Chương 4: Muối của đàn bà
Ông Hến đi từ lúc nắng mới lên đến quá trưa mới về, và về thì không nói gì, cứ thế ngồi xuống phản, rút điếu cày ra hút.
Cả nhà chờ. Chắt đứng dựa cột. Vợ ông Hến ngồi bên bếp, tay cầm đôi đũa cả mà không khuấy nồi. Quyên ngồi ở bậc cửa, chờ cùng. Ông hút hết một điếu, rồi một điếu nữa, rồi mới gác điếu lên chân phản.
– Ông quản hỏi ai mua muối của làng.
– Bố bảo sao? – Chắt hỏi.
– Tao bảo không ai mua muối. – Ông Hến nhìn ra sân, chỗ những hũ mắm đang phơi. – Ông ấy cười. Ông ấy bảo, thế mấy chục hũ mắm ngoài sân nhà ông, muối ở đâu ra? Tao bảo muối ăn trong nhà, khế cho giữ. Ông ấy bảo muối ăn là để ăn. Đem làm mắm bán thì là muối bán. Là phạm khế.
– Phạm khế thì sao bố?
– Thì khế ghi rồi đấy. Phạm khế thì nợ đến hạn ngay, phạt gấp ba. Tám quan thành hai mươi tư quan. – Giọng ông vẫn đều, như đang kể chuyện nhà người khác. – Nhưng ông quản bảo ông ấy thương tao già, không phạt. Chỉ cần trả đủ tám quan trong mười ngày. Hoặc khai ra ai bày cho đàn bà làng làm mắm, ai đặt tiền, ai mang mắm đi đâu. Khai ra thì thôi, nợ cứ để đến cuối vụ như cũ.
Không ai nói gì. Vợ ông Hến khẽ khuấy nồi một cái, rồi lại thôi.
Quyên đứng dậy.
– Bác có mang khế về không ạ?
– Khế ở nhà. Bản của tao. – Ông chỉ cái hòm gỗ ở đầu phản. – Bản của phường thì phường giữ.
– Bác cho cháu xem.
Ông Hến mở hòm, lấy ra một tờ giấy gấp làm tám, đưa cho nàng. Nàng trải ra trên phản, đọc từng chữ. Đây là bản khế y như của bà Tám Cò: vay tám quan, lãi hai phân, hạn trả sau vụ muối. Dòng chữ nhỏ khác mực ở dưới. Và một dòng nữa, nàng chưa để ý hôm trước, nằm sát mép giấy: nếu người vay phạm khế thì nợ đến hạn ngay, phạt gấp ba tiền vay.
"Muối làm ra phải bán cho phường theo giá phường định, trừ phần muối ăn trong nhà."
Nàng đọc câu ấy bốn lần.
– Mười ngày, – nàng nói. – Tức là đến hôm mười một.
– Ừ.
– Bác đừng khai gì cả. Hôm mười một, cháu đi với bác lên kho.
Ông Hến nhìn nàng.
– Cô có tám quan à?
– Chưa. – Nàng gấp tờ khế lại, trả ông. – Nhưng mười ngày nữa thì có.
Nàng đi bộ về trấn chiều hôm ấy. Đến nhà thì đã tối, Khải đang ngồi học bài dưới ngọn đèn dầu lạc, ngẩng lên hỏi chị ăn gì chưa. Quyên ngồi xuống cạnh nó, mở cái hòm gỗ, đếm tiền. Nàng đếm hai lần, rồi bảo Khải đếm lại lần thứ ba cho chắc.
Sáu quan cầm xuyến. Hai quan của chú Lộc. Bảy mươi tư đồng lẻ bán muối. Trừ tiền hũ, tiền thuê thuyền, tiền đặt trước cho đàn bà Diêm Phổ, tiền ăn. Còn lại sáu quan bốn tiền hai mươi đồng.
– Thiếu một quan năm tiền bốn mươi đồng, – Khải nói, không cần bàn tính.
– Ừ.
– Chị định bán mắm à? Mắm chưa chín mà.
– Không bán. Mắm phải đi lên nguồn.
– Thế lấy đâu?
Quyên không trả lời. Nàng đóng hòm, khoá lại, rồi sang nhà bà Đẫy.
Bà Đẫy ở một mình trong gian nhà lá cuối ngõ, cửa lúc nào cũng mở, trước hiên phơi đầy nong tép. Bà đang ngồi têm trầu bên ngọn đèn. Quyên kể hết, từ cái khế đến ông quản Cao, từ hai mươi mốt hũ mắm đến mười ngày. Bà Đẫy nghe, không ngắt lời, chỉ nhai trầu chậm hơn.
– Con cần một quan rưỡi, – Quyên nói. – Con trả u bằng mắm, hoặc trả bằng tiền sau chuyến ghe đầu tiên. Lãi bao nhiêu u cứ nói.
Bà Đẫy nhổ bã trầu vào cái ống nhổ bằng mo cau, rồi đứng dậy đi vào buồng. Lúc trở ra, bà cầm một cái túi vải đen, buộc chặt đến mức bà phải lấy răng cắn mới mở được.
– Hai quan, – bà nói. – Tiền này u để dành từ hồi thằng Tý còn. Nó bảo đi biển thêm hai năm nữa thì về cưới vợ, u để cho nó một ít làm lễ. – Bà đặt cái túi vào tay Quyên. – Không lấy lãi. Mà con cũng đừng trả bằng mắm, u bán mắm cả đời, u không ăn mắm của ai.
Quyên cầm cái túi. Thằng Tý con bà Đẫy chết năm Quyên mười sáu tuổi, khi chiếc ghe nó làm thuê bị giặc Cồn Rắn chặn ngoài cửa biển. Người ta tìm được ghe, không tìm được người. Bà Đẫy không khóc ở chợ ngày nào. Bà chỉ thôi không bán ở dãy trong, ra ngồi lối đi, nói là cho thoáng.
– Con trả u bằng tiền, – Quyên nói. – Trước Tết.
– Trước Tết hay sau Tết thì u cũng còn sống mà đòi. – Bà Đẫy lại cầm lá trầu lên. – Về đi. Đứng đây u lại khóc thì xấu.
Mười ngày ấy Quyên đi lại giữa trấn và Diêm Phổ ba lượt. Lượt thứ hai, nàng đến nhà lý trưởng Diêm Phổ, ông Lý Thoan, người có cái dấu gỗ đỏ đóng vào mọi giấy tờ của làng. Ông Lý Thoan sáu mươi tuổi, gầy, mắt kém, ngồi sau cái án thư sứt một chân kê bằng gạch.
– Cháu muốn làm một tờ giấy mua mắm, – nàng nói. – Cháu mua mắm của đàn bà Diêm Phổ, mỗi hũ một tiền rưỡi. Giấy ghi rõ cháu mua mắm, không mua muối. Ai bán, bán bao nhiêu hũ thì điểm chỉ vào, có ông Lý đóng dấu chứng.
Ông Lý Thoan nhìn nàng mãi.
– Cô làm thế để làm gì?
– Để sau này có ai hỏi làng bán gì cho cháu, thì giấy trả lời.
– Phường có hỏi thì tôi cũng chỉ là cái dấu.
– Thì cháu chỉ xin cái dấu.
Ông lý trưởng thở ra một hơi dài, rồi gọi thằng cháu mang mực ra. Ông viết chậm, chữ to và run. Nàng đọc từng chữ một trước khi ông đóng dấu.
Sáng mười một tháng Ba, ông Hến mặc áo dài thâm, đội khăn, đi trước. Quyên đi sau, ôm cái túi tiền trước ngực. Chắt không được đi, đứng ở cổng nhìn theo, rồi lén chạy tắt theo lối bờ ruộng.
Kho Thịnh Xương ở đầu làng mới quét vôi, mùi vôi còn hăng. Bên trong muối đổ thành đống cao quá đầu người, trắng xoá dưới ánh sáng lọt qua mái ngói. Ba gã làm công đang xúc muối vào bao, buộc miệng bằng dây đay, nút thòng lọng, quăng lên chồng. Cao Bỉnh ngồi ở cái bàn kê cạnh cửa, trước mặt là cuốn sổ và cái bàn tính. Thấy hai người vào, ông đứng dậy, chắp tay vái ông Hến như vái người trên.
– Ông Hến. Mời ông ngồi. – Ông quay sang Quyên, cười tươi hơn. – Cô Viên. Hôm trước tôi không biết cô là con ông Khoan, thất lễ quá. Ông Khoan với tôi ngày trước cũng có quen.
– Ông quen cha cháu ở đâu ạ?
– Ở bến. Ở Cửa Tranh này ai mà chẳng quen ông Khoan. – Ông kéo ghế mời nàng. Nàng không ngồi.
– Thưa ông quản, – nàng nói, – bác Hến nợ phường tám quan, ông cho mười ngày. Hôm nay là ngày thứ mười. Cháu mang tiền đến trả thay bác.
Cao Bỉnh chớp mắt. Chỉ một cái, rất nhanh, rồi ông lại cười.
– Cô trả thay ông Hến? Cô với ông Hến là thế nào?
– Bác Hến bán mắm cho cháu. Cháu trả trước tiền mắm. Bác dùng tiền ấy trả nợ phường. – Nàng đặt cái túi lên bàn, mở ra. Mười một xâu tiền và một nắm đồng lẻ. – Tám quan chẵn, xin ông đếm.
Cao Bỉnh không đếm ngay. Ông xoay cái quạt trong tay.
– Cô Viên, chuyện nợ thì tôi nhận. Nhưng ông Hến phạm khế thì cô có biết không? Muối ăn trong nhà mà đem làm mắm bán là bán muối. Đáng lẽ phạt gấp ba.
– Thưa ông, khế ghi "trừ phần muối ăn trong nhà". Không ghi muối ăn bao nhiêu, cũng không ghi muối ăn thì không được làm mắm. Muối nhà nào, nhà ấy muốn ăn sống, muốn muối dưa, muốn làm mắm, đều là ăn. Mắm làm xong rồi bán thì là bán mắm. – Nàng rút tờ giấy của ông Lý Thoan ra, mở trên bàn, cạnh túi tiền. – Cháu mua mắm. Có giấy, có dấu lý trưởng. Ông quản muốn bảo đây là bán muối, thì phiền ông đem lên ty Diêm chính hỏi xem mắm có phải là muối không. Mà lên đấy thì cháu cũng xin hỏi luôn một câu.
– Câu gì?
– Vì sao khế của cả làng, cái dòng chữ nhỏ ở dưới lại viết bằng mực khác.
Trong kho, tiếng xúc muối dừng lại. Ba gã làm công đứng im, xẻng cầm trên tay. Ông Hến ngồi thẳng lưng, mắt nhìn đống muối trước mặt, như không nghe thấy gì.
Cao Bỉnh nhìn tờ giấy có dấu đỏ, rồi nhìn nàng. Lần đầu tiên từ khi nàng gặp ông, ông không cười.
Rồi ông cười lại. Ông kéo cái túi tiền về phía mình, đếm. Đếm thật kỹ, từng xâu một, bắt một gã làm công đếm lại. Đủ tám quan. Ông mở cuốn sổ, lấy ra bản khế của phường, đặt trước mặt ông Hến, cầm bút gạch hai đường chéo, viết bên cạnh hai chữ "đã trả", ký, rồi đưa cho ông Hến.
– Ông Hến giữ lấy mà xé, – ông nói. – Nhà ông hết nợ phường.
Ông Hến cầm tờ khế. Tay ông run. Ông không xé. Ông gấp lại, nhét vào ngực áo.
Cao Bỉnh đứng dậy tiễn họ ra tận cửa. Đến bậc cửa, ông nói khẽ, chỉ đủ cho Quyên nghe:
– Cô Viên giỏi chữ. Cha cô ngày trước cũng giỏi chữ. Nhưng chữ là thứ người ta viết thêm được, cô ạ.
Quyên dừng chân. Nàng quay lại nhìn ông.
– Thì ông viết đi, – nàng nói. – Cháu đọc.
Chắt nấp sau bờ ruộng, chứng kiến từ đầu đến cuối qua khe cửa sổ, chạy về làng trước hai người. Đến lúc Quyên và ông Hến về tới đầu xóm Bãi Ngoài, đàn bà đã đứng chật cả lối đi.
Không ai vỗ tay, không ai reo. Người ta chỉ đứng nhìn. Rồi bà béo bước ra trước, nói to như cãi nhau:
– Cô Viên. Nhà tôi muốn làm thêm mười hũ.
– Nhà tôi tám, – một người khác nói.
– Nhà tôi làm được mười hai, nhưng phải chờ ruốc.
Ông Hến đứng giữa đám đông, tay vẫn ôm ngực áo chỗ tờ khế. Ông nhìn Quyên, rồi nói, giọng cộc như mọi khi:
– Tám quan ấy, nhà tôi trả cô bằng mắm. Năm mươi ba hũ. Cả họ nhà tôi làm. Thiếu hai đồng thì cô bỏ qua cho.
Từ hôm ấy, ruốc Vũng Mòi không đủ cho Diêm Phổ. Đàn bà làng muối đi bộ sang tận làng chài bên kia mũi để mua. Nhà nào cũng có cái chum muối ăn trong góc bếp, và chum nào cũng vơi đi một ít mỗi phiên chợ. Đàn ông làm ruộng muối nộp phường như cũ, không ai cản, nhưng đến bữa cơm thì người ta nói chuyện mắm.
Trong hòm của Quyên chỉ còn bốn tiền lẻ. Nàng nói thật với cả xóm: nửa tiền sau của mỗi hũ, nàng trả khi ghe về. Bà béo nghe xong thì bảo thế thì cô đi cho nhanh mà về, rồi quay đi mua ruốc. Lò gốm Gò Đỏ cho nàng ghi nợ tiền hũ, ông chủ lò xem tờ giấy có dấu lý trưởng rồi mới gật. Hũ mười cân hết, nàng phải lấy cả hũ tám cân, rồi tính lại giá cho từng loại. Khải xin thầy đồ Lương nghỉ học hai buổi, xuống Diêm Phổ đếm hũ, ghi tên nhà nào bao nhiêu, hũ nào đã trả nửa tiền, hũ nào đã trả đủ. Thằng bé ngồi ở sân nhà ông Hến, quanh nó là cả trăm hũ mắm phơi nắng, mùi ruốc nồng đến mức chim sẻ cũng không dám xuống. Đàn bà Diêm Phổ gọi nó là "ông thủ quỹ", đưa nó khoai lang nướng, nó cũng ghi luôn vào sổ là ai cho khoai.
Hai mươi chín tháng Ba, Khải đếm xong lần cuối. Một trăm hai mươi hũ mắm ruốc đã chín, màu tím hồng, mặt mắm sánh như sáp, mở nắp ra là mùi bốc lên cay sống mũi. Năm mươi ba hũ của nhà ông Hến xếp riêng một góc, buộc dây cói đánh dấu.
Một trăm hai mươi hũ, mỗi hũ ở Cửa Tranh bán được ba tiền. Ở Bản Quế, nếu nàng nhớ không nhầm giá ngày trước, một hũ đổi được mấy cân quế, mà quế mang về Cửa Tranh thì giá gấp đôi.
Nàng không có ghe.
Phiên hai mươi bảy, trước đó hai hôm, nàng đã ngồi ở sạp chợ cả buổi, bán mấy cân muối cuối cùng còn sót lại. Nàng nghe bà Đẫy kể tên từng chủ ghe nhỏ ở Cửa Tranh, ai còn chạy, ai đã bán ghe, ai nợ phường. Danh sách ngắn hơn nàng tưởng. Ghe nhỏ không có hàng chở thì nằm bến, nằm bến lâu thì mục.
Gần trưa, có một người đàn ông già đến đứng trước sạp. Ông thấp, lưng hơi còng, da đen như gỗ trầm, tóc bạc búi củ hành. Miệng ông nhai trầu, môi đỏ thẫm. Ông không nhìn muối. Ông nhìn nàng.
Quyên ngẩng lên. Nàng nhận ra ông ngay, dù ba năm nay chưa lần nào gặp. Ngày trước ông chèo ghe số Ba của Viên Ký, chèo từ thời ông nội nàng còn sống. Hồi bé nàng gọi ông là ông Tước, ông cho nàng ngồi trên mũi ghe khi ghe neo bến, bảo đấy là chỗ của thuyền trưởng.
– Cô Hai, – ông Lái Tước nói, giọng khàn như mái chèo cọ vào cọc. – Tôi nghe người ta nói cô đang cần một chiếc ghe.
— Hết chương 4 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe