Chương 22: Hai mươi ghe
– Tôi không biết chữ, – Lái Thìn nói. – Tôi ký bằng cái gì?
– Bằng ngón tay cái, – thầy Lương nói. – Lệ cho thế.
– Lệ cho thế thì lệ ngu. – Lái Thìn nhìn tờ giấy trải trên chiếu, nhìn ô trống ở dòng đầu tiên, chỗ ghi tên người đứng đầu thương hội. – Sao không để con bé Viên đứng?
Không ai trả lời ngay. Ở sân đền Bà Cửa Sông, dưới gốc đa, hai mươi chủ ghe ngồi kín ba cái chiếu. Rằm tháng Bảy, tròn một năm từ cái đêm năm chủ ghe và một thằng bé ngồi uống chè ở đây đặt tên cho hội. Trên bàn thờ trong đền, mâm cúng cô hồn đã bày từ chiều. Ngoài sân, trẻ con đã giành nhau xong bỏng và bánh đa, giờ ngồi vây quanh xem người lớn ký giấy.
Quyên ngồi ở đầu chiếu, cạnh thầy Lương. Nàng không nói gì.
– Vì lệ thương hội bắt người đứng tên không được mang án, – thầy Lương nói, chậm rãi, như giảng bài cho học trò. – Nhà họ Viên còn đang bị cấm lĩnh dẫn. Án của ông Khoan chưa xử, người đã mất, nên án treo đấy, không ai xoá. Con Quyên đứng tên thì phủ bác ngay. Bà Đẫy đứng tên dẫn rồi, đứng thêm thương hội thì người ta bảo hội của một bà già bán mắm, phủ cũng không nhận. – Thầy nhìn Lái Thìn qua cặp kính. – Ông Thìn già nhất trong hội mà còn đi biển được, chèo cho nhà Viên từ hồi ông Viên Đức Thuần, ba mươi năm không ai kiện ông. Ông đứng.
Lái Thìn trừng mắt nhìn thầy đồ. Rồi ông ta trừng mắt nhìn Quyên.
– Cô bày ra cái này.
– Cả hội bàn, – Quyên nói. – Chú không đứng thì cháu đi hỏi ông Mõ.
Ông Lái Mõ đang ngủ gật dựa gốc đa, nghe tên mình thì mở một mắt, rồi nhắm lại.
Lái Thìn càu nhàu một câu tục, cả sân cười. Rồi ông ta chìa ngón tay cái ra, ấn xuống cái đĩa mực son thầy Lương đưa, rồi ấn vào ô trống trên giấy, mạnh đến mức thầy Lương phải giữ tờ giấy cho khỏi rách.
Từ sau hội chợ Vĩnh Ninh, chủ ghe kéo đến kho Đồng Thuyền mỗi tuần một hai người. Bốn chủ ghe ở phủ thành theo đoàn về tận Cửa Tranh để xem kho, xem sổ, xem hai mươi cái chum nước. Ba ghe chài ở Vũng Mòi, vốn chỉ đánh cá, xin vào để chở hàng lúc trái mùa. Một ông lái già ở cửa sông Lạc Trì, nghe bà lái buôn béo kể chuyện, đi ghe một ngày một đêm đến hỏi luật quỹ chìm. Đến đầu tháng Bảy, Khải đếm được hai mươi ghe. Lệ phủ cho lập thương hội từ hai mươi ghe trở lên, có lý trưởng nơi làm hàng bảo lãnh, có người đứng tên không mang án.
Lý trưởng Diêm Phổ là ông Lý Thoan. Lần này ông không ốm. Ông đóng dấu đỏ vào giấy bảo lãnh, đóng xong còn dùng tay áo lau lại cho dấu khỏi nhoè, rồi bảo Quyên: năm ngoái ông quản Cao lên nhà tôi uống rượu, tôi ốm một tháng. Năm nay ông ấy không lên nữa. Tôi khoẻ ra.
Giấy xin lập thương hội Đồng Thuyền làm hai bản. Một bản lưu ở kho hội. Một bản sẽ mang lên phủ.
Hai mươi hai tháng Bảy, mười hai ghe xuất bến lên Vĩnh Ninh, chở hàng, chở luôn tờ giấy.
Chiều hai mươi tư, Ải Bồng.
Ông Tuần sứ Lư không ngồi dưới gốc gạo. Ông đứng trên bậc đá trên cùng, có lọng che, cái bụng ưỡn ra trước. Gã Phó tuần ty mặt bủng đứng sau lưng ông, cầm một tờ giấy mới viết.
– Đoàn ghe từ mười chiếc trở lên neo ở bến trạm, – gã Phó đọc to, – mỗi ghe mỗi ngày nộp phí neo bến hai tiền, để trạm sửa bến, thuê người giữ trật tự.
Lái Thìn chửi thề ngay trên mũi Ba Cá. Cô Lài nắm chặt mái chèo.
– Bẩm ông, – Quyên nói từ dưới bến, – lệ trạm có phí ấy từ bao giờ?
– Từ hôm nay. – Ông Tuần sứ Lư phe phẩy quạt. – Bến trạm có bao nhiêu chỗ? Mười hai ghe của cô neo một lúc thì ghe khác neo đâu? Bản chức phải thuê người giữ bến. Người ta không làm không.
– Thế thì ông khám nhanh cho đoàn ghe cháu đi. Đi rồi thì không phải neo.
– Khám thì phải khám. – Ông mỉm cười. – Mười hai ghe. Phó tuần ty mới chưa quen việc. Chắc phải ba hôm.
Gã Phó tuần ty mới nhìn xuống chân. Ba hôm. Mười hai ghe. Mỗi ghe mỗi ngày hai tiền. Bảy quan hai tiền. Không bằng một phần mười số hàng hội sẽ mất nếu lỡ phiên chợ ở phủ thành. Nhưng bằng tiền gạo một tháng của cả mười hai nhà chủ ghe.
Lái Thìn nhảy lên bến, định leo lên bậc đá. Anh Cối túm tay ông ta lại.
Quyên đứng im một lúc. Rồi nàng gật đầu.
– Cháu nộp, – nàng nói. – Nhưng xin ông cho cháu biên lai.
Ông Tuần sứ Lư nhướng mày.
– Biên lai gì?
– Biên lai phí neo bến. Ghi rõ đoàn hội Đồng Thuyền, mười hai ghe, neo ba ngày, nộp bảy quan hai tiền, có dấu trạm. Hội cháu chia tiền theo khoang, ghe nào cũng phải có giấy. – Nàng nói đều, như đọc sổ. – Không có giấy thì chủ ghe về nhà, vợ người ta hỏi tiền đâu, người ta không biết nói sao.
Có tiếng ai phì cười dưới bến. Ông Tuần sứ không cười. Ông nhìn nàng một lúc lâu, rồi phẩy quạt về phía gã Phó tuần ty.
– Viết cho nó.
Gã Phó tuần ty viết. Quyên đứng ở bậc dưới, chờ. Gã viết xong, ông Tuần sứ cầm lấy, liếc qua, rồi gọi lính mang cái hộp dấu ra. Ông đóng dấu tự tay, dấu đỏ to, đóng xuống mạnh, như đóng một cái gì cho người khác xem.
– Đây. Cô cầm về cho vợ chủ ghe đọc.
Quyên nhận tờ biên lai, đọc từng chữ. Phí neo bến. Mười hai ghe. Ba ngày. Bảy quan hai tiền. Dấu trạm Ải Bồng. Chữ ký Tuần sứ Lư Công Hách. Nàng gấp nó làm tư, rồi làm tám, cho vào túi vải dầu nhỏ nàng đeo ở cổ, chỗ trước kia nàng đeo chìa khoá cái hòm gỗ.
Đêm ấy Lái Thìn uống rượu một mình ở mũi Ba Cá, chửi đến khuya. Khải ngồi cạnh chị trên mui Le Le.
– Chị Hai, – nó hỏi khẽ, – lệ không có phí ấy, sao chị lại xin giấy? Giấy ấy là giấy chứng mình nộp rồi.
– Ừ.
– Thế thì ông ấy lấy được tiền rồi.
– Ừ. – Quyên nhìn cây gạo đen sì trên vách đá. – Lệ không có phí ấy. Bây giờ có một tờ giấy, có dấu đỏ, có chữ ký của ông ấy, nói là ông ấy đã thu cái phí lệ không có.
Khải nghĩ một lúc. Rồi nó nằm xuống, nhìn lên khe trời giữa hai vách núi, khẽ cười một mình.
Phủ Vĩnh Ninh nhận giấy xin lập thương hội Đồng Thuyền mùng ba tháng Tám. Ông thông lại phòng đơn, cũng là người năm ngoái hỏi ai chép lệ cho cô. Ông đọc tờ giấy, đọc tên Lái Thìn ở dòng đầu, đọc tên hai mươi chiếc ghe, đọc dấu bảo lãnh của lý trưởng Diêm Phổ. Rồi ông nhìn Quyên đứng sau lưng Lái Thìn.
– Người đứng tên là ông này, – ông nói. – Người nói là cô.
– Bẩm, cháu là người giữ việc.
– Người giữ việc. – Ông gật gù, đặt tờ giấy vào khay. – Một tháng nữa có giấy.
Tháng Tám năm ấy, lũ đầu mùa đến muộn. Đoàn ghe về Cửa Tranh mười hai tháng Tám, trước con nước đỏ ba ngày.
Một đêm cuối tháng Tám, bà Đẫy sang gõ cửa nhà Quyên.
– Sang nhà u, – bà nói. – Có người đứng ở sân u. Nó không dám sang đây.
Nàng đi theo bà. Đêm hai mươi tám, trăng chưa lên. Sân nhà bà Đẫy phơi đầy nong tép, mùi tép khô nồng nặc trong bóng tối. Ở góc sân, chỗ cây chuối, có một người đứng. Không đèn. Áo the nâu. Khăn xếp lệch.
Chú Lộc.
Chú không bước lại gần. Nàng cũng không. Giữa hai người là ba cái nong tép.
– Chú không ở lâu, – chú nói. Giọng chú khàn, như lâu ngày không nói. – Chú chỉ nói một việc. Cháu nghe rồi cháu quên chú đi.
Nàng chờ.
– Mùng Một hằng tháng, – chú nói, – lão Cao bảo chú mở hòm bạc ở kho. Chìa hòm chú giữ một chìa, lão giữ một chìa, phải hai chìa mới mở được. Lão lấy ba mươi quan, đổi ra bạc lạng cho nhẹ. Lão đi một chiếc ghe nhỏ, hai thằng chèo người của lão, đi lúc trời tối, về lúc gà gáy. Lão bảo đi lên phía trên lấy hàng. Ba năm nay tháng nào cũng thế. – Chú dừng lại. – Chú không biết lão đi đâu. Chú không hỏi. Tháng trước chú đứng ở bến nhìn theo. Ghe lão đi ngược, không đi xuôi.
Quyên đứng im. Ba mươi quan. Mùng Một. Đi ngược sông. Bãi Lác Xanh ở phía trên Cửa Tranh bốn dặm.
– Sao chú nói với cháu?
Chú Lộc không trả lời ngay. Ngoài ngõ, có tiếng chó sủa rồi im.
– Thằng Tường, – chú nói, – hôm trước nó ghi sổ, nó hỏi chú tiền đường bãi Lác là gì. Chú bảo không biết. Nó nhìn chú. Nó nhìn chú giống anh nhìn chú hôm ở trong ngục. – Giọng chú vỡ ra một chút, rồi chú nén lại. – Chú vẫn không làm chứng được, cháu ạ. Chú chỉ nói được thế.
– Cháu biết.
– Thế thôi. Chú về.
Chú quay đi, lách qua hàng rào dâm bụt sau nhà bà Đẫy, như người quen lối. Quyên đứng nhìn theo cái bóng lom khom khuất vào ngõ tối.
– Thằng ấy, – bà Đẫy nói sau lưng nàng, – nó đứng ở sân u gần một canh giờ mới dám bảo u sang gọi con. Nó run như con chó ướt. – Bà nhổ bã trầu. – Ba năm nay u không chào nó một câu. Hôm nay u mời nó bát nước. Nó không uống.
Mùng ba tháng Chín, giấy phủ về. Thương hội Đồng Thuyền, hai mươi ghe, người đứng tên Phạm Văn Thìn, được neo bến, lập kho, nhận hàng của diêm hộ có biên lai, đi các trạm sông theo lệ.
Nhưng trước đó một tuần, cả hội đã ngồi bàn chuyến biển.
Đơn của bà lái buôn Lạc Trì ba trăm hũ, giao trước tháng Mười. Ba hợp đồng muối cho phủ thành, giao sau lũ. Cần ba trăm bao muối Diêm Phổ trước khi gió bấc về. Mùa biển êm sắp hết.
– Tháng Chín giặc thường về đảo, – ông Tước nói. – Gió bắt đầu trở. Thuyền đinh mỏng, chúng nó không ra xa.
– Thường thì thế, – Lái Thìn nói.
– Thường thì thế.
Hội định đi tám ghe, đi ban ngày, đi đủ đoàn. Tám ghe chở ba trăm bao, mỗi ghe chừng bốn chục bao, cần người đếm, cần người ghi, cần người đối dẫn với từng nhà diêm dân, cần người trả tiền đúng từng đồng mà không ai cãi.
Khải đứng dậy giữa kho.
– Em đi.
Quyên nhìn em. Nó mười hai tuổi rưỡi. Nó đã cao lên, gần bằng vai nàng. Cái áo nâu may lại từ áo của cha bây giờ chỉ dài đến đầu gối.
– Đi biển không như đi sông, – nàng nói.
– Em biết. – Nó đặt cuốn sổ của hội lên thùng gỗ giữa kho. Bìa sổ đã sờn, góc sổ đã quăn, trong ấy là hơn một năm chữ của nó. – Nhưng ba trăm bao mà không có người đếm thì về đến bến không ai biết mất bao nhiêu.
Ông Tước ngồi ở góc kho, nhai trầu. Ông nhìn thằng bé, rồi nhìn Quyên, rồi nhổ bã vào cái ống nhổ bằng mo cau.
– Ông nội nó ngày xưa, – ông nói, – mười hai tuổi cũng đã đi biển.
— Hết chương 22 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe