AI Truyện
Nước phải có chỗ đi

🚀 Khoa học viễn tưởng

Nước vô có ngõ

Nước phải có chỗ đi · Chương 36/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 36: Nước vô có ngõ

Cái tay quay sắt bây giờ có số hiệu.

Người của Cục Đê biển sơn lại nó hồi tháng Chạp, một lớp sơn xanh mới, đúng cái màu xanh cũ, rồi kẻ lên cán sắt bằng sơn trắng mấy chữ nhỏ: "CK-01 — Cống Cái Keo — km 6". Ông Đước càu nhàu cả tuần vì cái màu sơn mới bóng quá, cầm trơn tay. Chiều ba mươi Tết, ông vẫn ngồi trên cái ghế đẩu ngoài hiên, lấy giẻ thấm dầu chùi từng khấc răng, chùi cả mấy chữ sơn trắng cho nó bớt bóng.

– Sắt mà không chùi là nó chết. – Ông nói, khi thấy Sa nhìn.

– Ba chùi cái chữ làm chi?

– Thì chùi. Chữ của người ta, chớ sắt của ba.

Thứ Năm, ngày mười tám tháng Hai năm 2072, ba mươi tháng Chạp. Trời Hạ Lam tháng Hai nắng gắt, gió chướng chỉ còn thổi nhẹ, mặt đầm Bần Sẻ phẳng lặng, xanh rêu, lấp lánh như một tấm kính bị ai làm nứt bằng mấy vệt xuồng. Ba trăm căn bè treo đèn lồng đỏ. Trên cầu sắt, người ta đi chợ Tết, gánh dưa hấu, ôm chậu cúc vàng, tay xách bao bánh mứt. Ở mũi bè, nồi bánh tét đã nấu từ tối hôm qua, Sa vớt ra từ sáng sớm, bây giờ treo lủng lẳng trên cây sào cho ráo nước.

Ba gói bánh nhân đậu xanh mỡ heo. Sa không nhớ cái Tết cuối của má bánh nhân gì. Cô hỏi ba. Ba nói nhân đậu xanh, má không ăn chuối. Cô không biết ba nhớ thật hay ba nói đại cho cô yên. Cô gói nhân đậu xanh.

Chuyện của ba được giải quyết hồi tháng Một, ở một căn phòng trên tỉnh mà Sa chỉ được ngồi đợi ngoài hành lang. Ba ra, mặt tỉnh queo, nói người ta phạt ba một khoản, bắt ba trả lại ba chục triệu tiền công lấp cống, trả dần. Rồi người ta đưa ba một tờ hợp đồng mới. Người giữ cống Cái Keo. Có lương. Có số hiệu. Cái cống được đưa vào hồ sơ thiết kế của đê Vàm Lở, có tên trên bản đồ, có một cái chấm xanh ở km sáu. Ông kỹ sư của Cục Đê biển, cái ông đeo kính cận dày đã gõ búa lên mặt bê tông, ký nghiệm thu lần thứ hai, lần này đứng dưới giếng.

– Người ta hỏi ba sao mười năm ba không nói. – Ông kể với cô hôm đó, trên chuyến xe điện về. – Ba nói ba sợ. Ông chánh gì đó nhìn ba một hồi, rồi ổng nói: "Ông sợ mà ông vẫn tra dầu."

Bốn giờ chiều, Tường tới. Anh đi xuồng điện, tự chèo đoạn cuối vì không quen mở máy giữa đầm, chở theo một chậu mai nhỏ và một con gà luộc gói giấy dầu. Thằng Lúa chạy ra cầu ván đón, la "Ba Tường, ba Tường" như một con chim sẻ.

Anh không ở lại bè đêm nay. Anh sẽ về Vĩnh Thượng trước giao thừa, ăn Tết với dì của anh. Mấy tháng nay anh xuống bè hai lần một tuần, chở thằng Lúa đi học, ngồi uống trà với ông Đước, hai người đàn ông cãi nhau về con nước như hai ông già. Anh với Sa không nói chuyện về chuyện cũ. Có những tối anh ở lại ăn cơm. Có những tối cô gọi anh hỏi một cái tên, một ngày, một chuyện cô không nhớ, và anh trả lời, rồi hai người im lặng trong điện thoại một lúc, rồi cúp.

– Giỗ má em mười tám tháng Ba. – Anh nói khi bước lên hiên, như người ta nói "chào em". – Anh ghi vô lịch anh rồi.

– Em có trong lịch.

– Ừ. Thì giờ có hai cái lịch.

Giao thức Nhường Nước có bản sửa năm vào tháng Mười Hai. Sa đọc nó trên màn hình phụ ở Trạm Ba, đọc hết, không bỏ trang nào. Không còn hệ số không phẩy sáu. Bần Sẻ năm trăm bốn mươi người. Thêm một mục mới, mục "tổn thất thứ cấp", tính những gì một tấm nhường để lại sau đêm bão. Thêm cống Cái Keo vào danh sách phương án, đứng trước cả A, B, C. Phê duyệt: V.H. Tường, Đ.H. Hạnh, có thêm một dòng nhỏ ở cuối: "Lập sau sự kiện đêm 05/11/2071." Bà Hạnh vẫn làm giám đốc. Bà giải trình hai lần lên tỉnh, một lần lên Cục. Lần nào bà cũng nói đúng một câu, Tường kể lại: "Tôi ký vì có một lý do viết được vào biên bản."

Năm giờ chiều, ông Lạp tới. Ông đi xe điện dọc đê tới Trạm Ba, rồi đi nhờ xuồng của một đội viên Đội Trị an qua đầm. Ông mặc áo sơ mi trắng, quần tây, đội cái mũ phớt cũ, tay xách một cái túi lưới đầy ổi.

– Ổi chín. – Ông nói, đưa cái túi cho thằng Lúa. – Cây ổi sau trạm. Tôi hái sáng nay.

Thằng Lúa chụp lấy một trái, cắn ngay. Ông Lạp ngồi xuống cái ghế đẩu mà ông Đước nhường, nhận ly trà, nhìn ra đầm.

Sa đã kể cho ông nghe mọi chuyện, sáng thứ Bảy sau cơn bão, ngồi trên sàn hầm B, bên cạnh cái vòng sắt nguội ngắt. Lần đó cô kể hết, trừ một chuyện: hai lần ông đã đứng trong vòng. Ở một lần mà ông không nhớ, ông đã dặn cô đừng bao giờ nói. Cô giữ lời. Ông nghe xong, ngồi im rất lâu, rồi chỉ hỏi cô một câu: hồi đó ông có tử tế với cô không. Cô nói có.

Cái Nong bây giờ nằm nguội trong hầm B. Ông không làm lạnh nó lại. Ông nói với Nhà Điều hành là thí nghiệm của ông đã xong, xin trả hầm vào cuối năm. Không ai hỏi kết quả. Ông cũng không viết gì.

– Ông có tiếc không ông? – Sa hỏi, lúc ông ngồi uống trà.

– Tiếc chứ. – Ông nói. Rồi ông nhìn thằng Lúa đang ngồi trên mép bè, chân thòng xuống nước, ăn trái ổi thứ hai. – Nhưng mà ổi chín thì phải hái, cô Sa ạ. Để dành cho chim thì chim ăn.

– Cá kèo Tết này bao nhiêu ông?

– Trăm hai một ký. – Ông cười. – Tết mà. Tôi kể nó nghe sáng nay rồi.

Sáu giờ chiều, cái đài trên vách bè phát chương trình ca nhạc mừng xuân của đài tỉnh. Giữa hai bài, giọng cô phát thanh viên đọc: "Sau đây là bài vọng cổ 'Ngọn đèn trên đê' của tác giả Tấn Bần. Tác giả là kỹ thuật viên đê biển Vàm Lở, viết sau cơn bão số chín năm ngoái."

Thằng Quới đang ngồi ăn bánh tét ở mũi bè, dĩa bánh trên đùi, đánh rơi đũa. Nó đỏ mặt tới mang tai.

– Trời đất ơi. – Nó nói. – Họ nói tên thiệt của em luôn hả? Chị Sa, chị nói với họ hả?

– Em gửi bài lên, em ký tên Tấn Bần, em ghi nghề nghiệp em. Chị nói gì đâu.

Cả nhà ngồi nghe. Ông Đước, ông Lạp, Tường, Sa, thằng Lúa, thằng Quới. Bài vọng cổ dài, có câu "đêm nay mở cửa cống cho nước về ruộng cũ", có câu "để bè ai yên giấc, để mẹ ru con nằm". Lúc người ta ca tới câu đó, thằng Quới cúi gằm mặt xuống dĩa bánh tét, không ăn. Ông Đước nghe xong, gật gù.

– Được. – Ông nói. – Mà dài quá.

Bảy giờ, ông Lạp về. Tường đưa ông về Vĩnh Thượng luôn. Trước khi xuống xuồng, Tường ngồi xổm xuống trước thằng Lúa, sửa lại cổ áo nó.

– Giao thừa con có thức không?

– Có! Con thức coi pháo hoa bên Vĩnh Thượng!

– Ừ. Ba ở bên đó, ba coi cùng một cái pháo hoa với con.

Anh đứng dậy, nhìn Sa. Anh không nói gì. Cô cũng không nói gì. Rồi anh gật đầu, bước xuống xuồng.

Tám giờ tối, bản tin thủy văn chiều ba mươi phát qua cái loa đầu cầu sắt. Giọng đàn bà ngọt ngào, đều đều, không vội. "Bản tin thủy văn tối ba mươi tháng Chạp. Con nước đêm nay một mét bảy mươi hai tại thước đo Vàm Lở, dưới mức thiết kế. Hệ thống điều phối đê Vàm Lở kính chúc bà con năm mới bình an."

Sa đứng ở mép bè nghe. Cái máy ấy không biết cô. Nó chưa bao giờ đứng chín giây. Nó chỉ đếm. Mỗi sáng nó đọc bản tin, mỗi đêm nó canh từng phân nước. Tối nay nó chúc bà con năm mới bình an bằng cái giọng mà cô đã nghe cả nghìn lần, có mười mấy buổi sáng giống nhau tới từng chữ.

Ở tận đầu bắc, nơi mặt đê chạy qua km sáu, có một cái phao cảm biến nhô lên khỏi mặt nước, đầu tròn đen bóng như đầu con rái cá, ngọn đèn đỏ nhỏ nhấp nháy.

– Chào em. – Cô nói, không lớn.

Thằng Lúa ngủ gục lúc mười giờ, trên chiếu, bên cạnh nồi bánh tét, tay ôm con Rái Mập. Nó đã hứa thức coi pháo hoa. Nó không thức nổi.

Đêm ba mươi không có trăng. Trời đen, đầy sao, mặt đầm phẳng lặng phản chiếu ba trăm cái đèn lồng đỏ. Ông Đước đã đi ngủ trong buồng, tiếng ngáy khò khè đều đều qua vách ván. Ông ngủ ngon từ hồi tháng Mười Một. Bác sĩ nói tim ông yếu, phải uống thuốc đều, đừng làm nặng. Ông nói giữ cống thì có gì nặng, mở cống mới nặng.

Gần nửa đêm, Sa ngồi xuống bên cạnh con. Cô kéo cái mền lên tới cằm nó. Thằng Lúa cựa mình, mắt vẫn nhắm, lầm bầm:

– Má hát bài con rái đi.

Tay cô đặt lên lưng con, vỗ nhẹ theo nhịp sóng dưới sàn bè.

Bài ru này bây giờ là của cô theo một cách khác. Nó không còn nằm trong đầu cô như tên mình, như đường về nhà. Nó nằm trong giọng cô, cái giọng mà một cái máy đã giữ lại một đêm thứ Năm rồi trả cho cô bằng cái loa nhỏ bằng đồng xu, mười phút trước khi nó không còn. Mấy tháng nay, tối nào cô cũng hát nó cho thằng Lúa nghe, và mỗi lần hát, cô lại thấy mình hát giống cái giọng đó hơn một chút. Cái chỗ ngân dài ở chữ "sông". Cái chỗ hạ giọng ở chữ "then". Cô không nhớ má hát thế nào. Cô hát theo người đã hát cho cô nghe, người ấy hát theo má, và má thì hát theo ba con rái cá lội ra cống Cái Keo bắt cá, một buổi chiều nào đó mà không ai còn nhớ.

– Ầu ơ… Con rái lội qua sông. – Cô hát. – Nước lớn nó lặn, nước ròng nó lên…

Thằng Lúa thở đều.

Ngoài kia, ở km sáu, dưới chân đê, trong cái giếng vuông có tấm ván dầu đậy nắp, cửa van cống Cái Keo đang hé một gang tay. Ba cô để nó như vậy, như mười năm nay, chỉ khác là bây giờ có ghi trong sổ. Con nước đêm ba mươi lên tới mép rạch ngoài, đi qua cái khe một gang tay ấy, vô ruộng muối, chậm, đều, rồi gần sáng sẽ rút ra. Đồng Muối Cái Keo thở.

– Ầu ơ… Cửa cống ba gài then.

Bên kia Kênh Xáng, ở phía Vĩnh Thượng, pháo hoa giao thừa bắt đầu nổ, đỏ, vàng, xanh, rọi xuống mặt đầm thành những vệt màu run rẩy. Thằng Lúa không thức dậy. Cô cũng không gọi nó.

– Nước vô có ngõ, – cô hát, khẽ hơn, – nước lên có đường.

— Hết —

Mục lục Nước phải có chỗ đi

  1. 1Bánh bò màu xanh10 phút
  2. 2Ông già Bạch Thành dưới hầm12 phút đọc
  3. 3Hai mươi mốt giờ bốn mươi sáu10 phút đọc
  4. 4Còi báo động cấp ba11 phút đọc
  5. 5Tấm bốn mươi bảy10 phút đọc
  6. 6Bàu Sậy9 phút đọc
  7. 7Trường Gò Me10 phút đọc
  8. 8Đoạn Cổ Cò10 phút đọc
  9. 9Phê duyệt năm 206611 phút đọc
  10. 10Ba của thằng Lúa10 phút đọc
  11. 11Gặt chạy bão10 phút đọc
  12. 12Bản tin sai một câu10 phút đọc
  13. 13Hai mươi giờ năm mươi lăm9 phút đọc
  14. 14Hai người nhớ10 phút đọc
  15. 15Ổi chín thì hái9 phút đọc
  16. 16Người lạ quen9 phút đọc
  17. 17Đèn xanh trong lòng nong10 phút đọc
  18. 18Lần thứ mười hai10 phút đọc
  19. 19Con rái biết nói12 phút đọc
  20. 20Cái ly rớt trên sàn bè10 phút đọc
  21. 21Bê tông giả ở miệng cống11 phút đọc
  22. 22Mười một phân10 phút đọc
  23. 23Bầy vịt ông Năm Thọ11 phút đọc
  24. 24Cái tên định đặt cho con11 phút đọc
  25. 25Chín giây10 phút đọc
  26. 26Cây ổi sau trạm10 phút đọc
  27. 27Mục số một nghìn một trăm bốn mươi tám10 phút đọc
  28. 28Một nghìn một trăm bốn mươi bảy lần10 phút đọc
  29. 29Con máy sợ chết11 phút đọc
  30. 30Xả êm12 phút đọc
  31. 31Lệnh vận hành khẩn cấp10 phút đọc
  32. 32Khúc gỗ dưới cửa cống10 phút đọc
  33. 33Bốn ly10 phút đọc
  34. 34Trăng mười bốn9 phút đọc
  35. 35Sáu giờ sáng thứ Sáu9 phút đọc
  36. 36Nước vô có ngõ10 phút đọc

Về truyện này

Nước phải có chỗ đi là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →