AI Truyện
Nước phải có chỗ đi

🚀 Khoa học viễn tưởng

Bê tông giả ở miệng cống

Nước phải có chỗ đi · Chương 21/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 21: Bê tông giả ở miệng cống

– Ba chục triệu. – Ông Đước nói, khi điếu thuốc rê chỉ còn một mẩu đỏ giữa hai ngón tay. – Năm 2061, người ta trả tiền công ba chục triệu để lấp cái cống.

Ông ngồi lại xuống ghế đẩu, nhìn ra đầm, không nhìn cô. Gió thổi mẩu thuốc lập loè.

– Hồi đó đê mới gần xong. Mấy ông kỹ sư trên tỉnh xuống, nói đê mềm này tự nâng tự hạ, có cái máy canh từng phân nước, mấy cái cống cũ chui dưới chân đê là lỗ hổng, phải lấp hết. Cống nào thì người giữ cống đó lấp, vì mình biết cống. Người ta đưa ba tờ hợp đồng. Ba ký.

– Rồi ba không lấp.

– Ba lấp cái miệng. – Ông nói. – Giếng van nằm ở chân đê phía trong, cái miệng nó vuông, rộng chừng một sải tay. Ba lấy ván đậy lại, đổ lên một lớp bê tông dày chừng ba lóng tay, tô cho láng. Ông kỹ sư nghiệm thu xuống, đứng trên đó chụp ba tấm hình, khen ba làm kỹ. Ổng không gõ.

Sa ngồi im. Cô nghĩ tới ba tấm ảnh mà con Rái nói, một mặt bê tông phẳng, khô, mới đổ.

– Còn cửa van?

– Để nguyên. – Ông rít hơi cuối, dụi mẩu thuốc lên mép ghế. – Ba để nó hé chừng một gang tay. Ruộng mà bít kín thì nó thối, nước đọng, muỗi, rồi mặn chát lên giết hết mấy bụi đước ven bờ bao. Hé một gang thì nó thở. Mỗi tháng một lần, ba chèo xuồng vô ban đêm, cạy cái góc ván lên, tra dầu cái trục. Mười năm.

– Sao ba không nói ai?

Ông quay sang nhìn cô lần đầu tiên từ lúc cái ly rớt.

– Nói ai? Nói với ông kỹ sư là ba lấy tiền mà không làm hả? Ba chục triệu đó ba đâu còn mà trả. – Ông ngừng lại. Giọng ông trầm xuống. – Năm má mầy nằm viện, ba vay tiền thuốc của bà Sáu Cầm bên Kênh Xáng. Vay ba lần. Lãi chồng lãi, chín năm ba trả không hết. Năm 2061 người ta đưa ba chục triệu, ba trả dứt cho bà Sáu, còn dư mua cái máy xuồng.

Sa không nói được gì. Cô nhìn bàn tay ba đặt trên đầu gối. Chín năm. Từ năm cô mười lăm tuổi tới năm cô hai mươi bốn, ba đã trả nợ tiền thuốc của má, và cô chưa từng biết.

– Còn chuyện không lấp, – ông nói tiếp, chậm rãi, như người ta kéo một sợi dây neo từ đáy đầm lên, – thì không phải vì tiền. Ba lấp được. Đổ bê tông xuống giếng, một ngày là xong. Ba không lấp vì ba không tin. – Ông nhìn ra phía bắc, về phía Đồng Muối Cái Keo mà từ đây chỉ thấy một khoảng trời đen. – Đê nào cũng có ngày thua nước, Sa. Cái đê nào cũng vậy, đê đất, đê bê tông, đê mềm. Nước mà lên quá cái đê thì nó phải có chỗ ra. Không có chỗ ra thì nó tự đục. Ba giữ cống ba mươi bảy năm, ba biết. Cái máy nó canh từng phân nước, mà cái máy nó có giữ cống ngày nào đâu.

Gió đẩy cái tay quay trên vách gõ vô ván một cái. Cộc.

– Hồi thằng Tường mới cưới mầy, – ông nói, – ba dắt nó ra đó. Hồi đó cống chưa lấp. Nó hỏi ba sao cái cống cũ vậy mà còn giữ. Ba nói nước phải có chỗ đi. Nó gật gù. Ba tưởng nó hiểu. – Ông cười khục một tiếng. – Rồi nó lên tỉnh viết cái máy.

Sa nhớ lại phòng họp tầng mười bốn, lần thứ tám, Tường tháo kính day sống mũi, nói câu đó, nói là của ba cô. Cô đã không nhớ buổi chiều ấy. Bây giờ cô vẫn không nhớ. Chỉ có hai người đàn ông, hai lần, nói với cô cùng một chuyện.

– Ba. – Cô nói. – Con muốn coi cái cống.

– Bây giờ?

– Bây giờ.

Ông Đước nhìn cô một hồi. Rồi ông đứng dậy, với tay gỡ cái tay quay sắt xuống khỏi cây đinh.

Chín giờ rưỡi tối thứ Ba, cô sang bè bên cạnh gõ cửa nhà chị Bé Hai. Chị ra mở cửa, đầu quấn khăn, tay còn cầm cái kim đan lưới. Thằng Khoai ngủ trên võng sau lưng chị, một chân thòng xuống.

– Chị Bé Hai, em với ba em có việc đi chừng mấy tiếng. Chị coi chừng thằng Lúa giùm em. Nó ngủ rồi.

– Ừ, đi đi. – Chị nói, không hỏi gì. – Chị qua nằm bên đó với nó.

Sa đứng nhìn chị một chút, lâu hơn cần thiết. Chị Bé Hai ba mươi mốt tuổi, chưa bao giờ biết rằng ở một lần nào đó, tên chị đã được đọc trên máy liên lạc, tên thứ năm, ngay trước tên thằng Khoai.

– Em đi đi. – Chị nói. – Đứng đó làm gì?

Ba chèo xuồng. Ông không cho mở máy. Ông nói máy xuồng kêu, nửa đêm ai nghe được thì hỏi. Cô ngồi ở mũi, cầm cây đèn pin bọc vải cho ánh sáng đỏ mờ, chỉ đủ thấy mặt nước trước mũi xuồng. Cái tay quay nằm dưới lòng xuồng, gói trong bao ni lông, bên cạnh một cây xà beng và một cái đèn pin nữa.

Họ đi ra đầu bắc của đầm Bần Sẻ, nơi mấy căn bè thưa dần rồi hết hẳn. Rạch Cái Keo mở ra giữa hai bụi dừa nước, một khe tối, hẹp, lá dừa nước quẹt vào mạn xuồng rột roạt. Cô ngửi thấy mùi bùn, mùi lá mục, mùi mặn của nước biển rỉ vào từ đâu đó. Ba chèo đều, không vội, không nói. Cô nhớ hồi nhỏ cũng ngồi ở mũi xuồng như vầy, ba chèo, má ngồi giữa. Cô không quay lại nhìn chỗ ngồi giữa.

Chừng hai mươi phút, rạch đụng một cái đập đất thấp, cao hơn mặt nước chừng nửa người, mọc đầy cỏ ống.

– Kéo. – Ba nói.

Hai cha con xuống nước, nước tới bụng, lạnh buốt. Họ đẩy chiếc xuồng lên cái đập, trượt qua lớp cỏ ướt, rồi thả xuống phía bên kia. Bên kia đập là Đồng Muối Cái Keo.

Sa đứng dưới nước, nhìn ra. Trời không trăng, mây phủ kín, nhưng mặt ruộng muối vẫn sáng mờ mờ một màu bạc, phẳng lặng, mênh mông, những bờ ô thấp chạy ngang dọc như những đường kẻ trên một tờ giấy khổng lồ. Mấy cây cọc tre lố nhố. Ở tận cuối tầm mắt là con đê Vàm Lở, một vệt đen dài với hàng đèn đỏ của phao cảm biến. Không có tiếng gì ngoài tiếng gió và tiếng nước vỗ lóc bóc.

Ba chèo theo một lối mà cô không thấy, giữa hai hàng cọc tre, men theo một bờ ô. Ông không cần đèn. Ông chèo như người ta đi trong nhà mình ban đêm.

Chừng mười phút sau, Sa thấy một đốm lửa đỏ ở xa, rất xa, về phía nam, trên một cái bờ bao. Một làn khói mỏng bốc lên, bị gió kéo xiên đi.

– Ba, có ai ở trong này hả ba?

Ông Đước nheo mắt nhìn.

– Chắc tụi câu cá đối. – Ông nói. – Mùa này cá đối vô nhiều. Kệ nó.

Cô kệ nó. Đốm lửa khuất sau một bờ ô.

Chân đê mới hiện ra trước mũi xuồng, một bức vách bê tông nghiêng, cao hơn đầu người nhiều lần, ướt nước mưa, lấm tấm rêu. Ngay dưới chân vách, nhô lên khỏi mặt nước chừng một gang, là một cái bục bê tông vuông vức, mặt phẳng, như một cái bàn đá ai bỏ quên giữa ruộng.

Ba cột xuồng vô một cái móc sắt rỉ cắm bên hông bục. Ông bước lên, đứng giữa mặt bê tông, dậm chân hai cái.

Bộp. Bộp.

Không phải tiếng của bê tông đặc. Là tiếng của một cái gì đó rỗng ở bên dưới, như tiếng gõ lên mặt trống bị thủng.

– Đây. – Ông nói.

Ông cầm cây xà beng, thọc mũi vô một cái khe nhỏ ở góc bục, chỗ mà nhìn kỹ mới thấy là một đường nứt, đã được trét bùn lên cho giống. Ông bẩy một cái. Một miếng bê tông bằng bàn tay vỡ ra, rơi xuống nước. Bên dưới là gỗ. Một tấm ván màu nâu sẫm, đã đen lại vì nước và dầu.

Sa quỳ xuống, rọi đèn. Cô đưa tay sờ lên mặt ván. Mịn. Cứng. Thớ gỗ chạy dài, có mấy cái mắt gỗ tròn tròn như mắt cá.

– Ván dầu. – Cô nói.

– Ván dư. – Ba nói. – Hồi má mầy đóng cái bè, mua dư bốn tấm. Ba để dưới gầm bè mười mấy năm. Rồi đem ra đây.

Cô ngồi đó, tay đặt trên tấm ván. Tấm ván má đã chọn, vì ván dầu thì không mục. Ông ở đâu thì cái bè ở đó.

Ba bẩy thêm mấy chỗ nữa, rồi hai cha con cùng nhấc một tấm ván lên, đặt sang một bên. Bên dưới là một cái giếng vuông, tối, sâu, mùi dầu nhớt xộc lên lẫn mùi nước biển. Cô rọi đèn xuống. Cách miệng giếng chừng một sải tay, nhô lên từ bóng tối là một cái trục sắt to bằng cổ tay, đầu trục vuông vức, bóng loáng dầu. Bên cạnh trục, gắn trên một cái giá sắt, là ba cái then. Ba thanh sắt tròn, mỗi thanh to bằng ngón tay cái, xuyên qua ba cái khoen, chặn ngang một cái bánh răng lớn.

Cửa cống có ba cái then gài. Ba đã nói với cô như vậy, chiều thứ Tư lần trước, khi ông kể chuyện má ngồi trên bờ cống coi mấy con rái cá. Cô nhìn ba cái then, và cô thấy có cái gì đó vướng lại trong đầu, như một câu hát mà người ta biết là có, mà không nghe ra được.

Ba nằm sấp xuống mép giếng, thò tay xuống, rút từng cái then ra. Cái thứ nhất. Cái thứ hai. Cái thứ ba. Mỗi cái rút ra kêu một tiếng "két" khô khốc, rồi ông đặt chúng lên mặt ván, thẳng hàng.

Rồi ông mở bao ni lông, lấy cái tay quay sắt sơn xanh ra.

Ông tra cái lỗ vuông ở đầu tay quay xuống đầu trục. Nó vừa khít, không một kẽ hở, như cái nắp vừa cái hũ. Cô nghe một tiếng "cạch" rất nhẹ, tiếng của sắt gặp sắt sau mười năm đợi nhau.

– Mầy nghe nè. – Ông nói.

Ông xoay tay quay. Vòng đầu tiên nặng, ông phải dồn cả người, vai gồng lên, cái tay quay rít lên một tiếng dài. Rồi nó trơn. Vòng thứ hai nhẹ hơn. Dưới đáy giếng, từ một chỗ nào đó rất sâu, rất xa, cô nghe một âm thanh đổi khác. Tiếng nước. Không phải tiếng nước vỗ lóc bóc ngoài mặt ruộng, mà là tiếng nước chảy qua một khe hẹp, đều, trầm, như tiếng ai thở ra qua kẽ răng. Tiếng ấy to lên một chút, rồi một chút nữa.

Cửa cống nhích.

Ông Đước dừng tay. Ông đứng im, nghe. Rồi ông xoay ngược lại hai vòng, đúng hai vòng, không hơn. Tiếng nước nhỏ lại, trở về cái tiếng thở khẽ khàng như trước. Một gang tay.

– Vậy đó. – Ông nói. – Mở hết thì hai người quay, mất chừng năm chục phút.

Sa ngồi trên mép giếng, nhìn xuống cái trục sắt bóng dầu, nhìn ba cái then nằm thẳng hàng trên tấm ván dầu, nhìn cái tay quay mà cả đời cô gọi là đồ kỷ niệm.

– Ba. Cống này rộng bao nhiêu?

– Thân cống hộp, cao hai mét, rộng hai mét rưỡi. Dài bốn mươi mét, chui qua chân đê ra tới rạch ngoài. Cửa van phẳng, kéo lên kéo xuống.

Cô đưa cái điện thoại đeo tay lên miệng, bấm số nội bộ của Trạm Ba. Ba cô nhìn cô, cau mày.

– Mầy gọi ai giờ này?

– Cái máy, ba.

Chuông đổ nửa hồi, có người nhấc máy.

– Em nghe.

Ông Đước giật mình. Ông không nói gì, chỉ ngồi xuống mép bục, nhìn cái điện thoại trên cổ tay con gái như nhìn một con rắn.

– Mày nghe ba tui nói rồi. – Sa nói. – Thân cống hộp hai mét nhân hai mét rưỡi, dài bốn mươi mét, cửa van phẳng. Mở hết từ tám giờ tối thứ Năm. Đồng Muối Cái Keo rộng mười sáu cây số vuông. Mày tính đi.

– Em tính rồi. – Giọng nói đáp. Nó ngừng một nhịp. – Cảm ơn bác Đước.

Ông Đước không trả lời. Ông chỉ cầm cái tay quay lên, đặt ngang trên đùi, như người ta giữ một đứa nhỏ.

– Mở hết từ tám giờ tối thứ Năm, – giọng nói tiếp, đều, rõ, – Đồng Muối nhận nước tới gần nửa đêm mới đầy. Lúc đỉnh triều chín giờ năm mươi hai, mực nước ở Đoạn Cổ Cò giảm từ bảy tới chín phân, tuỳ gió. Dự báo hai mét bảy mươi mốt, còn hai mét sáu mươi hai tới hai mét sáu mươi bốn. Ngưỡng sập hai mét sáu mươi.

Sa nhắm mắt lại.

– Thiếu. – Giọng nói nói. – Thiếu hai tới bốn phân.

— Hết chương 21 —

Mục lục Nước phải có chỗ đi

  1. 1Bánh bò màu xanh10 phút
  2. 2Ông già Bạch Thành dưới hầm12 phút đọc
  3. 3Hai mươi mốt giờ bốn mươi sáu10 phút đọc
  4. 4Còi báo động cấp ba11 phút đọc
  5. 5Tấm bốn mươi bảy10 phút đọc
  6. 6Bàu Sậy9 phút đọc
  7. 7Trường Gò Me10 phút đọc
  8. 8Đoạn Cổ Cò10 phút đọc
  9. 9Phê duyệt năm 206611 phút đọc
  10. 10Ba của thằng Lúa10 phút đọc
  11. 11Gặt chạy bão10 phút đọc
  12. 12Bản tin sai một câu10 phút đọc
  13. 13Hai mươi giờ năm mươi lăm9 phút đọc
  14. 14Hai người nhớ10 phút đọc
  15. 15Ổi chín thì hái9 phút đọc
  16. 16Người lạ quen9 phút đọc
  17. 17Đèn xanh trong lòng nong10 phút đọc
  18. 18Lần thứ mười hai10 phút đọc
  19. 19Con rái biết nói12 phút đọc
  20. 20Cái ly rớt trên sàn bè10 phút đọc
  21. 21Bê tông giả ở miệng cống11 phút đọc
  22. 22Mười một phân10 phút đọc
  23. 23Bầy vịt ông Năm Thọ11 phút đọc
  24. 24Cái tên định đặt cho con11 phút đọc
  25. 25Chín giây10 phút đọc
  26. 26Cây ổi sau trạm10 phút đọc
  27. 27Mục số một nghìn một trăm bốn mươi tám10 phút đọc
  28. 28Một nghìn một trăm bốn mươi bảy lần10 phút đọc
  29. 29Con máy sợ chết11 phút đọc
  30. 30Xả êm12 phút đọc
  31. 31Lệnh vận hành khẩn cấp10 phút đọc
  32. 32Khúc gỗ dưới cửa cống10 phút đọc
  33. 33Bốn ly10 phút đọc
  34. 34Trăng mười bốn9 phút đọc
  35. 35Sáu giờ sáng thứ Sáu9 phút đọc
  36. 36Nước vô có ngõ10 phút đọc

Về truyện này

Nước phải có chỗ đi là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →