Chương 19: Lời thú ở gò Cát
Bóng phi lao đã ngả từ chân mộ sang tới đầu mộ, và chú Lộc vẫn quỳ, trán còn dính cát, khi chú bắt đầu kể.
Chú không kể theo thứ tự. Chú kể như người ta dốc một cái bao thủng, cái gì nằm trên thì rơi ra trước.
– Sáu mươi quan, – chú nói. – Cháu biết sáu mươi quan là bao nhiêu không?
Quyên không đáp. Nàng biết. Sáu mươi quan là ba nghìn sáu trăm đồng. Là bảy trăm hai mươi cân muối bán lẻ ở chợ. Là gần mười năm tiền lời của cái sạp tre.
– Mùa xuân năm ấy chú mua một chiếc ghe, – chú nói. – Ghe của riêng chú. Chú đặt tên nó là con Bống Trắng. Cả đời chú làm cho anh, ăn lương anh, ở nhà anh cho. Chú muốn có một cái gì không phải của anh. – Chú bật ra một tiếng như cười. – Chú không có tiền. Ông quản Cao cho vay. Cho vay dễ lắm, cháu ạ. Không hỏi han gì, cười cười, đưa giấy cho chú điểm chỉ. Tháng Sáu, chú chở một chuyến vải với nồi đồng xuống phủ Lạc Trì bằng đường biển. Gặp gió giật ở ngoài mũi Rồng. Con Bống Trắng chìm cả hàng. Người thì vớt được, hàng thì không.
Gió thổi qua rặng phi lao. Dưới chân gò, nhà ai đang đốt vàng mã, khói bay ngang.
– Nợ đến hạn rằm tháng Tám. Chú đi hỏi anh. – Chú ngừng lại. – Lần thứ tư. Anh bảo, Lộc ơi, anh nói rồi, lần trước là lần cuối. Anh không giận. Anh chỉ bảo thế. Anh bảo em phải tự gánh một lần, không thì cả đời em không gánh được cái gì.
– Rồi ông quản Cao đến, – Quyên nói.
Chú Lộc gật đầu.
– Đầu tháng Tám. Ông ấy mời chú ra quán rượu đầu bến. Ông ấy bảo, nợ thì ông xoá. Không những xoá, ông còn có một chân quản kho cho chú, lương tháng hai quan, khi nào bến nhà Viên đổi chủ. Chú hỏi bến nhà Viên đổi chủ thế nào được. Ông ấy cười. – Chú nhắm mắt lại. – Ông ấy bảo chỉ cần một đêm. Đêm mười bốn, người của phường chở một trăm bao muối đến, chú cho chất lên ghe số Ba. Sáng rằm trạm khám. Ông Khoan sẽ bị phạt tiền, mất dẫn một năm. Viên Ký to thế, mất một năm thì không chết được. Chỉ là trong một năm ấy, ông Tiêu chen chân được vào bến.
– Chú tin.
– Chú tin. – Giọng chú khàn đi. – Chú muốn tin. Ông ấy còn bảo, trạm đã có người lo rồi, sáng mai ai khám, khám thế nào, đều đã định. Chú nghĩ, thế thì không ai bị đánh, không ai bị giam lâu. Anh mất một năm dẫn. Chú hết nợ. Năm sau anh lại đứng dậy, anh bao giờ chả đứng dậy được.
Quyên nhìn năm bó vàng mã trên cát. Bốn cái nút đơn, một cái nút chân cua.
– Ai buộc? – nàng hỏi.
Chú Lộc mở mắt, nhìn đúng chỗ nàng đang nhìn.
– Chú buộc. Bao của phường chở đến để mở miệng, bao cói thưa, muối lèn lưng lửng. Hai thằng khiêng của phường không biết buộc nút nhà mình, mà chú cũng không dám để chúng nó buộc, chúng nó buộc vụng thì người trên ghe để ý. Chú mang theo một cuộn dây đay ở kho. Chú ngồi trên ván cầu, buộc từng bao. – Chú giơ bàn tay trái lên, nhìn nó như nhìn tay người khác. – Một trăm cái nút. Đến cái thứ năm mươi thì tay chú mỏi. Chú nghĩ, giá mà chú buộc được cái nút của anh. Nhưng chú chưa bao giờ buộc được nó.
Quyên ngồi im. Bên kia nấm mộ, gió làm tàn hương rơi xuống cát.
– Trạm bắt anh, – chú nói tiếp, nhỏ dần. – Rồi giải anh lên phủ. Chú vẫn nghĩ chỉ là phạt. Tháng Mười chú lên phủ thăm. Anh ngồi trong ngục, gầy lắm rồi. Anh hỏi chú: Lộc, em có biết ai chất không. Chú bảo không. – Chú cúi gằm mặt xuống. – Anh nhìn chú một lúc. Rồi anh gật đầu, anh bảo thôi, em về lo cho hai đứa nhỏ. Tháng Chạp người ta báo anh mất.
– Cha cháu biết, – Quyên nói.
Chú Lộc ngẩng phắt lên.
– Cha cháu biết chú nói dối, – nàng nói. – Cha cháu nhìn người giỏi lắm. Cha cháu biết, rồi cha cháu bảo chú về lo cho hai đứa nhỏ.
Chú Lộc há miệng, không ra tiếng. Rồi chú gục xuống lần nữa, và lần này chú khóc to, như trẻ con, không giấu.
Quyên để chú khóc. Nàng lấy diêm thắp hương, cắm từng nén một lên mộ. Ba nén của nàng. Ba nén cho Khải, như nó dặn. Khói bay lên, rồi gió thổi dạt đi.
Khi chú thôi khóc, mặt trời đã đứng bóng. Nàng hỏi câu mà nàng biết trước câu trả lời.
– Chú có lên trạm nói lại những gì chú vừa nói không?
Chú Lộc lau mặt bằng tay áo. Một lúc lâu chú mới trả lời.
– Thằng Tường, – chú nói. – Sang năm nó cưới vợ. Nhà gái ưng nó vì nó có việc ở phường, có chữ, ông Tiêu quý. Chú lên trạm nói thì chú vào ngục. Chú vào ngục thì nó mất việc. Nó mất việc, nhà gái trả trầu. Mà nó có biết gì đâu, cháu. Nó không biết gì cả. – Chú nhìn nàng, mắt đỏ. – Chú chỉ còn nó. Cháu đừng bắt chú.
– Cháu không bắt chú.
– Cháu cứ giận chú. Cháu chửi chú. Cháu…
– Chú về đi, – Quyên nói.
Chú Lộc đứng dậy. Đầu gối áo the lấm cát, chú không phủi. Chú đứng nhìn nấm mộ thêm một lúc, rồi quay đi, xuống dốc gò. Được mấy bước, chú dừng lại, không ngoảnh đầu.
– Con Quyên. Cái nút cháu vừa buộc lại ấy. Cháu đốt nó cho anh trước nhé.
Nàng không trả lời. Chú đi.
Nàng đốt năm bó vàng mã. Bó buộc nút chân cua nàng đốt sau cùng. Lửa liếm vào sợi dây đay, sợi dây cong lại, đen đi, cái nút vẫn giữ hình hai cái càng ôm nhau cho đến khi nó thành tro.
Hai hôm sau, Quyên lên trạm tuần.
Nàng không vào. Nàng đứng ở mỏm đá cuối bến cá lúc trời ngả chiều, chỗ có thể nhìn thấy cổng trạm. Một lúc sau Phó Phùng đi ra. Anh ta đã thấy nàng từ cửa sổ.
Anh ta đứng cạnh nàng, cách một sải tay. Ngoài cửa biển, nước đang lên, sóng bạc đầu chạy vào từng hàng.
– Người buộc là chú tôi, – nàng nói.
Phó Phùng không giật mình. Anh ta nhìn ra biển một lúc.
– Hôm giỗ, – anh ta nói. – Ông ấy đi lướt qua tôi ở đầu ngõ. Tôi nhận ra ông ấy lúc ấy. Sáng rằm năm ấy, ông ấy đứng trên bến, tay bám vào cột, mặt trắng như bây giờ.
– Sao thầy không nói?
– Vì cô chưa hỏi.
Nàng kể. Không phải kể hết. Nàng kể con Bống Trắng, sáu mươi quan, ông quản Cao ở quán rượu đầu bến, một trăm cái nút. Nàng kể câu cha hỏi chú trong ngục. Nàng không kể chú khóc.
Phó Phùng nghe, không ngắt lời. Đến khi nàng thôi, anh ta mới hỏi:
– Ông ấy có chịu nói trước quan không?
– Không.
– Vì con trai.
– Vì con trai.
Anh ta gật đầu, như người nghe một con số đúng.
– Thế thì bản nháp ấy vẫn chỉ là một dòng chữ bị gạch, – anh ta nói. – Có lời của người buộc, nó là chứng. Không có, nó là chuyện bao bì. Người ta sẽ nói lại đúng câu ba năm trước. Vụn vặt.
– Tôi biết.
– Tôi có thể gửi bản chép lên phủ. Có Cai trạm ký nhận là chép đúng. Phủ sẽ lưu. Rồi phủ sẽ hỏi Tuần sứ Lư. Tuần sứ Lư sẽ bảo năm ấy ông thấy chuyện bao bì không đáng ghi. Rồi xong.
– Thầy cứ giữ nó.
Họ đứng im. Có một con chim biển đậu xuống mỏm đá dưới chân, nghiêng đầu nhìn hai người, rồi bay đi.
– Cô Viên, – Phó Phùng nói. – Ông quản Cao bảo với chú cô là trạm đã có người lo. Sáng mai ai khám, khám thế nào, đều đã định.
– Vâng.
– Sáng rằm năm ấy, tôi đi khám là vì Phó tuần sứ Lư gọi tôi dậy từ canh tư. Ông ấy bảo có tin báo ghe Viên Ký chở lậu. Tôi hỏi ai báo. Ông ấy bảo không phải việc của thư lại. – Anh ta dừng lại. – Ba năm nay tôi nghĩ có người báo. Hôm nay tôi biết có người báo trước cả khi có hàng để báo.
Quyên quay sang nhìn anh ta. Mặt anh ta trong nắng chiều không trốn đi đâu, như cái đêm ở phòng hòm lưu.
– Thầy định làm gì?
– Tôi chưa biết. – Anh ta nhìn nàng. – Lần này tôi không định không làm gì.
Những ngày sau đó Quyên đi làm như thường. Nàng xuống Diêm Phổ đón Khải về. Thằng bé đếm hũ mắm đầu mùa xong, mặt đen nhẻm vì nắng ruộng muối, vừa thấy chị đã hỏi chị thắp đủ ba nén cho em chưa. Nàng bảo đủ. Nó nhìn chị một lúc lâu, rồi không hỏi nữa. Nàng biết nó chưa thôi.
Hội đang lo chuyến lên nguồn đầu mùa. Lần này chín ghe. Mắm ruốc Diêm Phổ, cá khô Vũng Mòi, nồi Gò Đỏ, và lần đầu tiên, ba mươi bao muối có dẫn đứng tên bà Đẫy, buộc dây lác, nút chân cua. Mắm năm nay ra nhiều, đàn bà Diêm Phổ cần người ở lại trông đợt ruốc cuối mùa, cần người trả tiền, cần người cân. Lái Thìn bảo chuyến này để ông ta dẫn. Ông ta nói câu ấy đứng giữa kho, mắt không nhìn ai, như người nói chuyện thời tiết. Quyên gật đầu. Cô Lài nhìn Lái Thìn, rồi nhìn Quyên, rồi lấy tay che miệng cười.
Chú Lộc không ra chợ nữa. Người ta bảo chú ốm.
Chiều hai mươi lăm tháng Ba, Quyên đang ở kho hội đếm lại số chum nước thì Phó Phùng đến.
Anh ta không mặc áo xanh của trạm. Áo the xám thường. Tay cầm một tờ giấy gấp đôi. Anh ta đứng ở cửa kho, chờ cho Sẻ và hai người khiêng hàng đi ra hết rồi mới bước vào.
– Cô đọc đi.
Nàng mở tờ giấy. Giấy của phủ, mực son, có dấu đỏ của tuần ty phủ Vĩnh Ninh.
"Phó tuần ty trạm Ải Bồng Phùng Tử Kiên, hết hạn xem sổ ở trạm tuần Cửa Tranh, không về Ải Bồng, chuyển lên trạm Đầu Nguồn giữ việc phó, kể từ đầu tháng Tư. Trạm Ải Bồng đủ người. Trạm Đầu Nguồn thiếu người thạo lệ."
Bên dưới, cạnh dấu phủ, có một dòng nhỏ hơn: theo lời trình của Tuần sứ trạm Ải Bồng.
Quyên đọc hai lần. Nàng biết trạm Đầu Nguồn ở đâu. Trên cả Bản Quế, chỗ sông Bạch Lãng chỉ còn là một con suối lớn giữa rừng. Ở đấy không có ghe buôn qua lại, chỉ có bè gỗ mùa nước. Người ta bảo ai bị đổi lên Đầu Nguồn thì coi như bị gửi đi giữ khỉ.
– Vì sao? – nàng hỏi.
– Trong giấy ghi rồi. Thiếu người thạo lệ.
– Thầy biết tôi không hỏi thế.
Phó Phùng cầm lại tờ giấy, gấp làm tư, cất vào ngực áo. Ngón trỏ của anh ta vẫn dính mực, như mọi ngày.
– Biên bản vụ cướp hôm mùng bốn tháng Hai, – anh ta nói. – Tôi đã gửi lên phủ. Trong ấy có một dòng về chiếc thuyền buồm ba cột, cột giữa treo cờ đuôi nheo màu lam.
Anh ta nhìn quanh cái kho, nhìn hai mươi cái chum nước xếp dọc vách, nhìn những bao muối buộc dây lác.
– Có người ở phủ đã đọc dòng ấy, – anh ta nói. – Và có người ở Ải Bồng không thích nó.
— Hết chương 19 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe