Chương 26: Bà cụ đan lưới
Lần thứ hai Quyên đến phố Hàng Buồm trong tháng ấy, nàng mang theo một hũ mắm ruốc tám cân và không gõ cổng nhà chính. Nàng đi vòng ra cái ngõ nhỏ bên hông, nơi có một cánh cửa tre mở thẳng vào sân, chỗ giàn mướp.
Bà cụ vẫn ngồi đấy. Sáng hai mươi hai tháng Mười, nắng nhạt, gió bấc đầu mùa thổi những chiếc lá mướp khô lăn lóc trên nền gạch. Bà cụ quấn thêm một cái khăn len màu cháo lòng, ngồi trên cái chõng tre thấp, tấm lưới trải trên đùi dài đến chấm đất.
– Cháu chào bà.
Bà cụ ngẩng lên. Đôi mắt bà đục như nước vo gạo, nhìn nàng mà như nhìn qua nàng.
– Ai đấy?
– Cháu là người hôm trước đến gặp ông Tiêu. Cháu mang biếu bà hũ mắm.
– Mắm gì?
– Mắm ruốc Diêm Phổ.
Bà cụ đặt con suốt xuống. Bà chìa tay ra, sờ vào cái hũ sành nàng đặt cạnh chõng, sờ miệng hũ, sờ nắp, sờ sợi dây lác buộc ngang.
– Mở ra cho tôi ngửi.
Quyên mở. Bà cụ cúi xuống, ngửi lâu, rồi gật đầu.
– Ruốc đầu mùa. Làm bằng muối nhà. – Bà ngồi thẳng lại. – Ngày xưa tôi cũng làm mắm ruốc. Ông nhà tôi thích ăn với thịt ba chỉ luộc.
Quyên ngồi xuống bậc gạch cạnh chõng, chỗ ánh nắng lọt qua giàn mướp tàn. Từ hiên nhà chính, có người nhìn ra. Người nhà. Rồi một lúc sau, ông Tiêu Bá Lâm đi ra hiên, đứng nhìn. Ông không xuống sân. Ông không bảo nàng đi. Ông nhìn một lúc, rồi quay vào.
Hôm ấy bà cụ không nói gì về cái nút. Bà nói chuyện mắm. Bà hỏi nàng ruốc Vũng Mòi năm nay có nhiều không, muối Diêm Phổ năm nay có mặn không, đàn bà ở đấy còn làm mắm theo kiểu ba bát ruốc một bát muối không. Bà kể ngày bà còn trẻ, bà là con gái làng chài ở mũi Rồng, lấy chồng về Cửa Tranh năm mười bảy tuổi. Bà kể chồng bà đi biển giỏi, đan lưới giỏi, buộc gì cũng chặt. Bà kể đến đấy thì thôi, cầm con suốt lên đan tiếp.
Quyên ngồi đến giờ Tỵ thì xin về. Bà cụ không giữ.
Lần thứ ba, nàng mang theo một bó sợi gai mua ở chợ, loại sợi tốt nhất của làng Hạ.
– Sợi này của ai? – bà cụ hỏi, ngón tay vê đầu sợi.
– Của cháu. Cháu mua biếu bà đan lưới.
– Sợi làng Hạ. Đắt đấy. – Bà cụ vê thêm một lúc. – Cô cho tôi sợi tốt thế này, tôi đan lưới cho ai?
– Bà đan cho ai cũng được.
Bà cụ cười. Cái cười móm, ngắn.
– Bốn mươi năm nay tôi đan lưới cho ai cũng được. – Bà cầm con suốt lên, quấn sợi mới vào. – Không ai dùng. Thằng Lâm nó bán lưới của tôi cho nhà chài, lấy tiền mua thịt cho tôi ăn. Tôi biết. Tôi giả vờ không biết.
Lần thứ ba, nàng hỏi.
– Bà ơi. Cái nút bà thắt mắt lưới, ai dạy bà?
Bà cụ dừng tay. Con suốt gỗ nằm yên trong lòng bàn tay bà. Bà không ngẩng lên.
– Cô hỏi làm gì?
– Nhà cháu cũng buộc nút ấy. Bao muối nào nhà cháu cũng buộc nút ấy. Cha cháu dạy cháu năm cháu bảy tuổi.
Bà cụ ngồi im rất lâu. Gió bấc thổi qua giàn mướp, mấy chiếc lá cuối cùng rụng xuống tấm lưới.
– Cô là con cháu nhà Viên, – bà nói. Không phải hỏi.
– Vâng.
– Tôi biết. – Bà cụ lại cầm con suốt lên, nhưng không đan. – Hôm cô đến uống trà năm ngoái, cô đi qua đây, tôi nghe tiếng chân cô. Người nhà Viên đi như thế. Đi nhanh, đặt gót trước. Ông Thuần cũng đi như thế.
Quyên không nói được gì.
– Nút ấy là của chồng tôi, – bà cụ nói.
Bà nói câu ấy chậm, rõ, như người ta nói tên mình.
– Ông ấy nghĩ ra nó năm ông ấy hai mươi lăm tuổi, năm đầu nhận chở muối quan. Ty Diêm chính bắt bao muối quan phải buộc chặt, niêm dấu, đi đường biển, đi đường sông không được bung. Nhưng đến trạm khám thì quan bắt mở bao, xiên muối, mở xong lại buộc. Buộc chặt thì mở lâu, quan bực, ghe phải chờ. Buộc lỏng thì đi đường bung. – Bà cụ giơ hai bàn tay lên, run run, làm động tác vòng dây trong không khí. – Ông ấy ngồi ở chỗ này, chỗ cô đang ngồi, ba đêm liền, thử từng cái nút. Đêm thứ ba ông ấy gọi tôi dậy, bảo bà xem này. Vòng thứ nhất là cái càng trái. Vòng thứ hai là cái càng phải. Rồi cho nó ôm lấy nhau. Kéo đầu này thì mở. Kéo đầu kia thì chặt.
Quyên nhắm mắt. Ván cầu bến Viên Ký. Gió chướng. Bàn tay cha đặt lên tay nàng. Người buôn phải biết đầu nào là đầu nào.
– Ông ấy bảo, – bà cụ nói tiếp, – kiểm thì mở nhanh, đi đường thì chặt. Quan khám xong, ông buộc lại trong một nhịp thở. Quan ở trạm Cửa Tranh khen, bảo nút này hay, bao muối quan nào cũng nên buộc thế. – Bà cụ cười khẽ. – Ông ấy sướng lắm. Về nhà kể với tôi cả buổi.
– Thế sao… – Quyên mở mắt. Giọng nàng khàn. – Thế sao nhà cháu lại buộc nút ấy?
– Ông nhà tôi dạy anh Thuần. – Bà cụ nói như kể chuyện bình thường. – Hai người chơi với nhau từ bé, như anh em. Anh Thuần học nhanh lắm, buộc còn nhanh hơn ông nhà tôi. Ông nhà tôi bảo, thằng Thuần nó khéo tay hơn tôi, sau này nó làm được việc lớn.
Bà cụ cầm sợi gai làng Hạ lên, thắt một mắt lưới. Vòng trái. Vòng phải. Luồn ngược. Kéo.
– Sau khi ông nhà tôi đi đày, – bà nói, – tôi gánh thuê ở bến. Bến nhà Viên. Mười mấy năm. Rồi thằng Lâm lớn, nó không cho tôi gánh nữa. Mười mấy năm ấy, ngày nào tôi cũng khiêng bao muối nhà Viên. Bao nào cũng buộc nút của ông nhà tôi.
Quyên nhìn đôi bàn tay bà cụ. Đôi bàn tay ấy đã khiêng những bao muối ấy. Đã nhìn thấy cái nút ấy mỗi sáng. Đã không nói gì.
– Bà có giận không? – nàng hỏi. Câu hỏi ra khỏi miệng nàng nhỏ như tiếng một đứa trẻ.
Bà cụ nghĩ một lúc. Rồi bà lắc đầu.
– Lúc đầu thì giận. Giận lắm. Có hôm tôi đứng trên ván cầu, muốn ném cả bao muối xuống sông. – Bà cụ thắt thêm một mắt lưới. – Rồi tôi nghĩ, ông Thuần làm gì thì làm, mà cái nút ông ấy vẫn buộc. Ông ấy có thể buộc nút khác. Nút thòng lọng, nút đơn, nút gì chả được. Ông ấy vẫn buộc nút của ông nhà tôi, buộc đến lúc chết. Con cháu ông ấy buộc đến bây giờ. Tôi nghĩ, ông ấy nhớ. Không nhớ thì buộc nút khác.
Bà cụ đặt con suốt xuống.
– Tôi già rồi, cô ạ. Oán thì mỏi tay.
Quyên ngồi im. Ở hiên nhà chính, nàng biết có người đang đứng nghe. Nàng không quay lại.
– Bà ơi, – nàng nói. – Đêm ông nhà bà đi chuyến muối quan cuối cùng ấy…
– Ông ấy không đi. – Giọng bà cụ lần đầu tiên cứng lại. – Ông ấy nằm sốt cạnh tôi cả đêm. Tôi đắp cho ông ấy ba cái chăn, ông ấy vẫn run. Đến sáng ông ấy mới ngủ được. Thì người ta đến gõ cửa. – Bà dừng lại. – Tôi nói với quan như thế. Quan bảo lời vợ thì vợ nào chả nói thế.
– Bà biết ông nhà bà không làm.
– Tôi biết. – Bà cụ gật đầu. – Biết thì có làm gì được đâu. Tôi không có giấy. Tôi không có người làm chứng. Người làm chứng thì người ta làm chứng cho ông Thuần.
Bà cụ cầm tay Quyên. Bàn tay bà lạnh, khô, nhưng nắm chặt hơn nàng tưởng.
– Cô buộc cho tôi xem một cái.
Quyên cầm sợi gai. Ngón tay nàng run, nhưng ngón tay nàng biết đường. Vòng trái. Vòng phải. Luồn vòng sau xuống dưới vòng trước. Rồi cho nó ôm lấy nhau.
Bà cụ sờ cái nút. Sờ từng vòng. Sờ hai đầu sợi chĩa ra.
– Vòng sau luồn ngược, – bà nói, như tự nói với mình. – Đúng như ông ấy.
Rồi bà cụ khóc. Bà khóc không ra tiếng, như người đã quên cách khóc ra tiếng từ lâu, chỉ có nước mắt chảy xuống những nếp nhăn, rơi xuống tấm lưới.
Quyên về Diêm Phổ chiều hôm ấy, đi bộ chín dặm theo bờ cát mà không nhớ đã đi qua những chỗ nào.
Đêm ấy nàng không ngủ. Nàng ngồi ở bậc cửa gian nhà rạ, nhìn ra ruộng muối. Trăng hai mươi hai chưa lên. Ruộng muối chỉ sáng mờ mờ dưới sao, những ô vuông xám bạc nối nhau ra tận bãi. Không còn là những tấm gương như cái đêm trăng mười ba mùa xuân năm ngoái, đêm nàng nằm trong buồng của Chắt nghe cô bày chuyện mắm ruốc.
Có hai bản của một chuyện. Bản của nhà Tiêu: ông nội nàng bán muối quan, đổ tội cho bạn, lấy tiền đóng ghe. Bản của nhà Viên: không ai kể. Cha nàng chưa bao giờ kể. Người bến chỉ kể Viên Ký lên nhờ chữ tín.
Và một cái nút. Cái nút cha dạy nàng trên ván cầu. Cái nút nàng buộc trên mọi bao muối, mọi hũ mắm, mọi gói lá chuối ở sạp chợ. Cái nút nàng dạy cho Kiên trên bậc đá dưới mưa. Cái nút nàng buộc lại trên bó vàng mã trước mộ cha, để chú Lộc nhìn.
Không phải của nhà nàng.
Khải ra ngồi cạnh chị. Nó không hỏi. Hai chị em ngồi im đến khi sương xuống ướt vai áo.
Sáng hôm sau, lần đầu tiên từ khi xuống Diêm Phổ, Quyên không lên trấn. Nàng ra ruộng muối, đứng nhìn Chắt cào. Đường cào dài, đều, không đứt nhịp. Đến trưa Chắt dựng cào, lội ra.
– Chị làm sao thế?
– Chị đang nghĩ.
– Nghĩ gì mà mặt như người mất ghe?
Quyên không trả lời. Chắt nhìn nàng một lúc, rồi đưa cho nàng cái cào.
– Thì cào đi. Cào thì không nghĩ được.
Nàng cào đến chiều.
Hai hôm sau, Hoằng xuống Diêm Phổ. Hắn đi ngựa, lần đầu tiên nàng thấy hắn cưỡi ngựa. Hắn không xuống ngựa. Hắn dừng ở đầu ngõ nhà nàng, nói từ trên lưng ngựa.
– Bà nội tôi bảo cô đến chơi thì cứ đến. Không phải đi cửa ngõ bên.
– Cậu nghe hết rồi.
– Tôi nghe hết. – Hắn nhìn ruộng muối. – Cha tôi cũng nghe. Cha tôi ngồi trong nhà, không ra.
Hắn ghìm cương con ngựa đang muốn quay đi.
– Còn một việc. Tôi xuống vì việc ấy. – Hắn lấy trong ngực áo ra một tờ giấy chép tay. – Hôm qua Tuần sứ Lư dâng đơn lên phủ, kiện Phó tuần ty trạm Đầu Nguồn Phùng Tử Kiên. Tội bỏ trạm hai mươi hai ngày không phép. Tội nhận lễ của chủ hàng qua trạm. Có lính trạm Ải Bồng làm chứng.
Quyên cầm tờ giấy.
– Lễ gì?
Hoằng nhìn nàng.
– Một hũ mắm ruốc. Đặt trên bậc đá trạm Ải Bồng, sáng hai mươi hai tháng Chín năm ngoái.
— Hết chương 26 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe