Chương 1: Bánh bò màu xanh
Lần thứ hai bàn chân thằng Lúa gác lên cổ mình lúc năm giờ bốn mươi sáng, Sa biết chắc một điều: tối hôm qua cô đã chết.
Cô nằm im. Bàn chân con nhỏ xíu, mát lạnh, mấy ngón chân co lại như con tôm đất. Ngoài vách bè, mưa lắc rắc trên mái tôn. Gió chướng thổi từ phía biển vô, kéo mấy sợi dây neo kêu cót két theo một nhịp đều đều mà cô đã nghe suốt ba mươi bốn năm sống trên đầm Bần Sẻ. Mọi thứ y như một buổi sáng thứ Ba đầu tháng Mười Một. Chỉ có điều cô nhớ rõ, rõ hơn bất cứ giấc mơ nào, cái lạnh của nước biển tràn vô miệng mình lúc chín giờ bốn mươi bảy phút tối thứ Năm.
Cô đưa tay lên mũi. Ngón tay dính máu.
Sa ngồi dậy thật chậm để khỏi làm con thức. Cô lấy vạt áo chặn mũi, ngửa đầu nhìn lên mái. Cái đồng hồ đeo tay để trên gối hiện con số xanh lè: năm giờ bốn mươi mốt. Thứ Ba, ngày ba tháng Mười Một năm 2071. Cô nhìn con số ấy lâu tới mức nó nhảy sang năm giờ bốn mươi hai.
Tối thứ Năm. Cô nhớ từng phút của tối thứ Năm.
Chín giờ bốn mươi, phòng điều khiển tầng ba của Trạm Ba sáng đèn trắng, gió quất mưa vô kính như ai đứng ngoài tạt từng gáo nước. Cái loa trên trần kêu "tít tít" hai tiếng, rồi giọng đàn bà tổng hợp của hệ thống điều phối đê đọc đều đều: "Cửa hầm B mở. Cửa hầm B mở." Thằng Quới đang nhai dở ổ bánh mì, ngẩng lên than: "Báo sai hoài, chị Sa. Tuần rồi nó cũng la vậy." Cô vẫn đứng dậy. Hầm B là chỗ ông già Lạp thuê để làm cái thí nghiệm gì đó mà cả trạm không ai hiểu. Nếu cửa hầm mở thật trong đêm bão, nước mưa sẽ tràn xuống làm hư máy của ông.
Cô xuống cầu thang sắt. Hầm B tối, chỉ có ánh đèn xanh của một cái tủ sắt xám chớp chớp ở góc, và cái vòng. Một cái vòng kim loại lớn nằm ngang giữa hầm, rộng bằng cả căn phòng ngủ, kêu ù ù trầm trầm như tiếng tổ ong trong vách. Cửa hầm đóng chặt. Không có ai. Cô bước vô giữa vòng để coi cái bảng đồng hồ gắn trên giá sắt, vì nó đang nháy đèn vàng. Rồi mặt đất dưới chân rùng một cái thật mạnh.
Cô nghe tiếng sắt rên ở phía tấm màng số bốn mươi bảy, ngay ngoài vách trạm. Cô nghe tiếng nước. Không phải tiếng mưa, mà là tiếng một con sông bị ai mở cửa. Cánh cửa thép của hành lang bơm cũ ở cuối hầm bật tung. Nước đen ập vô, đẩy cô ngã ngửa vô cái giá sắt giữa vòng. Trước khi miệng ngập nước, cô kịp nghĩ tới đúng một chuyện: phía sau tấm bốn mươi bảy là đầm Bần Sẻ. Trên đầm Bần Sẻ, trong căn nhà bè sơn xanh thứ ba tính từ cầu sắt, ba cô với thằng Lúa đang ngủ.
Rồi cô mở mắt, và bàn chân con gác lên cổ.
Máu cam đã ngừng. Sa đứng dậy, ra mép bè, vốc nước mưa trong cái lu đất rửa mặt. Nước mưa lạnh, có mùi tôn. Đầm Bần Sẻ còn tối, chỉ có mấy ngọn đèn vàng trên mấy căn bè dậy sớm, lắc lư theo sóng như những con đom đóm say. Bên kia đầm, con đê mềm Vàm Lở chạy dài thành một vệt đen, trên mặt đê có hàng đèn đỏ nhỏ của mấy cái phao cảm biến. Người ta gọi hệ điều phối đê là RÁI, vì mấy cái phao ấy nhô lên khỏi mặt nước giống y đầu con rái cá. Chính cô cũng gọi vậy. Cô làm vận hành ca đêm ở Trạm Ba sáu năm nay.
Nếu đây là một giấc mơ, thì nó phải có chỗ sai.
Cô nhớ buổi sáng thứ Ba lần trước. Lần trước, cô ngủ tới gần sáu giờ, rồi cái loa trên cột đèn đầu cầu sắt bật bản tin thủy văn, giọng của RÁI, và cô lầu bầu vì nó làm thằng Lúa thức. Lần trước, dì Tư Mến chèo xuồng cháo lòng ngang qua, cụng vô cọc bè cái cốp, rồi chửi một câu vì rớt cái vá xuống đầm. Lần trước, thằng Lúa ngồi dậy, chưa mở mắt đã đòi ăn bánh bò.
Cô nhìn đồng hồ. Năm giờ năm mươi mốt.
Cô đứng sát vách, nín thở, lẩm bẩm theo trí nhớ: "Bản tin thủy văn sáng thứ Ba, ngày ba tháng Mười Một…"
Loa đầu cầu sắt rè lên một tiếng. Năm giờ năm mươi hai.
– Bản tin thủy văn sáng thứ Ba, ngày ba tháng Mười Một. – Giọng RÁI ngọt, rõ, không vội. – Áp thấp nhiệt đới trên biển phía đông đang di chuyển theo hướng tây tây nam. Triều cường đạt đỉnh vào tối thứ Năm, dự báo hai mét ba mươi mốt tại thước đo Vàm Lở, dưới mức thiết kế của đê. Bà con yên tâm sinh hoạt bình thường, theo dõi các bản tin tiếp theo.
Hai mét ba mươi mốt. Cô nhớ con số ấy vì lần trước, nghe xong, cô còn cười với ba: "Đê thiết kế hai mét sáu, ba lo chi." Lần này cô không cười. Cô cắn môi tới mức thấy vị tanh, không biết của máu cam hay của môi.
Trong buồng, ba cô trở mình. Rồi có tiếng dép, tiếng ông ho khan. Ông Lương Văn Đước bảy mươi mốt tuổi, người khô như cây đước bãi, thức dậy giờ này đã bốn chục năm, từ hồi còn giữ cống ngoài rạch Cái Keo. Ông bước ra hiên, tay cầm cái tay quay sắt sơn xanh đã tróc gần hết sơn, thứ mà ông treo trên vách bè từ hồi cô còn nhỏ và gọi là đồ kỷ niệm. Ông ngồi xuống cái ghế đẩu, lấy giẻ thấm dầu chùi từng khấc răng.
– Trời chuyển rồi. – Ông nói, không nhìn cô. – Gió này là gió bão. Cái máy nó nói gì thì nói.
– Ba chùi cái đó chi vậy ba?
– Thì chùi. Sắt mà không chùi là nó chết.
Lần trước ông cũng nói câu đó. Sa nhớ vì lần trước cô đã cằn nhằn: "Đồ bỏ mà ba giữ hoài." Lần này cô đứng nhìn bàn tay ba, gân xanh nổi trên mu như rễ cây, xoay cái tay quay một vòng, rồi một vòng nữa. Cô không nói được gì.
Sáu giờ mười. Cô đếm từng giây.
Cốp.
Xuồng của dì Tư Mến cụng vô cọc bè, đúng cái cọc thứ hai từ đầu bè, đúng chỗ có miếng lốp xe cũ buộc làm đệm. Cái nồi cháo lòng trên xuồng sóng sánh, khói bốc trắng. Cái vá nhôm tuột khỏi tay dì, rơi tõm xuống nước.
– Trời đất quỷ thần ơi! – Dì Tư la. – Cái vá thứ ba trong tháng rồi đó! Con Sa, cháo lòng nè, ăn hông con?
Sa đứng đó, hai tay nắm chặt cây cột hiên, nhìn bà già tóc bạc lom khom cúi xuống mép xuồng mò cái vá. Cái vá nổi lên một chút rồi chìm, y như lần trước. Dì Tư chửi thêm một câu, y như lần trước.
– Con… cho con hai tô, dì Tư.
– Hai tô hả? Thằng Lúa nó có ăn lòng đâu.
– Dạ, con với ba con.
Cô lấy tiền trong túi áo đưa dì một trăm hai chục nghìn. Hai tay cô run tới mức tờ tiền rơi xuống sàn bè, dì Tư phải với lấy. Dì nhìn cô, nheo mắt.
– Bộ bệnh hả con? Mặt xanh như tàu lá.
– Dạ, con mới chảy máu cam.
– Trời chuyển là vậy đó. Uống miếng nước chanh muối là hết.
Dì múc cháo bằng cái vá dự phòng, rồi chèo đi, cái mái chèo khua nước lóc bóc. Tiếng rao "Cháo lòng nè" của dì kéo dài, xa dần về phía chợ nổi. Lần trước cô không để ý dì rao cái giọng gì. Bây giờ cô nghe ra giọng dì có một chỗ khàn ở chữ "lòng", như một cái bậc thang bị gãy. Cô tự hỏi tối thứ Năm, lúc nước tràn vô đầm, dì Tư đang ở đâu.
Trong buồng, thằng Lúa ngồi dậy. Nó bảy tuổi, tóc dựng như ổ chim, ôm khư khư con rái cá bông màu nâu mà ở đầm ai cũng có một con, do bên đê phát cho con nít hồi ba năm trước. Thằng Lúa đặt tên nó là Rái Mập. Mắt còn nhắm, nó đã nói:
– Má, hôm nay má mua bánh bò lá dứa nghen. Màu xanh á. Không phải màu trắng.
Sa đi vô, quỳ xuống mép chiếu, ôm con. Cô ôm chặt quá, thằng Lúa kêu "Má đè con" rồi cựa ra. Người nó ấm, có mùi mồ hôi con nít lẫn mùi dầu gió ông ngoại thoa cho tối qua. Cô áp mặt vô cái đầu tóc rối của nó, thở ra một hơi dài mà cô không biết mình đã nín từ hồi nào.
– Má khóc hả?
– Đâu có. Má chảy máu cam.
– Ghê quá. – Nó nhăn mặt, rồi lại tò mò. – Có nhiều hông má?
– Có chút xíu.
Thằng Lúa ngó cô một hồi, rồi lấy con Rái Mập dụi lên má cô, như cái cách cô vẫn làm với nó hồi nó còn bé. Sa bật cười, và cái cười ấy làm cô sợ hơn mọi thứ khác từ lúc mở mắt. Cô nhận ra mình đang cười với một đứa con mà cô đã nghe tiếng nó lần cuối qua điện thoại, chưa tới nửa tiếng trước khi chết.
Tối thứ Năm, chín giờ hai mươi. Cô nhớ. Cô gọi về bè, thằng Lúa nghe máy, giọng nó nhỏ xíu: "Má ơi, Rái Mập sợ sấm." Cô biểu nó đưa con Rái Mập lại gần cái máy, rồi cô hát cho cả hai đứa nghe. Bài ru của má cô, bài mà má tự đặt hồi cô còn nằm võng.
Bây giờ thằng Lúa nằm xuống lại, kéo cái mền lên tới cằm, nói giọng nhõng nhẽo:
– Má hát bài con rái đi. Con ngủ thêm chút xíu nữa thôi.
Sa ngồi xuống cạnh con. Tay cô vỗ nhẹ lên lưng nó theo nhịp sóng dưới sàn bè.
– Ầu ơ… Con rái lội qua sông. Nước lớn nó lặn, nước ròng nó lên…
Cô ngừng lại. Câu sau cô biết, cô thuộc như thuộc tên mình, mà cổ họng nghẹn cứng. Thằng Lúa đã lim dim. Cô ngồi đó, tay đặt trên lưng con, nghe ngoài hiên ba cô vẫn chùi cái tay quay, khấc sắt kêu tạch tạch nhè nhẹ.
Bảy giờ kém hai mươi lăm, cô đưa cháo vô cho ba, dặn ba coi thằng Lúa, rồi nhảy xuống chiếc xuồng điện nhỏ, mở máy chạy ra phía chợ nổi.
Lần trước, cô nhớ, cô ra chợ lúc bảy giờ, sạp bánh bò của cô Ba Gạo đã hết bánh bò xanh, chỉ còn bánh bò trắng. Cô mua đại hai cái trắng, về thằng Lúa giận, không thèm ăn. Lần này cô cho máy chạy hết cỡ. Mặt đầm còn sương, mấy chiếc ghe rau cột cây bẹo treo bó hành, mùi khói bếp than lẫn mùi pin điện khét khét. Cô len giữa hai chiếc ghe bông bí, tới sạp cô Ba Gạo lúc sáu giờ bốn mươi mốt.
– Bánh bò xanh hết rồi cưng. – Cô Ba Gạo nói, chưa đợi cô hỏi. – Mới có ông kia mua sỉ bốn chục cái, đem lên Vĩnh Thượng đám giỗ. Còn bánh trắng nè.
Sa đứng nhìn cái mâm nhôm trống trơn, chỉ còn mấy miếng lá chuối lót dính vụn bánh xanh. Trễ một phút. Lần trước cô tưởng mình trễ vì ngủ nướng. Bây giờ cô mới biết lần trước cô trễ cả hai mươi phút, và lần này, dù chạy hết sức, cô vẫn trễ.
Cô mua hai cái bánh bò trắng, bốn chục nghìn. Cô Ba Gạo gói bằng lá chuối, cột dây lác.
Cô chạy xuồng về bè, đặt gói bánh lên đầu nằm của thằng Lúa, ghi một chữ lên tờ giấy để bên cạnh: "Bánh bò xanh hết rồi. Má xin lỗi." Rồi cô bước ra hiên. Ba cô đã treo cái tay quay lên vách, ngồi húp cháo.
– Ba, con ra trạm chút.
– Hôm nay mầy nghỉ mà? Có chuyện gì thì nói ba nghe.
Cô muốn nói với ba rằng tối thứ Năm, chín giờ bốn mươi sáu phút, tấm màng số bốn mươi bảy sẽ hạ xuống, và ba với thằng Lúa đang ngủ trong căn bè này. Cô biết ba sẽ nói gì: "Mầy làm cái nghề trông đê mà nói vậy, ai nghe mầy?"
– Chiều con về. – Cô nói.
Từ đầm Bần Sẻ lên mặt đê phải chạy xuồng tới bến công vụ dưới chân Trạm Ba, rồi leo bốn mươi hai bậc thang bê tông. Trên mặt đê, gió thổi muốn bay cái áo mưa, biển phía đông xám đục. Một trăm hai mươi tấm màng của đê mềm Vàm Lở nối nhau chạy dài hai mươi mốt cây số. Mỗi tấm là một bức vách sợi tổng hợp căng trên khung thép, nâng lên hạ xuống được theo con nước. Tấm bốn mươi bảy đứng ngay sát vách Trạm Ba, thẳng, căng, ướt mưa, không có gì lạ.
Cô quẹt thẻ vô cửa trạm. Ca ngày chưa tới giờ giao ca, phòng trực dưới tầng một vắng tanh. Cô không lên phòng điều khiển. Cô đi thẳng xuống cầu thang sắt, xuống hầm B.
Cửa hầm B đóng. Cô bấm mã khẩn cấp của vận hành viên, cái mã mà theo hợp đồng thuê, cô chỉ được dùng khi có sự cố. Cửa trượt ra.
Hầm B lạnh. Lạnh hơn bên ngoài nhiều, cái lạnh khô khô của máy móc. Cái vòng vẫn nằm đó, giữa hầm, rộng hơn cô nhớ, trên mặt kim loại phủ một lớp sương mỏng như mặt ly nước đá. Nó kêu ù ù trầm trầm. Ở góc, cái tủ sắt xám vẫn chớp đèn xanh. Mọi thứ khô ráo, sạch sẽ, không có một vết nước nào. Cánh cửa thép của hành lang bơm cũ đóng im lìm, ốc vít đầy đủ.
Sa đứng ở mép vòng, không dám bước vô.
Trên cái giá sắt ở giữa vòng, chỗ tối thứ Năm cô ngã ngửa vô, có một cuốn sổ bìa cứng màu nâu, loại sổ giấy bây giờ chẳng ai xài nữa. Nó được buộc dây vô thanh sắt để khỏi rơi. Cô nhớ ông già Lạp hay cặm cụi ghi vô đó, nét chữ nghiêng nghiêng kiểu người miền Bắc học trường xưa. Cô cúi xuống, lật trang cuối cùng có chữ.
Dòng trên cùng ghi: "Chủ nhật, 1/11. 21 giờ 10. Bắt đầu làm lạnh." Dòng dưới ghi: "Dự kiến nguội: sáng thứ Ba, khoảng 5 giờ 40."
Cô ngẩng lên nhìn cái bảng đồng hồ gắn trên giá. Cái màn hình nhỏ nhất ở góc dưới, chữ xanh trên nền đen, hiện một dòng duy nhất: "Đạt siêu dẫn: 05:40:00 — 03/11/2071."
Năm giờ bốn mươi. Đúng cái phút bàn chân thằng Lúa gác lên cổ cô.
— Hết chương 1 —
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe