Chương 25: Hai bản của một chuyện
– Ngủ ở Diêm Phổ, ăn ở Diêm Phổ, mà sáng nào cũng thấy mặt ở chợ Cửa Tranh, – bà Đẫy nói. – Thế mà gọi là rời trấn.
– Con hứa rời trấn, – Quyên nói. – Con không hứa không đi chợ.
Bà Đẫy nhổ bã trầu, lầm bầm cái giống nhà Viên chữ nghĩa lắt léo, rồi đẩy sang cho nàng cái ghế đẩu, như mọi phiên.
Từ giữa tháng Chín, Quyên thuê một gian nhà rạ ở cuối xóm Bãi Ngoài, cách nhà ông Hến ba ngõ, trước cửa là ruộng muối, sau lưng là bãi biển. Mái thấp, vách đất, trong nhà có một cái chõng, một cái bếp, một cái hòm gỗ. Khải ở với nàng. Nó học chữ với ông đồ đầu làng Diêm Phổ, cái ông mà Chắt từng bắt đọc khế ba lần. Ông đồ già, dạy chậm, Khải ngồi học mà nghĩ chuyện khác. Thầy Lương gửi xuống cho nó một bọc sách, dặn mỗi tháng lên trấn trình bài một lần.
Sáng nào nàng cũng đi bộ chín dặm theo bờ cát lên trấn, chiều lại đi bộ về. Ở kho hội nàng ngồi đến quá trưa, ở sạp chợ nàng ngồi đến giờ Mùi. Trước khi trời tối, nàng đã ra khỏi cổng trấn.
Lời hứa với Ngũ Rái là rời Cửa Tranh. Nàng không ngủ ở Cửa Tranh một đêm nào nữa.
Hội không vì thế mà dừng. Lái Thìn dời buổi họp hằng tuần từ tối sang sáng, để nàng kịp đi về, rồi cằn nhằn suốt buổi họp đầu tiên rằng sáng là giờ đi biển chứ không phải giờ ngồi nói. Cô Lài mang cơm nắm đến kho cho nàng mỗi trưa, bảo người đi bộ mười tám dặm một ngày mà nhịn đói thì có ngày ngã giữa bãi cát. Thằng Rơm xin bà Đẫy cho đi theo nàng mỗi chiều đến cổng trấn, đi bên cạnh không nói gì, đến cổng thì đứng lại nhìn nàng đi khuất, rồi mới quay về.
Ông Tước bảo nàng giữ chữ như người ta giữ dây neo, buông một đốt là trôi cả ghe. Ông nói câu ấy rồi đi. Từ hôm Le Le đi theo giặc, ông không có ghe để xảm, để sửa. Ông ra bến cá ngồi vá lưới thuê cho nhà chài, ngồi đúng cái chỗ ngày trước Le Le neo. Sẻ chèo thuê cho Lái Thìn.
Khải thì khác. Ba ngày đầu về, nó ngủ suốt. Ngày thứ tư nó dậy, ngồi vào chõng, lấy giấy ra vẽ. Vẽ Cồn Rắn. Ba mươi hai túp lều, vẽ từng cái, có cái to cái nhỏ. Cái vũng neo thuyền ở phía tây, nó ghi bên cạnh: nước sâu ba sải, lúc ròng còn hai. Ngọn đồi canh, ghi: một người ngày, hai người đêm, đổi gác lúc gà gáy. Nó vẽ cả cái lạch mà giặc chèo thuyền đưa nó lên bãi Lác. Nó nhớ được chỗ rẽ, nhớ được chỗ hẹp. Nó không nhớ được mặt người cười trước khi nói, vì nó bị trói trong khoang, mặt úp xuống sàn.
Vẽ xong, nó đưa cho chị, không nói gì, rồi ra sân ngồi nhìn ruộng muối.
Kiên ở lại Cửa Tranh đến hôm Khải về. Sáng mười hai, anh ta đến nhà nàng ở ngõ Cá Đối lúc nàng đang gói đồ, đứng ở cửa nhìn Khải ngủ, rồi bảo nàng anh ta phải lên lại Đầu Nguồn. Anh ta đã bỏ trạm mười ngày, về đến nơi sẽ là hơn hai mươi ngày. Lệ phạt bỏ trạm không nhẹ.
– Anh biết thế mà vẫn về, – nàng nói.
– Biết.
Anh ta không nói gì thêm. Anh ta lên xuồng ngược sông chiều hôm ấy.
Giữa tháng Mười, lũ rút. Đoàn ghe của hội lên Lạc Trì giao ba trăm hũ mắm cho bà lái buôn béo, giao trễ mười ngày, bà không phạt, chỉ bảo năm sau giao sớm. Hội bù lại được một nửa chỗ muối mất ở cồn Ông Vọ.
Mười sáu tháng Mười, Quyên đến phố Hàng Buồm.
Không ai mời. Nàng đến lúc giờ Thìn, gõ cổng, nói với người nhà là Viên Tố Quyên xin gặp ông Tiêu. Người nhà nhìn nàng như nhìn một con cá biết đi, rồi chạy vào trong.
Người ra mở cổng không phải người nhà. Là Tiêu Hoằng. Hắn mặc áo cánh, tay cầm cuốn sổ, như vừa từ kho về. Từ hôm em nàng trở về, nàng chưa gặp lại hắn. Hắn đứng chắn ở cổng một nhịp, nhìn nàng, rồi tránh sang.
– Cha tôi ở hiên, – hắn nói. – Cha tôi đợi cô từ hôm em cô về.
– Sao ông biết tôi sẽ đến?
– Cha tôi không nói. – Hoằng nhìn xuống cuốn sổ. – Một tháng nay sáng nào cha tôi cũng bảo người nhà quét sân trước giờ Thìn. Trước kia không bao giờ.
Nàng đi vào. Hoằng không theo. Hắn đứng ở cổng, rồi đi ra phố, như người cố ý không nghe.
Ông Tiêu Bá Lâm tiếp nàng ở hiên. Lần này không có trà. Ông ngồi trên cái ghế gỗ, tay đặt trên đầu gối. Ông gầy đi. Má hóp hơn. Cái áo the đen vẫn không một nếp nhăn.
Dưới giàn mướp, bà cụ vẫn ngồi đan lưới. Giàn mướp tháng Mười đã tàn, lá vàng rụng lốm đốm trên tấm lưới phủ trên đùi bà.
– Cháu Viên, – ông Tiêu nói. – Cháu đến làm gì?
– Cháu đến nói với ông một điều. Rồi cháu xin hỏi ông một điều.
– Cháu nói.
– Ông không bảo bắt em cháu. – Nàng nhìn ông. – Cháu biết.
Ông Tiêu không đổi sắc mặt. Nhưng tay ông trên đầu gối nắm lại.
– Ai bảo cháu?
– Không ai bảo. – Nàng nói chậm. – Người bắt em cháu có một lá thư viết sẵn. Viết trước, cho ai cũng được. Ông chưa bao giờ viết cái gì trước cho ai cũng được. Ông muốn ai làm gì, ông gọi người ấy đến nhà, rót trà, nói thẳng.
Ông Tiêu nhìn nàng rất lâu. Gió từ sân thổi vào, lật một chiếc lá mướp khô trên nền gạch.
– Lão không bảo bắt trẻ con, – ông nói cuối cùng. – Nhưng lão trả tiền cho người bắt nó. Cháu biết thế chứ?
– Cháu biết.
– Thế mà cháu vẫn đến nói với lão câu ấy.
– Vì câu ấy đúng.
Ông Tiêu không nói gì. Ông nhìn ra sân, nhìn mẹ mình dưới giàn mướp.
– Cháu hỏi đi.
– Năm ngoái, ở bậc thềm này, ông hỏi cháu ông nội cháu có bao giờ kể chuyện cồn Ông Vọ không. – Quyên nói. – Cháu đến để nghe.
Ông Tiêu im lặng lâu đến mức nàng tưởng ông sẽ bảo người nhà tiễn khách. Rồi ông bắt đầu kể. Ông kể bằng cái giọng chậm, đều, như người đọc lại một tờ khế đã thuộc lòng.
– Năm Cảnh An thứ sáu, lão mười một tuổi. Cha lão tên Tiêu Trọng Văn, chủ một chiếc ghe biển, nhận chở muối quan cho ty Diêm chính. Muối quan làm ở Diêm Phổ, cân ở kho quan, đóng bao, niêm, chở bằng đường biển về Cửa Tranh, rồi từ Cửa Tranh lên phủ. Ai chở muối quan thì phải đứng tên, mất bao nào thì đền bao ấy, mất cả chuyến thì vào ngục. Cha lão chở bảy năm, không mất một bao.
Ông dừng lại, nhìn bàn tay mình.
– Chuyến cuối năm ấy, hai trăm bao. Đúng hôm ghe đi thì cha lão lên cơn sốt rét. Ông nằm ở nhà, run cầm cập dưới ba lớp chăn. Ông nhờ người bạn thân nhất của ông áp tải thay. Hai người lớn lên cùng một xóm, cùng gánh thuê ở bến, cùng học buôn. Người ấy tên Viên Đức Thuần.
Quyên ngồi im. Tay nàng đặt trên đùi, không động.
– Ghe đi từ Diêm Phổ lúc chiều. Sáng hôm sau người ta thấy hai người ngồi trên cồn Ông Vọ. Ông Thuần và một thằng bé chèo ghe mười sáu tuổi. Ghe chìm ở sau cồn. Hai trăm bao muối mất sạch. Ông Thuần bảo giặc bể đánh, ba chiếc thuyền buồm đen, cướp hàng, đục ghe. – Ông Tiêu nhìn nàng. – Năm ấy biển êm cả mùa. Không ai ở bến nào thấy thuyền giặc. Không ghe chài nào bị chặn. Chỉ có chiếc ghe muối quan của cha lão.
– Quan hỏi.
– Quan hỏi. Ông Thuần khai: mấy hôm trước chuyến đi, ông thấy cha lão gặp mấy người buôn lạ ở bến, nói chuyện lâu. Ông khai: cha lão dặn ông đi đường sau cồn Ông Vọ, không đi đường ngoài. Thằng bé chèo cũng khai thế. Ông chủ Tiêu dặn đi đường cồn. – Giọng ông không lên không xuống. – Quan bảo cha lão bày ra vụ cướp, bán muối quan cho buôn lậu. Cha lão nằm sốt ở nhà cả đêm ấy. Mẹ lão làm chứng. Lời vợ thì quan không nghe.
– Rồi sao?
– Đày lên đồn biên. Ba năm sau mất ở đấy. Mẹ lão đi gánh thuê ở bến, nuôi lão. Lão đi nhặt muối rơi. – Ông dừng lại. – Năm sau, mùa xuân, ông Viên Đức Thuần đóng chiếc ghe đầu tiên của mình. Ghe biển, đóng bằng gỗ sao. Rồi chiếc thứ hai. Rồi cái kho bến. Rồi Viên Ký.
Ông nhìn nàng.
– Một người gánh thuê, năm trước còn đi áp tải thay bạn, năm sau đóng được ghe gỗ sao. Tiền đâu, cháu Viên?
Quyên không trả lời. Trong đầu nàng có cả trăm câu. Ông nội nàng chết trước khi nàng sinh ra. Cha nàng chưa bao giờ kể về cồn Ông Vọ. Người bến bảo Viên Ký lên nhờ chữ tín. Ông Tước bảo ông nội nàng ai bảo gì cũng nghe, đến lúc cần thì không nghe ai.
– Đó là chuyện nhà ông kể, – nàng nói. Giọng nàng vẫn đều, nhưng nàng nghe nó xa như giọng người khác.
– Phải. – Ông Tiêu gật đầu. – Đó là bản của nhà lão. Lão có bốn mươi sáu năm để kể nó cho chính mình nghe. – Ông đứng dậy, nghĩa là xong. – Bản của nhà cháu, cháu đi mà hỏi. Người viết bản ấy còn sống.
Nàng đứng dậy theo.
– Ai?
Ông Tiêu nhìn nàng một lúc. Rồi ông nói, rất khẽ:
– Thằng bé chèo ghe năm ấy. Lão không trách nó. Nó mười sáu tuổi, người lớn bảo gì nó khai nấy. – Ông chắp tay sau lưng. – Tên nó thì lão không nhớ. Năm ấy lão mười một tuổi, lão chỉ nhớ nó gầy, nó đứng ở công đường mà chân run.
Quyên không hỏi thêm. Bến Cửa Tranh năm ấy có bao nhiêu thằng bé mười sáu tuổi chèo ghe, nàng tự nhủ. Có cả chục. Có cả trăm. Rồi nàng thôi tự nhủ, vì có một câu nói cứ trồi lên dưới mọi câu khác, như cái phao bị dìm xuống nước: cho ông nội cô hơn hai mươi năm, từ năm mười sáu tuổi. Nàng đè nó xuống, như người ta đè nắp hũ mắm lúc trời giông.
Nàng vái ông Tiêu, rồi đi xuống sân.
Bà cụ dưới giàn mướp vẫn cúi đầu. Tấm lưới trên đùi bà đã dài gần một sải. Mắt lưới vuông đều, sợi gai màu nâu nhạt. Quyên đi ngang qua, định chào như mọi lần.
Bà cụ đang thắt một mắt lưới. Ngón tay bà gầy, khô, run run vì tuổi. Nhưng ngón tay ấy không cần mắt nhìn. Nó vòng sợi gai một vòng sang trái. Rồi một vòng sang phải. Rồi luồn vòng sau xuống dưới vòng trước. Hai đầu sợi gai chĩa ra như hai cái càng ôm lấy nhau.
Quyên đứng sững lại giữa sân.
Bà cụ kéo một đầu. Mắt lưới thít chặt.
— Hết chương 25 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe