia nhổ toẹt xuống nước. – Ông lớn ngủ trưa dậy muộn, chưa ký.
– Ông lớn nào?
– Ông Tuần sứ. Còn ông nào nữa.
Phải đến giữa giờ Thìn, khi sương tan hết và nắng đã chiếu xiên qua vách đá, ông Tuần sứ mới ra.
Ông đi từ trong dãy nhà gỗ, chậm rãi, hai tay chắp sau lưng, một gã lính cầm lọng che. Ông béo, cái bụng tròn ưỡn ra dưới lần áo gấm màu mận chín, mặt đỏ, cằm hai ngấn. Tay ông cầm một cái quạt giấy, phe phẩy dù trời chưa nóng. Ông ngồi xuống cái ghế tựa kê dưới gốc gạo, lính dâng chè. Ông nhấp một ngụm, nhìn xuống bến, nhìn ba chiếc ghe như nhìn ba con gà người ta mang đến biếu.
– Ghe vải, – ông nói.
Người ghe vải vội vàng lên bậc đá, quỳ, dâng giấy. Ông Tuần sứ không cầm giấy. Một tên thư lại đứng sau ông cầm lấy, đọc to. Ông nghe, gật, nói một con số. Người ghe vải mặt xám đi nhưng vẫn rút tiền ra đếm. Rồi đến ghe nồi đồng. Cũng thế.
Rồi đến Le Le.
Quyên lên bậc đá, không quỳ. Nàng chắp tay vái một vái rồi dâng tờ giấy khai. Tên thư lại cầm lấy, liếc qua, rồi cúi xuống thì thầm vào tai ông Tuần sứ.
Ông Tuần sứ ngẩng lên. Ông nhìn Quyên lâu hơn cần thiết, cái nhìn đi từ đầu xuống chân rồi trở lên mặt. Rồi ông cười, cái cười làm hai ngấn cằm rung rung.
– Viên, – ông nói. – Cửa Tranh. Chở mắm ruốc.
– Bẩm, vâng.
– Một trăm mười hũ mắm ruốc. – Ông gõ gõ cái quạt vào lòng bàn tay. – Cô có biết bản chức đã bắt được bao nhiêu chiếc ghe chở mắm ruốc mà dưới đáy hũ là muối không?
– Bẩm, không biết.
– Mười bốn chiếc. – Ông giơ hai bàn tay, xòe ra, gập lại, giơ thêm bốn ngón. – Muối trộn chút ruốc ở trên cho có màu, có mùi. Đội lốt mắm để khỏi phải có dẫn. Ở trạm này, mắm ruốc từ dưới biển lên thì bản chức coi như muối, cho đến khi biết chắc là không phải.
– Bẩm, thì xin ông cho khám.
– Khám thì phải khám. – Ông phẩy quạt. – Nhưng một trăm mười hũ, khám từng hũ thì đến tháng sau. Cứ giữ lại cả ghe. Lúc nào rảnh thì khám.
Ông Tước, đứng dưới ghe, sụp nón thấp hơn. Sẻ ngồi xổm cạnh khoang, mặt tái đi. Khải đứng ở mũi ghe, nắm chặt cái ống tre đựng bút.
Quyên vẫn đứng nguyên trên bậc đá. Nàng biết chuyện này có thể đến. Nàng không biết nó đến nhanh như thế. Giữ cả ghe nghĩa là lỡ phiên Đoan ngọ, nghĩa là một trăm mười hũ mắm nằm phơi nắng dưới chân vách đá cho đến khi ai đó đến nói một con số.
– Bẩm ông, – nàng nói, – lệ của trạm, giữ hàng nghi lậu thì phải lập biên bản trong ngày, ghi rõ nghi gì, ai nghi. Xin ông cho lập biên bản.
Ông Tuần sứ ngừng quạt.
– Cô biết lệ trạm cơ à?
– Bẩm, cha cháu dạy.
– Cha cô. – Ông lại cười, lần này không rung cằm. – Phải rồi, cha cô rành lệ lắm. Rành đến mức…
Ông không nói hết câu, vì từ trong dãy nhà gỗ có người đi ra.
Người ấy cao, gầy, mặc áo the màu xanh đã bạc ở hai vai, khăn đen quấn gọn, tay áo xắn lên đến khuỷu. Sau tai cài một cây bút lông, tay cầm một quyển sổ đóng chỉ, ngón trỏ dính mực. Mặt dài, gò má cao, môi mím. Tuổi chừng hai lăm, hai bảy. Anh ta đi thẳng xuống bậc đá, không nhìn ai, chắp tay vái ông Tuần sứ một vái vừa đủ.
– Bẩm Tuần sứ, ghe vải và ghe nồi đã thu xong. Ty xin sổ để vào.
– Phó Phùng đến đúng lúc, – ông Tuần sứ nói, giọng ngọt hẳn đi. – Ghe này chở mắm ruốc, bản chức nghi là muối đội lốt. Đang định giữ lại.
Người được gọi là Phó Phùng quay sang nhìn Le Le. Rồi nhìn Quyên. Cái nhìn của anh ta khác hẳn cái nhìn của ông Tuần sứ: không đi từ đầu xuống chân, chỉ dừng ở mặt nàng một thoáng, rồi rơi xuống tờ giấy khai trong tay tên thư lại.
– Ty xin xem giấy.
Anh ta đọc giấy, đọc kỹ. Rồi không hỏi ai, anh ta đi xuống bến, bước qua mạn ghe, vào khoang.
– Thằng bé, – anh ta nói với Khải mà không nhìn nó, – trên ghe có bao nhiêu hũ?
– Một trăm mười, – Khải đáp. – Tám mươi bảy hũ mười cân, hai mươi ba hũ tám cân.
Phó Phùng nhìn thằng bé, lần này nhìn thật.
– Hũ nào tám cân?
– Ba hàng cuối khoang thứ tư, hai hũ ở góc khoang thứ năm.
Anh ta gật đầu. Rồi anh ta bắt đầu khám.
Anh ta không khám cả trăm mười hũ. Anh ta đếm, cứ mười hũ lấy một, theo một thứ tự Quyên không đoán được, có hũ ở trên, có hũ ở dưới phải dỡ ba tầng mới lấy ra. Mỗi hũ, anh ta mở nắp, ngửi, dùng một đôi đũa tre lấy lên một chút, nếm. Rồi anh ta bảo lính mang xuống một cái xiên sắt dài hơn cánh tay, đầu xiên có ngạnh. Anh ta cắm xiên thẳng xuống đáy hũ, xoay một vòng, rút lên, nhìn thứ dính trên ngạnh. Mắm. Tím hồng từ đầu đến cuối, không có lớp nào trắng.
Hũ thứ năm, anh ta đổ cả hũ ra một cái nong lớn mà lính mang xuống, dùng đũa gạt khắp. Mắm ruốc sánh đặc trải ra trên nong, mùi bốc lên làm gã lính quay mặt đi. Không có muối hạt. Anh ta xúc mắm vào lại hũ, đậy nắp, buộc lại dây cói. Quyên thấy anh ta buộc không quen tay, nút buộc vụng, nhưng vẫn buộc.
Mười một hũ. Mất gần một canh giờ. Mặt trời lên đến đỉnh vách đá.
Phó Phùng trèo lên bậc, đứng trước ông Tuần sứ, mở sổ.
– Bẩm Tuần sứ. Khám mười một hũ trên một trăm mười, một phần mười. Cả mười một hũ đều là mắm ruốc, xiên đến đáy, không có muối hạt. Theo lệ năm Cảnh An thứ hai mươi, đồ ăn đã chế biến chở qua trạm thì tính là hàng hoá thường, thu một phần ba mươi. Nộp bằng tiền hay nộp bằng hàng đều được.
Ông Tuần sứ phe phẩy quạt. Ông không nhìn người phó của mình.
– Phó Phùng cẩn thận quá.
– Bẩm, ty làm theo lệ.
– Mười một hũ thì biết sao được chín mươi chín hũ kia.
– Bẩm, lệ khám hàng đóng đồng loạt là một phần mười. Nếu Tuần sứ muốn khám hết, ty xin ghi vào sổ trạm là Tuần sứ cho khám hết, để ghe được giữ đúng lệ, và để các ghe sau biết thời hạn mà chờ.
Ông Tuần sứ ngừng quạt. Quyên nhìn mặt ông, thấy rõ cái cục gì đó trôi xuống trong cổ họng ông.
– Thôi, – ông nói, phẩy tay. – Phó Phùng đã khám thì bản chức tin. Thu thuế rồi cho đi. – Ông đứng dậy, cái ghế kêu kẽo kẹt. Đi được hai bước, ông quay lại, nói thêm, giọng rất nhẹ: – Có điều giấy khai không có dấu lý trưởng. Phó Phùng cẩn thận thế, chắc không bỏ qua chỗ ấy.
Ông đi vào trong. Gã lính che lọng lật đật theo sau.
Phó Phùng đứng lại trên bậc đá, mở sổ ra ở một trang mới. Anh ta rút bút sau tai, chấm mực vào cái nghiên đá nhỏ lính mang tới.
– Thuế một phần ba mươi, một trăm mười hũ, – anh ta nói, không ngẩng lên. – Nộp bằng hàng là bốn hũ. Ty lấy hũ mười cân.
– Vâng, – Quyên nói.
– Giấy khai thiếu dấu lý trưởng nơi làm hàng. Phạt ba tiền.
– Lý trưởng ốm.
– Lệ không có chữ ốm.
Quyên nhìn anh ta. Anh ta vẫn cúi xuống sổ, ngòi bút chạy đều, chữ đẹp đến mức nàng nhìn ngược cũng thấy. Nét nào ra nét ấy, mực đậm, không lem.
– Thầy Phó vừa cãi Tuần sứ để cho ghe tôi đi, – nàng nói, giọng thấp, – giờ lại phạt tôi ba tiền vì một ông lý trưởng uống rượu với người ta xong thì ốm.
Ngòi bút dừng lại một chút. Chỉ một chút.
– Tôi không cãi ai, – anh ta nói. – Tôi làm theo lệ. Lệ cho cô đi thì cô đi. Lệ phạt thì cô nộp.
– Nếu lệ bảo giữ ghe?
– Thì tôi giữ.
Câu ấy nói ra không nặng không nhẹ, như người ta nói trời hôm nay nắng. Quyên đứng đó, nghe trong ngực có cái gì sôi lên rồi nguội đi. Nàng rút trong túi ra ba tiền, đếm từng đồng đặt lên bậc đá cạnh cái nghiên. Ba tiền là một trăm tám mươi đồng. Là ba mươi sáu cân muối bán lẻ ở chợ Cửa Tranh. Nàng đặt từng đồng, chậm rãi, để anh ta phải nghe tiếng.
Anh ta viết xong biên lai, xé ra khỏi sổ, đưa cho nàng. Rồi anh ta nhìn lại tờ giấy khai của nàng, chỗ dòng tên người chủ hàng.
– Viên Tố Quyên, – anh ta đọc. – Trấn Cửa Tranh.
– Vâng.
Anh ta im lặng. Gió từ khe núi thổi qua, cành gạo trên đầu xào xạc lá non. Dưới bến, Sẻ đang dỡ bốn hũ mắm đặt lên bậc đá.
– Viên Đình Khoan là gì của cô? – anh ta hỏi.
Quyên ngẩng lên. Lần này anh ta nhìn nàng, và trong đôi mắt ấy có một cái gì nàng không đọc ra được. Không phải tò mò. Không phải thương hại.
– Là cha tôi, – nàng nói. – Thầy biết cha tôi?
Anh ta nhìn nàng thêm một nhịp nữa.
– Không, – anh ta nói. Rồi anh ta gấp sổ lại, kẹp bút vào sau tai. – Lần sau có dấu lý trưởng thì không bị phạt.
Anh ta quay đi, lên bậc đá, vào nhà trạm. Quyên đứng nhìn theo cái lưng áo xanh bạc màu cho đến khi nó khuất sau cánh cửa.
Gã lính trạm ra cột buồm phía bờ bên kia, kéo dây. Cây sào lim từ từ nhấc lên, đầu sào chổng lên trời, cái chuông đồng lắc lư kêu một tiếng dài.
Le Le rời bến. Ông Tước đẩy sào, mặt vẫn khuất dưới vành nón. Mãi đến khi ghe vượt qua khúc quanh, vách đá che khuất cây gạo, ông mới ngẩng lên, cởi nón ra quạt.
Phía sau họ, Quyên nghe tiếng mái chèo. Nàng quay lại, thấy một chiếc thuyền nhỏ từ bến trạm vừa rời ra, xuôi dòng về hướng Cửa Tranh, trên ấy chỉ một gã lính chèo, chèo rất nhanh.
– Ông Tước, – nàng hỏi, – ông có biết ông Phó ở trạm kia không?
Ông Tước quạt thêm mấy cái. Ông nhổ bã trầu xuống sông, nhìn vệt đỏ loang ra rồi tan.
– Người đó, – ông nói, – tôi gặp một lần rồi.
– Ở đâu?
Ông Tước đội nón lại.
– Tôi quên rồi, cô Hai.
— Hết chương 6 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe