Chương 9: Ba trăm bao
Quyên đã nhớ lại cái buổi sáng ấy suốt một đêm, và đến khi trời sáng thì nàng nhớ ra những ngón tay dính mực.
Rằm tháng Tám năm ấy, nàng mười sáu tuổi. Cả nhà đang dọn cỗ Trung thu thì một thằng bé chạy vặt ở bến chạy về, mặt cắt không còn hột máu, bảo ghe số Ba bị trạm giữ ở cửa sông, ông chủ bị lính trói. Nàng chạy ra bến, chân đất, tóc chưa búi. Trên bến đông nghịt người. Lính trạm tuần đứng thành hàng. Ghe số Ba neo giữa dòng, trên ấy chất đầy bao muối, lính đang lật từng bao, đếm. Cha nàng đứng trên ván cầu, hai tay bị trói ra sau, áo dài lụa trắng vẫn phẳng nếp, mặt bình thản như đang đứng xem người khác bị bắt.
Đứng cạnh cha là một ông quan béo, cầm quạt. Và ở mũi ghe, một gã thư lại trẻ, áo xanh, quỳ một gối trên đống bao, tay cầm sổ, đầu cúi xuống viết. Lúc cha bị dẫn đi ngang qua, gã thư lại ngẩng lên. Nàng không nhớ mặt gã. Nàng chỉ nhớ ngón tay trỏ dính đầy mực, đen nhánh, giơ lên chỉ vào từng bao, môi mấp máy đếm.
Ông quan béo cầm quạt ấy, tháng trước nàng đã đứng trước mặt ông dưới gốc gạo Ải Bồng mà không nhận ra. Sáng rằm năm ấy nàng chỉ nhìn cha.
Đêm mười sáu, sau khi chú Lộc về, Quyên ngồi bên cửa sổ đến sáng. Khải nằm trên giường, giả vờ ngủ. Nàng biết nó thức, vì nó thở không đều.
Mấy ngày sau đó nàng làm mọi việc như thường. Nàng ra hiệu Phúc Thọ chuộc đôi xuyến của mẹ, sáu quan cộng tiền lãi ba tháng. Ông chủ hiệu đưa trả cái gói khăn đỏ, bảo cô chuộc sớm thế thì tôi lỗ, rồi cười. Về nhà, nàng đặt đôi xuyến vào tay Khải. Thằng bé lấy tờ giấy ghi nợ trong ống tre ra, gạch một đường chéo, viết bên cạnh hai chữ "đã trả", rồi đứng im, nhìn hai chữ ấy.
– Ông quản Cao cũng viết thế vào khế của bác Hến, – nó nói.
– Ừ.
– Thế mà nghe chẳng vui gì.
Nàng xuống Diêm Phổ. Ruốc đã hết mùa nhưng đàn bà vẫn làm được một mẻ cuối, chín mươi hũ. Vũng Mòi vào mùa cá đù, nàng mua thêm bốn mươi bó cá đù khô ướp mặn, mỗi bó mười con. Nàng trả nửa tiền trước. Không ai hỏi gì về chuyện trả sau nữa.
Mùng hai tháng Sáu, Le Le lại xuất bến. Lần này có giấy khai đóng dấu đỏ. Ông Lý Thoan khỏi ốm từ lúc nào không ai biết, đóng dấu xong còn mời nàng uống nước.
Sáng mùng bốn, Le Le cập bến Ải Bồng. Cây gạo trên vách đá lá đã dày, xanh thẫm. Chuông kêu, thuyền thúng ra, ghe cập bến. Ông Tuần sứ chưa dậy. Phó Phùng đã đứng sẵn ở bậc đá, sổ trên tay, bút sau tai.
Quyên không đợi lính gọi. Nàng nhảy lên bến, đi thẳng lên bậc đá, dừng lại ở bậc ngay dưới anh ta. Ông Tước ở lại dưới ghe. Khải đứng ở mũi, tay nắm cái ống tre.
– Cô Viên, – Phó Phùng nói. – Giấy khai.
Nàng không đưa giấy.
– Ba năm trước, – nàng nói, – sáng rằm tháng Tám, ở trạm tuần Cửa Tranh. Ghe số Ba của Viên Ký. Thầy là người đếm bao muối.
Anh ta không chớp mắt. Không quay đi. Bút vẫn cài sau tai. Nhưng ngón tay đang giữ quyển sổ thì siết lại, nàng nhìn thấy đốt tay trắng ra.
– Phải, – anh ta nói.
– Bao nhiêu bao?
– Ba trăm. Diêm dẫn ghi hai trăm.
– Thầy đếm có đúng không?
– Đúng.
Hai chữ ấy rơi xuống bậc đá như hai hòn sỏi. Gió từ khe núi thổi qua, cành gạo lay nhẹ. Dưới bến, lính trạm đang khám một ghe chở vôi, tiếng xẻng gõ vào thành ghe lộc cộc.
– Hôm ở đây, – nàng nói, – tôi hỏi thầy có biết cha tôi không. Thầy bảo không.
– Tôi không biết ông ấy. Tôi chỉ đếm hàng của ông ấy.
– Thầy biết tên. Thầy đọc tên tôi rồi hỏi.
– Phải.
– Sao thầy không nói?
Anh ta im lặng một lúc. Rồi anh ta nói, chậm, từng chữ:
– Vì cô sẽ hỏi đúng câu cô vừa hỏi. Và tôi sẽ trả lời đúng câu tôi vừa trả lời.
Quyên nhìn anh ta. Trong đầu nàng có cả trăm câu, nàng đã sắp xếp chúng suốt một đêm, suốt hai ngày trên sông. Đến lúc này chúng rơi rụng hết, chỉ còn lại một câu.
– Cha tôi chết trong ngục, – nàng nói, – vì con số của thầy.
Phó Phùng nhắm mắt lại. Chỉ một nhịp, rồi mở ra.
– Tôi biết, – anh ta nói. – Tôi đếm đúng. Nhưng có một điều…
– Thầy giữ lấy.
– Cô Viên…
– Tôi không cần thầy thương. – Nàng rút tờ giấy khai trong túi ra, đặt lên bậc đá giữa hai người. – Thầy làm theo lệ đi. Giấy đây. Lần này có dấu lý trưởng.
Anh ta nhìn tờ giấy. Rồi anh ta cúi xuống nhặt lên, mở ra, đọc. Nàng quay lưng đi xuống bến, không nhìn lại.
Anh ta khám đúng lệ. Mười phần lấy một. Mở nắp, ngửi, nếm, xiên đến đáy. Mở bó cá khô, đếm con. Ghi sổ, tính thuế, thu bằng hàng. Không phạt gì. Không nói thêm một chữ nào ngoài những chữ lệ bắt phải nói. Lúc anh ta khám đến khoang thứ tư, Khải đứng sát cạnh, đọc số hũ cho anh ta trước cả khi anh ta hỏi. Anh ta gật đầu với thằng bé, cái gật rất khẽ.
Quyên ngồi ở khoang lái suốt lúc ấy, quay lưng về phía bến.
Ông Tuần sứ ra khi mọi việc đã xong, phe phẩy quạt, nhìn xuống Le Le, cười.
– Cô Viên lại lên đấy à. Lần này chở gì?
– Bẩm, mắm với cá khô. Thầy Phó khám rồi.
– Thầy Phó khám rồi. – Ông gật gù, nhìn sang người phó của mình. – Phó Phùng cẩn thận lắm. Ba năm trước ở Cửa Tranh, cũng Phó Phùng khám. Cẩn thận đến từng bao.
Phó Phùng không đáp. Quyên nhìn cái quạt giấy trong tay ông Tuần sứ, cái quạt đã phe phẩy trên ván cầu bến Viên Ký sáng hôm ấy, và nàng biết ông nói câu ấy là để cho nàng nghe. Ông Tuần sứ cười lớn hơn, rồi phẩy tay cho kéo sào.
Chuyến thứ hai lời hơn chuyến đầu. Ở Bản Quế, bà cụ đội khăn chàm nhận ra nàng từ xa, vẫy vào lán của bà, gọi người quen đến. Không có ghe ba buồm của Thịnh Xương ở bến. Người nguồn hỏi nàng có muối không, nàng bảo không, chỉ có mắm và cá. Họ hơi tiếc, nhưng vẫn đổi. Cá đù khô bán chạy hơn nàng nghĩ, bốn mươi bó hết trong một buổi.
Nhưng nàng không vui. Khải biết. Thằng bé không hỏi suốt mấy ngày, cho đến một đêm trên đường xuôi, khi Le Le neo ở một bãi sỏi dưới chân núi, hai chị em ngồi trên mui ghe nhìn đom đóm bay trên mặt nước.
– Chị Hai, – nó nói, – ông Phó đếm bao muối của cha à?
– Ừ.
– Ông ấy đếm đúng không?
– Đúng.
Khải nghĩ một lúc.
– Đếm đúng thì có tội gì?
Quyên quay sang nhìn em. Nàng định nói gì đó thật gắt, rồi thấy mặt thằng bé dưới ánh sao, ngây thơ và nghiêm trang như đang hỏi một bài tính. Nàng không nói được câu gắt ấy.
– Không có tội gì, – nàng nói. – Chỉ là…
Nàng không nói hết. Nàng không biết hết câu ấy là gì. Chỉ là cha chết rồi, còn người đếm thì vẫn ngồi trên bậc đá dưới cây gạo, chữ đẹp, mực đậm, không lem.
– Em nghĩ, – Khải nói tiếp, giọng nhỏ dần, – nếu ông ấy đếm sai, thì cha vẫn bị bắt, vì ông quan béo vẫn ở đấy. Nhưng nếu ông ấy đếm đúng, thì có một trăm bao thật. Thế thì ai cho một trăm bao ấy lên ghe?
Quyên ngồi im.
Câu hỏi ấy nàng đã hỏi ba năm nay. Cha nàng không làm muối lậu. Nàng biết cha như biết bàn tay mình. Ông không cần. Viên Ký đang lúc ăn nên làm ra, có dẫn đủ cho cả năm, việc gì phải chở thêm một trăm bao không dẫn qua đúng cái trạm tuần ngay trước cửa nhà. Nhưng cha bị bắt, rồi cha ốm, rồi cha chết, và người ta không cần biết một trăm bao ấy từ đâu ra nữa. Án chưa xử thì người đã mất. Hồ sơ đóng lại. Nàng ba năm nay chỉ lo cho hai chị em không chết đói. Câu hỏi ấy nàng cất đi, như cất đôi xuyến của mẹ dưới đáy hòm.
– Ngủ đi, – nàng nói.
– Chị ngủ thì em ngủ.
Hai chị em ngồi đến khuya. Đom đóm bay qua bay lại trên mặt nước đen như ai rắc trấu cháy.
Ngày mười tám, qua Ải Bồng chiều xuôi. Phó Phùng khám, ghi sổ, thu thuế lâm sản. Quế lần này tám mươi tư cân, nàng cố ý đổi ít hơn trăm cân thật xa. Anh ta không cân bằng cân trạm. Anh ta mang thẳng cái cân đĩa và quả chuẩn ra, cân từng mẻ, Khải đọc số. Không ai nói một câu thừa. Lúc sào nhấc lên, Le Le rời bến, nàng biết anh ta đứng trên bậc đá nhìn theo, nhưng nàng không quay lại.
– Cô Hai, – ông Tước nói khi ghe đã qua khúc quanh. Ông đứng ở lái, tay cầm sào, mắt nhìn phía trước. – Người ta là lính trạm thì người ta phải đếm.
– Ông cũng bênh ông ta?
Ông Tước không trả lời. Ông chống sào, đẩy ghe ra giữa dòng. Một lúc lâu sau, khi Quyên đã thôi chờ, ông mới nói, như nói với dòng sông:
– Hôm ấy tôi bị trói ở mũi ghe. Ông ấy đếm đến bao thứ hai trăm lẻ một thì dừng lại. Ông ấy cầm cái miệng bao lên, nhìn rất lâu. Rồi ông ấy đếm tiếp.
– Nhìn cái gì?
– Tôi không biết. Tôi bị trói.
Ông không nói thêm. Quyên ngồi ở mui ghe, nhìn bờ sông trôi lùi. Bao thứ hai trăm lẻ một. Một trăm bao sau cùng.
Hai mươi lăm tháng Sáu, Le Le về Cửa Tranh. Nắng như đổ lửa, mặt sông trắng loá. Bến cá vắng tanh, chỉ có mấy đứa trẻ tắm. Bà Đẫy không ra đón. Quyên tưởng bà ốm. Nàng gửi hàng cho ông Tước và Sẻ, rồi chạy về ngõ Cá Đối.
Bà Đẫy ngồi trước hiên, nong tép phơi đầy sân, mặt nặng trịch. Thấy nàng, bà không đứng dậy.
– Con về rồi đấy à. – Bà nhổ bã trầu. – Ra chợ mà xem.
– Có chuyện gì u?
– Từ hôm hai mươi, Thịnh Xương bán muối lẻ ba đồng một cân.
Quyên đứng sững. Ba đồng. Vốn một cân muối ở ruộng là ba đồng sáu, chưa kể công gánh, công chở. Bán ba đồng là bán lỗ.
– Mắm ruốc cũng thế, – bà Đẫy nói tiếp. – Hai tiền một hũ. Cá khô, mắm tép, cái gì mặn nó cũng bán rẻ. Mắm tép của u mười ngày nay không bán được một hũ. Người ta ra sạp Thịnh Xương mua hết.
– Thế những sạp muối khác?
– Dẹp rồi. – Bà Đẫy đếm trên đầu ngón tay. – Nhà bà Lựu dẹp hôm hăm hai. Nhà ông Cả Bống dẹp hôm hăm ba. Con Sim ở dãy trong thì hôm qua. Chỉ còn cái chõng tre của con ở lối đi. U vẫn trải cói ra cho nó, ngày nào cũng trải, sợ người ta tưởng con bỏ.
Quyên ngồi xuống bậc hiên cạnh bà. Nắng chiều đổ xuống sân, nong tép bốc mùi khen khét. Trong đầu nàng, những con số tự xếp lại. Ba đồng một cân, bán lỗ sáu phần mười đồng mỗi cân. Thịnh Xương bán mỗi ngày ở chợ Cửa Tranh chừng ba trăm cân. Lỗ chừng một trăm tám mươi đồng một ngày. Ba tiền. Một tháng chín quan. Với Thịnh Xương, chín quan là cái gì. Với những người bán lẻ, một tháng không bán được là chết.
Họ không giết nàng. Họ giết cái chợ quanh nàng, để nàng ngồi lại một mình.
Sáng hôm sau, Quyên ra chợ sớm hơn mọi khi. Trời còn mờ sương. Nàng bày hai hũ mắm ruốc, một bó cá khô, mấy cân muối cuối cùng còn sót lại từ tháng Hai.
Dọc dãy sạp lối đi, nơi trước đây có sáu cái chõng bán muối, bây giờ chỉ còn những khoảng đất trống, dấu chân chõng còn in hằn bốn lỗ vuông. Người đi chợ đi qua, liếc nhìn, rồi đi thẳng về phía đầu bến, nơi lá cờ viền xanh của Thịnh Xương bay phần phật trên nóc sạp lớn.
Bà Đẫy ngồi xuống bên cạnh nàng, đặt hũ mắm tép lên chõng của mình, rồi nói, như nói một chuyện thời tiết:
– Còn mỗi sạp con.
— Hết chương 9 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe