Chương 16: Tết muộn
– Để tôi đốt lại cái kho của nó, – Lái Thìn nói. – Một mồi lửa thôi. Kho nó lợp ngói, cháy lâu hơn.
Không ai cười. Sáng hai mươi bốn tháng Chạp, cả hội Đồng Thuyền ngồi trên sân đền Bà, cạnh cái khung tre cháy đen còn bốc khói. Mùi quế cháy vẫn lẩn khuất trong không khí, ngọt và cay. Năm chủ ghe, bà Đẫy, ông Tước, Quyên, Khải. Và thằng bé đầu trọc ngồi co ro ở bậc đền, hai tay ôm đầu gối, mặt sưng húp vì khóc.
Thằng bé tên Rơm. Mười ba tuổi. Không cha không mẹ, ngủ ở gầm chợ cá, ai thuê gì làm nấy. Cả đêm qua bà Đẫy giữ nó trong nhà, cho nó ăn một bát cháo, không đánh nó cái nào. Sáng ra nó kể lại hết, kể đi kể lại ba lần, lần nào cũng như lần nào. Hôm hai mươi hai, ở cửa chợ cá, một ông áo lam gọi nó lại, cho nó năm tiền, đưa nó một hũ dầu lạc với một nắm bùi nhùi, chỉ cho nó cái kho lá ở bến. Ông bảo chờ đêm hai mươi ba, người ta cúng ông Táo xong ngủ hết thì làm. Ông bảo cháy cái mái thôi, không ai chết đâu. Ông cười suốt lúc nói.
– Mặt ông ấy thế nào? – Quyên hỏi lần thứ ba.
– Tròn. Trắng. Có râu lún phún. – Thằng Rơm nghĩ. – Tay cầm quạt.
– Mày có nhận ra nếu gặp lại không?
Thằng Rơm gật. Rồi nó lắc. Rồi nó lại gật.
Lái Thìn đập tay xuống bậc đá.
– Đấy! Còn gì nữa mà hỏi. Lão Cao. Thằng quản sự của phường. Cả Cửa Tranh này có mấy thằng áo lam cầm quạt hay cười?
– Có nhiều, – ông Tước nói.
– Nhiều cái gì!
– Chợ Tết, đứa nào có tiền cũng sắm áo lam. Quạt thì ai chả cầm được.
Lái Thìn quay sang ông Tước, định cãi, rồi thôi. Ông ta biết ông Tước nói đúng.
Quyên ngồi im. Nàng đã nghĩ suốt đêm qua, từ lúc đứng giữa đống tro mà không đếm được. Nghĩ đến lúc trời sáng thì nàng đếm được rồi. Mất ba mươi mốt quan hàng. Quỹ chìm có bảy quan. Còn hai mươi tư quan, chia ra sáu ghe, mỗi ghe gần bốn quan. Ghe nghèo nhất là chiếc Mẹ Con, bốn quan là cả vốn của cô Lài.
Và nàng nghĩ đến chuyện kiện.
– Mình đem thằng Rơm lên trạm tuần, – cô Lài nói. – Bắt nó khai trước quan.
– Rồi sao? – Quyên hỏi.
– Thì quan bắt lão Cao.
– Thằng Rơm không biết tên. Không nhận chắc mặt. Một đứa trẻ mười ba tuổi, ngủ gầm chợ. Ông Cao có mười người làm chứng là đêm ấy ông ngồi uống rượu ở nhà. – Quyên nhìn thằng bé. – Còn thằng Rơm thì tự nhận đã đốt kho. Đốt kho người ta, tội ấy không nhẹ.
Thằng Rơm ngẩng lên, mặt trắng bệch.
– Cô ơi… con không…
– Chị không đem em lên trạm, – Quyên nói. – Đừng sợ.
Cả hội nhìn nàng.
– Thế thì làm gì? – Lái Thìn gắt. – Để nó đốt lần nữa à?
– Mình không kiện bây giờ, – Quyên nói chậm. – Kiện bây giờ thì thua. Thua thì người ta biết lần sau cứ đốt, đốt rồi lên trạm cũng chẳng sao. Thằng Rơm khai thế nào thì mình nhớ thế. Thằng Rơm ở lại với hội. U Đẫy nuôi nó. Nó chèo ghe, nó gánh hàng, nó có cơm ăn. Ngày nào mình đủ chứng, nó đứng ra.
– Ngày nào là ngày nào?
– Chưa biết.
Lái Thìn nhổ một bãi nước bọt, đứng dậy, đi ra mép bến. Ông ta đứng đó, quay lưng về phía mọi người, hết một miếng trầu.
Bà Đẫy kéo thằng Rơm lại gần, lấy vạt áo lau mặt cho nó.
– Từ nay ngủ ở nhà u. Gầm chợ lạnh.
Thằng Rơm nhìn bà, rồi oà lên khóc lần nữa, to hơn tất cả những lần trước.
Quyên vẫn lên trạm tuần Cửa Tranh trình báo vụ cháy. Ông Cai trạm nghe, ghi vào sổ mấy dòng, rồi bảo đêm ông Táo nhà nào cũng đốt vàng mã, tàn lửa bay vào mái lá thì cháy, chuyện thường. Nàng không nói đến thằng Rơm. Ông Cai trạm cũng không hỏi. Biên bản ghi: cháy không rõ nguyên nhân.
Rồi họ dựng lại kho.
Không có tiền thuê thợ. Không có tiền mua ngói. Nhưng sáng hai mươi lăm, khi Quyên ra bến, đã có người ở đấy. Ông Hến và mười mấy người đàn ông Diêm Phổ, gánh lá dừa nước từ đêm. Bố thằng Đinh và mấy nhà chài Vũng Mòi chở lên một ghe tre. Ông lò gốm Gò Đỏ gửi lên hai chục cái chum to, bảo để nước trong kho, cháy thì có nước mà dập. Đàn bà ở bến cá nấu cơm. Thầy Lương cho học trò nghỉ ba buổi, dắt cả lũ ra bến khiêng nứa.
Năm ngày, cái kho mới dựng xong. To hơn cái cũ. Vách nứa trát đất sét pha rơm, không bắt lửa nhanh như nứa trần. Mái vẫn lá dừa, nhưng Lái Thìn bắt đặt hai mươi cái chum nước dọc theo bốn vách, và chia phiên canh đêm cho cả hội, mỗi đêm hai người, cầm thanh la.
Hai mươi chín Tết, kho có lại hàng. Không đủ như trước. Nhưng có.
Tết năm ấy nhà Quyên không có bánh chưng tự gói. Bà Đẫy gói, cho sang hai cái. Khải dán câu đối thầy Lương viết lên cửa, chữ to đỏ chót, trông chẳng hợp gì với gian nhà lá. Đêm giao thừa, hai chị em ra đền Bà thắp hương. Đền đông nghẹt người. Quyên đứng trong khói hương, nhìn tượng Bà sơn son bong tróc, không khấn gì. Nàng không biết khấn gì.
Sáng mùng một, Khải được bà Đẫy mừng tuổi năm đồng, ông Tước mừng tuổi năm đồng, Lái Thìn ghé qua, đứng ở cửa không vào, dúi cho nó mười đồng rồi đi. Thằng bé ghi cả vào sổ.
Mùng bốn Tết, Phó Phùng đến.
Lần này anh ta không đứng ở đầu ngõ. Anh ta đến thẳng cửa, gõ ba tiếng. Áo the xám, khăn đen, tay xách một gói giấy. Khải ra mở cửa, nhìn thấy anh ta thì đứng im, rồi quay vào gọi chị.
Gói giấy là một bộ bút lông, bốn cây, cán trúc, và một thỏi mực tàu nhỏ. Anh ta đưa cho Khải.
– Quà Tết.
Khải nhìn bộ bút, nhìn chị. Quyên gật. Thằng bé nhận lấy, cúi đầu cảm ơn, rồi lẳng lặng chui vào trong nhà, ngồi ngắm bộ bút.
– Tôi về quê ăn Tết, – Phó Phùng nói. – Làng Thượng Xá, cách đây một ngày đi bộ. Mai tôi lên lại Ải Bồng.
– Thầy đi đường bộ?
– Đi bộ đến Vĩnh Lạc, rồi đi nhờ ghe.
Hai người đứng ở cửa. Trời mùng bốn hửng nắng, gió bấc đã yếu, có mùi đất ẩm của mùa xuân.
– Cô đi với tôi ra bến được không? – anh ta hỏi.
Họ đi dọc bến cá. Bến vắng, ghe nằm im, người còn ăn Tết. Đi qua cái kho mới, anh ta dừng lại, nhìn hai mươi cái chum nước, nhìn vách đất.
– Tôi nghe chuyện rồi, – anh ta nói. – Ở trạm tuần người ta kể.
– Thầy nghe người ta kể là cháy không rõ nguyên nhân.
– Tôi nghe người ta kể có một thằng bé.
Quyên dừng chân. Nàng nhìn anh ta.
– Ai kể?
– Cửa Tranh nhỏ lắm. – Anh ta nhìn ra sông. – Cô không đem nó lên trạm. Đúng. Một đứa trẻ khai một mình thì không đứng được. Người ta sẽ làm nó sợ, rồi nó khai khác. Cô giữ nó lại là đúng. Nhưng phải giữ cho kỹ.
– Tôi biết.
Họ đi tiếp. Gió thổi tung vạt áo. Đi đến mỏm đá cuối bến, chỗ nhìn ra được cửa biển, anh ta dừng lại.
– Cô Viên. Tôi đã hứa với cô là sau Tết.
– Vâng.
– Tôi muốn nói. Nhưng tôi không muốn nói ở đây.
Nàng quay sang nhìn anh ta.
– Đầu tháng Hai, – anh ta nói, – phủ phái tôi xuống trạm tuần Cửa Tranh hai tháng. Có người dâng đơn kêu trạm này thu sai, phủ bảo tôi xuống xem sổ. – Anh ta dừng lại. – Ở trạm tuần Cửa Tranh có một cái hòm lưu. Biên bản, sổ khám, giấy tờ của trạm từ mười năm nay đều cất ở đấy.
Quyên không nói gì. Nàng nghe tim mình đập.
– Những gì tôi nói, – anh ta tiếp, – cô sẽ phải tin lời tôi. Tôi không muốn thế. Tôi là người đếm bao muối của cha cô. Lời của tôi, cô không có lý do gì để tin. – Anh ta nhìn nàng thẳng. – Tôi muốn cô xem bằng mắt mình.
Họ đứng ở mỏm đá rất lâu. Ngoài cửa biển, những con sóng bạc đầu nối nhau chạy vào. Xa hơn, ở chân trời, có một chấm đen nhỏ. Đảo Cồn Rắn.
– Đầu tháng Hai, – nàng nói.
– Đầu tháng Hai.
Anh ta về hôm sau. Nàng không ra tiễn.
Tháng Giêng năm Diên Bình thứ tám, mọi thứ đổi khác ở Diêm Phổ.
Khế vay của phường Thịnh Xương hết hạn cuối vụ muối năm ngoái. Nhà nào đã trả nợ thì không còn ràng buộc. Phần lớn đã trả, nhờ tiền làm mắm, nhờ một phần mười tiền muối phường trả lại. Lần đầu tiên sau ba năm, diêm dân Diêm Phổ được bán muối cho người mình muốn.
Nhưng muốn mua muối chở đi buôn thì phải có diêm dẫn. Nhà họ Viên còn bị cấm sáu năm nữa.
– Thì đứng tên u, – bà Đẫy nói, trong lúc cả hội đang bàn ở kho mới. – Ty Diêm chính có cấm u đâu.
– U ơi, – Quyên nói. – Dẫn đứng tên ai thì người ấy chịu. Có chuyện gì thì quan bắt u chứ không bắt con.
– Thì bắt. – Bà Đẫy nhai trầu. – U năm mươi chín tuổi rồi, bắt u đi đâu? Bắt u ngồi tù thì u ngồi tù, trong tù có cơm.
– U…
– Con nghe u nói. – Bà Đẫy nhổ bã trầu vào cái ống nhổ. – Thằng Tý nhà u chết ngoài cửa biển. Người ta tìm được ghe, không tìm được nó. Từ ngày ấy u ngồi bán mắm ở lối đi, không làm gì được cho ai. Bây giờ có một việc u làm được. Con đừng lấy của u.
Không ai nói gì nữa.
Ngày hai mươi tháng Giêng, sở Diêm chính ở Cửa Tranh cấp một tờ diêm dẫn đứng tên Lê Thị Đẫy, quả phụ, trú ngõ Cá Đối. Dẫn cho mua và chở ba trăm bao muối trong ba tháng, từ Diêm Phổ về Cửa Tranh và lên nguồn. Bà Đẫy cầm tờ giấy có dấu đỏ, không biết chữ, nhưng cứ cầm mãi, rồi mới đưa cho Khải cất.
Tin Đồng Thuyền có dẫn muối lan khắp bến cá. Chủ ghe nhỏ kéo đến kho mới xin vào hội. Người thì vì nghe chuyện Lái Thìn được chia đúng từng đồng. Người thì vì nghe chuyện cái đấu ở đền Bà. Người thì vì nghe chuyện anh Cối bơi ra giữa ghềnh. Có người chỉ vì thấy hai mươi cái chum nước xếp quanh kho, bảo hội này biết giữ của.
Cuối tháng Giêng, Đồng Thuyền có mười hai ghe.
Chuyến muối biển đầu tiên định vào mùng ba tháng Hai. Bốn ghe đi đường biển từ Cửa Tranh xuống Diêm Phổ, chở muối về. Le Le không đi, vì Le Le là ghe sông, đáy nông. Lái Thìn đi đầu với chiếc Ba Cá, anh Cối với chiếc Cái Nồi, thêm hai ghe mới của hội là chiếc Ông Hai và chiếc Mắt Xanh, đều là ghe biển cũ. Sẻ xin đi theo Ba Cá cho biết đường biển. Ông Tước gật. Quyên cũng đi trên Ba Cá, vì chuyến đầu phải có người cầm dẫn xuống tận ruộng muối mà cân, mà trả tiền.
Chiều mùng hai, cả hội ra bến tiễn. Bốn chiếc ghe biển neo sẵn, buồm cuộn, khoang trống.
Ông Tước không xuống ghe. Ông đứng trên mỏm đá cuối bến, nơi Quyên đã đứng với Phó Phùng hôm mùng bốn Tết, nhìn ra cửa biển. Gió đã đổi. Gió bấc tắt, gió nồm đầu mùa thổi nhẹ từ phía nam, biển êm như mặt ao.
Quyên đi đến bên ông.
– Ông nhìn gì thế?
Ông Tước không trả lời ngay. Ông nheo mắt nhìn chấm đen nơi chân trời. Hôm nay nó rõ hơn hôm mùng bốn. Như ai vừa đặt nó gần lại.
– Biển êm thế này, – ông nói, – thì Cồn Rắn ra rồi.
— Hết chương 16 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe