Chương 7: Phiên chợ Đoan ngọ ở Bản Quế
Ông Thông Ký đọc thư của chú Lộc xong thì gấp lại, nhét vào ống tay áo, rồi mới ngẩng lên cười với Quyên như cười với cháu gái nhà mình.
– Ông Lộc dặn kỹ lắm. Bảo cô còn trẻ, đường lên nguồn xa, nước ghềnh độc, cứ bán hết ở đây cho nhẹ người. – Ông xoa hai bàn tay vào nhau. – Mắm ruốc tôi lấy hết. Hai tiền một hũ, hũ to hũ nhỏ như nhau, trả ngay.
Quyên không nói gì. Nàng đứng giữa gian hàng đồ khô của ông trên phố Hàng Chiếu, phủ thành Vĩnh Ninh, mùi cá mực khô, tôm khô, nấm hương xộc vào mũi. Hai tiền một hũ. Ở chợ Cửa Tranh nàng bán ba tiền.
– Bác lấy hai tiền rồi bác bán bao nhiêu?
– Ấy, cái đấy thì cô đừng hỏi. – Ông Thông Ký vẫn cười. – Buôn bán ai cũng phải có lời. Tôi chịu mất công, chịu chỗ để hàng, chịu rủi ro. Cô thì nhẹ người.
Sau lưng ông, cánh cửa thông ra kho hé mở. Trong ấy xếp mấy chồng bao tải, miệng buộc dây đay, nút thòng lọng. Bao nào cũng có một vệt sơn xanh ở góc.
– Cháu cảm ơn bác, – Quyên nói. – Cháu đi lên trên một chuyến xem sao, về qua cháu ghé.
Nụ cười của ông Thông Ký không tắt, nhưng nó đứng yên một chỗ, như cái mặt nạ treo trên vách.
Ra khỏi phố Hàng Chiếu, Khải đi bên cạnh, im lặng một quãng dài rồi mới hỏi:
– Chú Lộc biết ông ấy làm cho Thịnh Xương không?
– Chị không biết.
– Chú bảo chị bán ở đây cho nhẹ người.
– Ừ.
– Có khi chú thương chị thật. Sợ chị đi ghềnh.
– Có khi.
Khải nhìn chị, rồi nhìn xuống chân. Nó không hỏi nữa.
Trước khi xuống ghe, Quyên đi vòng qua phía sau phủ đường. Ở đấy có một bức tường đá ong cao quá đầu người, rêu bám từng mảng, trên đầu tường cắm mảnh sành. Sau bức tường là ngục phủ. Ba năm trước, cha nàng nằm trong ấy từ tháng Tám đến tháng Chạp. Nàng lên thăm được hai lần. Lần thứ hai cha đã gầy rộc, vẫn cười, bảo con về lo cho em, mùa xuân cha về. Đến tháng Chạp người ta gửi thư xuống Cửa Tranh, bảo đến nhận xác.
Nàng đứng ở chân tường một lúc. Khải đứng cạnh, không nói. Một gã lính gác thò đầu ra khỏi cái chòi canh, nhìn hai chị em, rồi lại thụt vào.
– Đi thôi, – nàng nói.
Từ Vĩnh Ninh lên Bản Quế sáu chục dặm. Sông hẹp lại, chảy xiết, đá ngầm lô nhô. Hai bên là núi, rừng xanh thẫm, thỉnh thoảng một mảng nương rẫy cháy đen trên sườn đồi. Đêm nghe tiếng vượn hú, tiếng chim lạ. Khải sợ, nằm sát vào chị.
Ngày mùng hai tháng Năm, họ đến ghềnh Trâu Nằm.
Giữa dòng có một tảng đá đen bóng, lưng tròn, dài như con trâu nằm ngâm mình. Nước mùa khô cạn, chảy xiết qua hai bên tảng đá thành hai luồng trắng xoá, ầm ầm như thác. Ông Tước cho ghe vào bờ, đứng nhìn rất lâu.
– Phải kéo, – ông nói.
Cả bốn người xuống nước. Ông Tước buộc hai sợi thừng vào mũi ghe, một sợi đưa Sẻ, một sợi đưa Quyên. Ông đứng ở lái, tay cầm sào. Khải ngồi trên bờ giữ đồ, ông dặn nó không được xuống.
Nước lạnh đến thấu xương, chảy mạnh đến mức Quyên phải bám chân vào khe đá mới đứng được. Nàng kéo. Sẻ kéo. Ông Tước chống sào, hô từng nhịp. Le Le nhích từng chút một, mũi ghe chồm lên rồi hạ xuống, nước đập vào mạn tung bọt. Đến nửa ghềnh, chân Quyên trượt trên rêu, nàng ngã sấp, nước tràn vào miệng, sợi thừng tuột khỏi tay.
Le Le lắc mạnh, xoay ngang.
Rồi có một bàn tay nhỏ chộp lấy sợi thừng.
Khải. Thằng bé đã nhảy xuống từ lúc nào, nước ngập đến ngực nó, mặt trắng bệch, nhưng hai tay nó nắm chặt sợi thừng, người ngả về phía sau như người ta kéo co. Nó không kéo nổi con ghe. Nhưng nó giữ được sợi thừng không trôi đi, đủ cho Quyên vùng dậy, chộp lại.
– Kéo! – ông Tước gầm lên.
Le Le vượt qua ghềnh.
Tối hôm ấy, bên đống lửa trên bãi cát, Quyên bắt Khải thay hết quần áo, quấn chăn ngồi sát lửa. Thằng bé run cầm cập, nhưng mắt sáng rỡ.
– Chị bảo em không được xuống, – nàng nói.
– Ông Tước bảo. Chị không bảo.
Ông Tước ngồi bên kia đống lửa, rít thuốc lào. Ông nhìn Khải một lúc, rồi nói, giọng khàn khàn:
– Ông nội mày ngày xưa cũng thế. Ai bảo gì cũng nghe, đến lúc cần thì không nghe ai.
Đấy là lần đầu tiên trong chuyến đi ông nhắc đến ông nội nàng.
Chiều mùng bốn, Le Le đến Bản Quế.
Thung lũng mở ra như một lòng bàn tay. Sông chảy chậm lại, nước xanh trong, uốn một khúc quanh rộng ôm lấy bãi bồi. Trên bãi là chợ: mấy chục mái lán lợp lá cọ, cột tre, sàn tre. Xa xa trên sườn đồi là những ngôi nhà sàn, khói bếp bay lên từ mái. Cả thung lũng thơm một mùi cay cay, ngòn ngọt. Mùi quế.
Bến chợ đã có mười mấy chiếc ghe đậu. Có một chiếc to hẳn, ba buồm, buồm viền xanh.
– Thịnh Xương lên trước mình, – Sẻ nói.
Quyên không nói gì. Nàng nhìn chiếc ghe to, nhìn những bao muối xếp cao trên bến, mỗi bao một vệt sơn xanh.
Sáng mùng năm, Tết Đoan ngọ, chợ Bản Quế đông từ lúc trời còn tối. Người trên nguồn xuống chợ từ những bản xa, có người đi hai ngày đường. Đàn ông gùi quế, những bó vỏ quế cuộn tròn như ống sáo, buộc lạt, màu nâu đỏ. Đàn bà gùi sa nhân, mật ong đựng trong ống tre, nấm, mộc nhĩ. Trẻ con chạy giữa các lán, đứa nào cũng có sợi chỉ ngũ sắc buộc cổ tay. Ở góc chợ có người bán rượu nếp cái hoa vàng, đựng trong lá dong, mùi thơm nồng. Mọi người mua ăn từ sáng sớm, bảo Tết này phải giết sâu bọ.
Quyên cho Sẻ và ông Tước khiêng hai mươi hũ mắm lên một cái lán thuê được ở rìa chợ. Nàng mở nắp mấy hũ, bày ra.
Nhưng người đi chợ không ghé.
Họ đi qua lán nàng, đi thẳng về giữa chợ. Ở đấy, trên một cái sàn tre rộng, xếp cao mấy chục bao muối có vệt sơn xanh. Một gã đứng trên chồng bao rao bằng thứ tiếng của người nguồn, rồi rao lại bằng tiếng Kinh:
– Muối Thịnh Xương! Hôm nay Tết, phường bán giá Tết! Một bao muối đổi mười hai cân quế! Mười hai cân thôi! Mọi bữa mười cân!
Người ta xô đến.
Sẻ chửi thề. Khải ngồi phịch xuống cạnh hũ mắm, ôm cằm.
Quyên đứng nhìn. Mười hai cân quế cho một bao muối. Nếu quế ở đây hai tiền một cân thì bao muối ấy đổi ra hai quan bốn tiền. Mọi bữa hai quan. Hôm nay Thịnh Xương bán rẻ đi bốn tiền một bao. Không ai bán rẻ mà không có lý do. Không ai bán rẻ đúng vào hôm một chiếc ghe vá chằng vá đụp mang mắm lên.
Nàng nhìn quanh. Gian lán bên cạnh, một bà cụ người nguồn đội khăn chàm, lưng còng, đang ngồi trên cái gùi bán mấy ống mật ong. Bà cụ không xô ra chỗ muối. Bà ngồi, nhai trầu, nhìn mấy cái hũ mắm của Quyên bằng đôi mắt đục.
Quyên lấy một cái bát đàn, xúc một ít xôi gạo nếp nàng mua sáng nay ở đầu chợ, đặt lên trên một thìa mắm ruốc, mang sang đưa cho bà cụ.
– Mời cụ ăn thử.
Bà cụ nhìn bát xôi, nhìn nàng. Rồi bà cầm lấy, bốc một miếng, nhai. Nhai chậm. Rồi bà gật đầu, nói một câu gì đó bằng tiếng của bà. Một người đàn ông trẻ ở lán bên cạnh, chắc là cháu bà, dịch lại:
– Bà bảo mặn mà không đắng. Ruốc không có cát.
– Vâng.
– Bà hỏi làm sao để lâu.
Quyên ngồi xuống cạnh bà cụ. Nàng kể. Mắm ruốc để trong hũ đậy kín thì để được cả năm, không cần phơi, không cần ướp. Mùa mưa không ra chợ được thì trong nhà vẫn có cái mặn. Một hũ mười cân, trong ấy có hai cân rưỡi muối, còn lại là ruốc, là cái ăn. Gùi về một hũ mắm nhẹ hơn gùi một bao muối với một gùi cá khô. Mắm kho với thịt rừng, mắm trộn với rau, mắm chấm măng luộc. Nàng nói chậm, để người cháu dịch kịp.
Một người, hai người, rồi năm người đứng lại nghe. Có người xin nếm. Nàng lấy thêm xôi, thêm bát.
– Đổi thế nào? – người cháu hỏi.
– Một hũ mười cân, đổi hai cân rưỡi quế. Hoặc lấy năm tiền. – Quyên chỉ cái cân đòn treo ở cột lán của bà cụ. – Cân bằng cân của bà con. Cháu không dùng cân của cháu.
Người cháu dịch câu ấy. Đám đông im đi một nhịp. Rồi bà cụ đội khăn chàm phá lên cười, cái cười móm mém, và nói một tràng dài.
– Bà bảo, – người cháu nói, cũng cười, – bà sống bảy mươi năm, chưa thấy người Kinh nào xuống chợ mà mượn cân của người nguồn.
Đến trưa, giờ Ngọ, người nguồn theo tục đi hái lá thuốc trên đồi. Chợ thưa một lúc. Rồi đến chiều, người ta quay lại. Lần này họ không đi qua lán nàng nữa. Họ dừng lại.
Mặt trời chưa lặn thì một trăm lẻ sáu hũ mắm đã hết. Sáu mươi mốt hũ bán lấy tiền. Bốn mươi lăm hũ đổi hàng. Khải ngồi cạnh cái cân của bà cụ, cân từng bó quế, ghi từng con số vào tờ giấy. Chín mươi cân quế, mười hai cân sa nhân. Ông Tước và Sẻ khiêng xuống ghe, xếp vào khoang, phủ bạt cói.
Lúc nàng đang trả tiền thuê lán thì có người đứng sau lưng.
– Cô bán mắm bằng cân của người mua. Hay.
Tiêu Hoằng. Hắn vẫn mặc áo lụa lam nhạt, nhưng ống quần xắn lên, chân dính bùn, như người làm việc cả ngày. Hắn không cười, cũng không cau mày. Hắn nhìn khoang ghe phủ bạt của nàng, đong đếm bằng mắt.
– Chín mươi cân, – hắn nói. – Độ thế.
– Cậu Tiêu đếm giỏi.
– Nghề của tôi. – Hắn chắp tay sau lưng. – Hôm nay phường bán muối lỗ bốn tiền một bao. Tôi mang lên hai trăm bao. Cô biết thế là bao nhiêu?
– Tám mươi quan.
– Tám mươi quan để xem cô bán được mấy hũ mắm. – Hắn gật đầu. – Cô bán hết. Tôi mất tám mươi quan mà không được gì.
– Thì cậu đừng bán lỗ nữa.
– Không bán lỗ thì cô ăn mất khách của tôi. – Hắn nhìn nàng thẳng. – Cô Viên. Tôi nói thật một lần. Cô về làm cho phường. Mắm của cô, phường mua hết, bốn tiền một hũ, giao ở Cửa Tranh, khỏi phải đi ghềnh. Cô trông coi việc làm mắm ở Diêm Phổ, mỗi tháng phường trả ba quan. Ba quan là gấp năm lần cô bán muối ở chợ.
Quyên gấp tờ biên nhận tiền lán lại, cất vào túi.
– Cảm ơn cậu Tiêu. Không.
– Vì sao?
– Vì cậu vừa bỏ tám mươi quan để xem tôi bán được mấy hũ. – Nàng nhìn hắn. – Người bỏ tám mươi quan để thử một người, thì cũng sẽ bỏ ba quan một tháng để giữ người ấy ngồi yên.
Tiêu Hoằng im lặng một lúc. Rồi, lần đầu tiên, hắn cười. Không phải cái cười lịch sự. Cái cười ngắn, bật ra như người bị chọc trúng chỗ ngứa.
– Cô Viên, cô không thắng được bằng hũ mắm. Mắm ruốc thì có mùa. Hết tháng Tư là hết ruốc.
– Hết ruốc thì có cá.
– Hết cá thì sao?
– Thì cậu lại mang muối lên bán lỗ, – nàng nói. – Tôi lại xem.
Hắn nhìn nàng thêm một lúc. Rồi hắn gật đầu, như gật với một đối thủ cờ vừa đi một nước không tệ, và quay đi về phía chiếc ghe ba buồm.
Đêm ấy Le Le neo ở bến Bản Quế. Cả thung lũng chìm trong mùi quế và tiếng côn trùng. Trăng mùng năm mảnh như cái lưỡi liềm, lặn sớm sau núi. Khải đếm tiền dưới ánh đèn dầu lần thứ ba, đếm xong thì nằm ôm cái túi tiền ngủ.
Ông Tước không ngủ. Ông ngồi ở lái, nhìn những bó quế phủ bạt.
– Cô Hai, – ông nói nhỏ khi Quyên ra ngồi cạnh. – Chín mươi cân quế. Dưới trăm cân thì lệ không bắt giấy rừng.
– Vâng, cháu biết.
– Cô biết. – Ông nhổ bã trầu xuống nước. – Nhưng lúc đi qua Ải Bồng, quế nằm trên cân của trạm. Mà cân của trạm thì không phải cân của người nguồn.
— Hết chương 7 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe