Chương 24: Mười ngày
Tiêu Hoằng về đến nhà ở phố Hàng Buồm lúc mặt trời vừa lên khỏi mái ngói, và cha anh đã ngồi sẵn ở hiên, trước mặt là ấm trà đã nguội.
Ở bến, người ta kể cho anh nghe trước cả khi anh bước xuống ván cầu. Đêm qua, ngoài cồn Ông Vọ. Tám ghe của hội Đồng Thuyền. Một trăm mười bao muối. Thằng em con bé Viên, cái thằng hay ngồi cạnh cái cân, bị giặc bế đi. Người kể không nhìn anh. Mấy người làm công của phường đứng dỡ hàng cũng không nhìn anh. Hoằng đi từ bến lên Hàng Buồm mà không nhớ mình đi đường nào.
Bà nội ngồi dưới giàn mướp như mọi sáng, con suốt gỗ đưa đi đưa lại trên tấm lưới. Bà không ngẩng lên. Hoằng đi qua bà, đứng trước hiên.
– Cha biết rồi, – anh nói.
– Biết từ canh ba. – Tiêu Bá Lâm rót trà vào chén, trà nguội, ông vẫn rót. – Con ngồi đi.
Hoằng không ngồi.
– Phường bảo giặc đánh đoàn ghe của người ta. Phường trả tiền đường. Rồi giặc bắt một đứa trẻ con mười hai tuổi. – Giọng anh không to. Từ nhỏ anh đã học không nói to trước mặt cha. – Cha có biết không?
Ông Tiêu không trả lời. Ông gọi người nhà ra cổng.
– Mời ông quản Cao lên.
Cao Bỉnh đến chưa đầy một khắc sau, như đã đứng chờ ở đâu đó gần đây. Áo lam, quạt giấy. Lần này ông ta không cười trước khi nói. Ông ta chắp tay vái ông chủ, vái cậu cả, rồi đứng ở bậc thềm dưới.
– Lão bảo ông đánh hàng, – ông Tiêu nói. Giọng ông vẫn chậm, vẫn thấp, như mọi khi. – Hội ấy bắt đầu chở muối biển. Muối Diêm Phổ phường bỏ ba năm cho vay mới nắm được. Lão bảo ông cho người ta biết đi biển không dễ. Lão không bảo ông bắt trẻ con.
– Bẩm ông, người ở đảo tự làm. – Cao Bỉnh cúi đầu. – Tôi chỉ dặn đánh hàng.
– Thế cái thư?
Cao Bỉnh im một nhịp.
– Bẩm… tôi viết sẵn đưa họ. Phòng khi bắt được người lớn, thì có cái mà ép con bé ấy giải hội. Tôi không nghĩ họ bắt thằng bé.
Hoằng nhìn người quản sự. Hai năm nay anh thấy Cao Bỉnh cười với mọi người, cười với diêm dân, cười với lính trạm, cười cả khi đuổi người ta ra khỏi kho. Bây giờ anh nhận ra anh chưa bao giờ nghe ông ta nói một câu mà không có cái chữ phòng khi ở đâu đó trong ấy.
– Đêm nay ông đi, – ông Tiêu nói. – Bảo thả.
– Bẩm, muốn gặp họ thì phải treo đèn trước một đêm. Ba ngọn, trên cây bần đầu bãi Lác. Họ thấy thì đêm sau họ vào. Họ đáp hai ngọn.
– Thì treo.
Cao Bỉnh vái, lui ra. Đến cổng, ông ta dừng lại một chút cạnh giàn mướp, như định chào bà cụ, rồi thôi.
Hai cha con ngồi lại. Hoằng vẫn đứng.
– Ba mươi quan một tháng, – anh nói. – Từ năm Diên Bình thứ năm. Con đọc sổ rồi.
– Lão biết con đọc. – Ông Tiêu nhìn ra sân. – Nên lão mới cho con lên Bản Quế.
– Cha trả tiền cho giặc.
– Lão trả tiền đường. – Ông đặt chén trà xuống. – Như người ta trả thuế ở Ải Bồng. Ghe phường đi biển mười bốn chiếc, mỗi chiếc chở hàng mấy chục quan. Một năm mất hai chuyến thì mất bao nhiêu? Ba mươi quan một tháng thì rẻ hơn. Lão buôn bán, con ạ. Lão tính.
– Thế ghe chài Vũng Mòi không trả thì bị cướp.
– Họ không trả.
– Họ lấy đâu ra mà trả?
Ông Tiêu không đáp. Ngoài sân, bà nội kéo căng một mắt lưới, sợi gai kêu tách một tiếng nhỏ.
Đêm mùng bốn, Cao Bỉnh đi bãi Lác. Rạng sáng mùng năm, ông ta về, lên thẳng Hàng Buồm. Hoằng không ngủ, anh ngồi trong buồng bên, cửa khép hờ, nghe.
– Bẩm ông, họ không thả.
Một lúc im lặng.
– Vì sao?
– Ngũ Rái bảo thằng bé là của cái thư. Thư đòi gì thì đợi đủ thứ ấy. Hội giải, con bé rời trấn, thì thằng bé về. – Cao Bỉnh ngừng. – Hắn còn bảo, từ nay tiền đường mỗi tháng năm mươi quan. Hắn bảo phường muốn hội ấy tan, mà người làm cho nó tan là hắn, thì phải trả công. Đòi từ tháng này.
Hoằng chờ cha nói. Anh chờ rất lâu.
– Trả, – ông Tiêu nói.
Hoằng đẩy cửa bước ra.
– Cha trả thêm thì họ biết bắt trẻ con là được thêm tiền.
Cha anh ngẩng lên. Dưới ngọn đèn sắp cạn dầu, Hoằng thấy mặt ông. Lần đầu tiên trong đời anh thấy cha mình già. Không phải già vì tóc bạc. Già như người vừa thả tay khỏi một sợi dây, và nhìn theo nó trôi đi.
Ông Tiêu không trả lời câu ấy. Ông bảo Cao Bỉnh về nghỉ. Rồi ông ngồi một mình ở hiên đến sáng.
Tối mùng năm, Tiêu Hoằng đến ngõ Cá Đối.
Quyên mở cửa. Hai ngày nay nàng chưa ngủ được giấc nào ra hồn, nhưng mặt nàng không có vẻ gì là chưa ngủ. Nó chỉ phẳng lặng như mặt biển hôm gió tắt.
Hoằng đứng ngoài hiên. Hắn nói nhanh, như sợ nói chậm thì sẽ không nói hết.
– Cha tôi không bảo bắt em cô. Tôi nghe tận tai. Cái thư là ông quản Cao viết sẵn. Đêm qua ông quản Cao đi gặp giặc ở bãi Lác, mang lệnh cha tôi bảo thả. Họ không thả. Họ đòi đúng những điều trong thư, rồi đòi phường thêm tiền.
Nàng đứng im.
– Muốn gặp họ, – Hoằng nói, – thì treo ba ngọn đèn trên cây bần đầu bãi Lác. Đêm sau họ vào. Họ giơ hai ngọn đáp lại.
– Sao cậu nói với tôi?
Hoằng nhìn nàng. Một lúc lâu.
– Vì tôi đọc sổ rồi, – hắn nói. – Vì tôi không biết làm gì khác. – Hắn quay đi, rồi dừng lại. – Cô đừng đi một mình.
Sáng mùng sáu, hội họp ở kho. Quyên không nói nhiều. Nàng kể những gì Hoằng nói, không nói tên Hoằng. Rồi nàng nói nàng định làm gì.
Giải hội thì nàng không giải được. Hội không phải của nàng. Hai mươi ghe, hai mươi chủ, có giấy phủ, có Lái Thìn điểm chỉ. Rời trấn thì nàng rời được. Nhưng người giữ Khải không phải người viết thư. Người viết thư muốn hội tan. Người giữ Khải muốn muối, muốn ghe, muốn tiền. Phải nói với người giữ Khải bằng cái họ muốn.
– Bốn mươi bao muối, – nàng nói. – Của hội. Cháu trả lại hội bằng phần chia của cháu từ giờ đến cuối năm sau. Và con Le Le.
Cả kho im phắc. Ông Tước ngồi ở góc kho, không nhai trầu. Le Le là ghe của nàng, nàng đã trả đủ ba mươi quan từ tháng Tám năm ngoái. Nhưng ai cũng biết ai là người đóng nó.
– Ghe sông, đáy nông, đi được lạch, – nàng nói, giọng không đổi. – Họ cần một chiếc như thế.
Lái Thìn đứng dậy. Ông ta không nói gì về Le Le. Ông ta chỉ nói:
– Mất chung chịu chung. Bốn mươi bao là của hội. Không phải trả.
Không ai cãi.
Chiều mùng tám, Kiên về.
Anh ta xuống từ một chiếc xuồng nan của người đưa thư phủ, áo the xanh của trạm bạc màu, ướt đẫm, mặt hốc hác như ba ngày không ngủ. Anh ta đang ở Vĩnh Ninh nộp sổ năm của trạm Đầu Nguồn thì đọc được tờ báo của trạm tuần Cửa Tranh gửi lên phủ. Một dòng: có một trẻ bị bắt, tên Viên Minh Khải. Anh ta không xin phép ai. Anh ta thuê xuồng xuôi ngay đêm ấy.
Anh ta đứng ở cửa kho, nhìn nàng. Nàng nhìn anh ta.
– Đêm mai, – nàng nói. – Đêm nay em… đêm nay tôi treo đèn.
Kiên không hỏi đèn gì. Anh ta nhìn ông Tước, nhìn Le Le neo ở bến đã chất sẵn bốn mươi bao muối, nhìn cái túi vải dầu đeo ở cổ nàng.
– Tôi đi với cô.
– Không, – ông Tước nói, từ góc kho. – Thầy đi thì thầy là quan. Giặc thấy quan thì không đến. Mà đến thì không để thằng bé về.
Kiên đứng im. Rồi anh ta gật đầu.
Đêm mùng tám, ba ngọn đèn treo lên cây bần đầu bãi Lác Xanh. Quyên, ông Tước, Sẻ ngồi trên Le Le neo dưới gốc bần đến gà gáy. Không ai đến. Nhưng ngoài kia, trong bóng tối phía lạch, có lúc hai đốm sáng hiện lên rồi tắt.
Đêm mùng chín, trăng lặn quá nửa đêm. Le Le lại neo dưới gốc bần, ba ngọn đèn lại treo. Trên bờ, cách một quãng xa trong đám lác, Kiên, Lái Thìn, anh Cối ngồi im, không đèn, không vũ khí.
Canh ba, hai chiếc thuyền đinh ra khỏi lạch, không tiếng động. Chiếc thứ nhất giơ hai ngọn đèn. Chiếc thứ hai áp vào mạn Le Le.
Người đàn ông đứng ở mũi thuyền thứ hai cởi trần. Dưới ánh đèn, vết sẹo trên vai trái ông ta dài, ngoằn ngoèo, như một con rắn đang bò lên cổ.
– Ông quản đâu? – ông ta hỏi. Giọng trầm, không lên xuống.
– Không có ông quản, – Quyên nói. – Tôi là Viên Tố Quyên.
Ngũ Rái nhìn nàng. Không ngạc nhiên. Không giận. Như nhìn một bao hàng lạ.
– Hội giải chưa?
– Hội không giải được. Hội có hai mươi chủ ghe, có giấy phủ, người đứng tên không phải tôi. Người viết cái thư ấy không biết thế. – Nàng chỉ vào khoang. – Bốn mươi bao muối Diêm Phổ. Chiếc ghe này, ghe sông, đi được lạch nông. Và tôi rời Cửa Tranh. Từ ngày kia tôi không ở trấn nữa.
Ngũ Rái không nói gì một lúc.
– Người ta trả tôi để giữ thằng bé đến khi hội tan.
– Hội không tan. Thế thì ông giữ nó đến bao giờ? – Nàng nhìn thẳng vào ông ta. – Người ta trả ông thì giữ thằng bé hay không người ta cũng đã trả rồi. Thằng bé ăn khoẻ lắm. Mỗi ngày ông nuôi nó thêm là ông mất thêm. Tôi trả ông bằng thứ ông giữ được.
Một gã giặc phía sau phì cười. Ngũ Rái quay lại nhìn gã. Gã im.
Rồi Ngũ Rái cười. Cái cười ngắn, khô, không có gì ở trong.
– Sáng ngày kia, – ông ta nói. – Cồn Ông Vọ.
Ông Tước bước sang chiếc xuồng nhỏ buộc ở đuôi Le Le. Trước khi bước, ông cúi xuống, đặt bàn tay lên con mắt vẽ ở mũi ghe, chỗ nước sơn đã bạc. Đặt một lúc. Rồi ông bước sang xuồng, không ngoái lại.
Rạng sáng mười một, chiếc Ba Cá ra cồn Ông Vọ.
Khải ngồi xếp bằng trên cát ướt, gần mép nước, một mình. Gầy đi, đen đi, áo rách một vai. Nó nhìn chiếc ghe đến gần, không đứng dậy, không vẫy.
Quyên nhảy xuống nước, lội vào. Nàng quỳ xuống trước mặt em.
– Chị Hai, – Khải nói. Giọng nó khàn như người già. – Cồn Rắn có ba mươi hai túp lều. Một cái vũng neo thuyền ở phía tây. Một ngọn đồi có người đứng canh. Đèn thì ba ngọn hỏi, hai ngọn đáp.
– Ừ.
– Đêm mùng bốn họ đưa em lên bãi Lác, trói trong khoang. Em nghe có người nói chuyện với ông có sẹo. Em không thấy mặt. – Nó nhìn chị. – Người ấy cười trước khi nói.
Rồi nó khóc. Lần này nó khóc to, như một đứa trẻ mười hai tuổi.
Hôm sau, mười hai tháng Chín, Quyên dọn xuống Diêm Phổ.
— Hết chương 24 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe