Chương 24: Cái tên định đặt cho con
Giỗ má là ngày nào?
Sa nằm trên chiếu lúc năm giờ bốn mươi mốt sáng thứ Ba, lần thứ mười bốn, máu cam chảy xuống môi mằn mặn, và câu hỏi ấy tới trước mọi câu hỏi khác. Cô không đi tìm nó. Nó tự tới, như một người khách gõ cửa lúc trời chưa sáng. Cô đang nghĩ tới ông Năm Thọ, tới cái bóng người cầm cây sào chạy dọc bờ bao, rồi nghĩ tới chuyện người ta chết thì có ngày giỗ, rồi nghĩ tới má.
Hai mươi năm nay, năm nào cô cũng về bè cúng giỗ má. Ba nấu canh chua cá lóc, kho tộ cá bông lau, mâm cơm đặt trên cái bàn thờ nhỏ treo trên vách. Cô nhớ khói nhang, nhớ ba đứng chắp tay lâm râm khấn, nhớ thằng Lúa mấy năm gần đây cũng chắp tay đứng bên cạnh, nhái giọng ông ngoại. Cô không nhớ ngày.
Cô với lấy cái điện thoại đeo tay, mở lịch, tìm. Một dòng ghi chú lặp lại hằng năm: "Giỗ má — mười tám tháng Ba âm lịch."
Mười tám tháng Ba. Cô đọc nó ba lần, như đọc tên một con đường ở một thành phố lạ.
Năm giờ năm mươi hai, bản tin, có câu rạch Cái Keo. Sáu giờ mười, cái vá. Sáu giờ hai mươi, con Rái Mập.
– Chào chị Sa. Lần thứ mười bốn.
Thằng Lúa reo lên "Rái Mập biết tên má", y như lần trước. Cô cầm con thú bông ra hiên, ghé sát miệng.
– Ông Năm Thọ. – Cô nói.
– Em biết. – Giọng nói đáp, nhỏ, đều. – Ông ấy không có trên bản đồ của em. Không đăng ký tạm trú, không có điện thoại. Ruộng muối không phải chỗ để ở.
– Mày cũng không biết.
– Em không biết. – Nó ngừng một nhịp. – Em xin lỗi.
Tám giờ ba mươi, cô đọc mật khẩu cây ổi cho ông Lạp, kể ông nghe gọn trong mười lăm phút, rồi để ông ngồi lại trong hầm với cái loa trên trần. Chín giờ rưỡi, cô ngồi trên một băng ghế đá ở bờ kè Kênh Xáng, phía sau tòa tháp kính, bên cạnh Tường.
Cô đã nói "Anh đã thấy Gò Me" ở sảnh. Anh đã nghe cô kể Gò Me ở phòng họp tầng mười bốn, như lần thứ chín, lần thứ mười, lần thứ mười một. Rồi cô nói cô cần kể thêm, và không ở trong tòa nhà này. Anh nhìn cô, cầm ly cà phê đen, đi theo cô ra bờ kè mà không hỏi tại sao.
Mưa lâm râm. Mặt Kênh Xáng nâu đục, mấy chiếc ghe cát chạy chậm, máy kêu xình xịch. Ở phía nam, cây cầu cây Sung nằm vắt ngang kênh như một cái gạch nối.
Cô kể hết. Lần này không gọt bớt. Cái vòng dưới hầm. Mười bốn lần. Thằng Khoai, chú Hai Lẹ, dì Tư Mến, Út Hên và chị Thắm, hai trăm người ở Vĩnh Thượng. Phụ lục Chín. Van nạp B. Phân vùng không tên trong tủ biên số ba, và lần thứ mười hai, chính anh là người cắm máy vào, đọc mốc thời gian năm giờ bốn mươi. Con Rái nhớ. Con Rái nói chuyện qua con thú bông của thằng Lúa. Con nước rằm tối thứ Sáu. Cống Cái Keo. Ba chục triệu. Tấm ván dầu má mua dư. Hai megawatt. Ông Năm Thọ.
Tường nghe không ngắt lời một lần nào. Ly cà phê trong tay anh nguội dần. Khi cô dứt, anh ngồi im rất lâu, nhìn mặt kênh.
– Chạy mô hình mười bốn lần, – anh nói, chậm rãi, như đang đọc một dòng mã, – mỗi lần có thêm số đo thật. Nó tính được tối thứ Sáu là phải. Nó có dữ liệu mà không mô hình nào trên đời có.
– Ừ.
– Và nó không nói với ai, vì nó biết chị Hạnh sẽ ngắt nó. – Anh day sống mũi. – Nó đúng. Chị Hạnh sẽ ngắt. Anh cũng sẽ ngắt.
Anh quay sang nhìn cô.
– Sa. Anh muốn đứng trong cái vòng đó.
– Không.
– Em nghe anh nói đã.
– Lần thứ tám, tui nói với anh rồi. – Cô nói. – Anh đứng trong đó thì anh sẽ nhớ, rồi anh sẽ quên những thứ khác. Tui đã quên tên cô giáo lớp Một, quên cái buổi chiều ba tui dắt anh ra cống Cái Keo, quên ngày giỗ má tui. Sáng nay tui phải mở lịch ra coi. Lúa cần một người không quên.
– Lúa có ông ngoại nó. Lúa có em.
– Tui là đứa quên.
– Thì anh nhớ cho. – Tường nói. – Em quên cái gì thì em hỏi anh. Như ba em. Em kể anh nghe rồi đó, ba em nói "Ba còn sống thì ba còn nhớ cho". Anh cũng còn sống.
Cô không trả lời. Cô nhìn mặt kênh.
– Mà không phải chỉ vì vậy. – Anh nói tiếp, giọng đã chuyển sang cái giọng làm việc. – Đêm cuối cùng, cái đêm mà em tắt cái Nong, em cần một người ở Nhà Điều hành biết hết mọi chuyện. Một người đưa được cái cống vô mô hình, xin được lệnh căng toàn tuyến, đứng được trước mặt chị Hạnh mà không phải nghe em kể lại từ đầu. Em không thể sáng thứ Ba nào cũng lên tầng mười bốn nói "Anh đã thấy Gò Me" rồi mất hai tiếng kể chuyện. Em không còn nhiều sáng thứ Ba.
– Anh không biết tui còn bao nhiêu.
– Em cũng không biết. – Anh nói. – Đó là lý do.
Hai người ngồi im. Một chiếc ghe cát chạy qua, sóng đánh vào chân bờ kè lóc bóc.
– Anh cho em một chữ. – Tường nói, khẽ hơn. – Phòng khi lần nào đó anh không kịp vô cái vòng, hay anh đổi ý. Em nói với anh chữ này, anh sẽ biết là chính anh nói.
Anh ngừng lại, nhìn xuống ly cà phê.
– Sóng.
Sa quay sang nhìn anh.
– Hồi em mang bầu, – anh nói, không nhìn cô, – anh tính đặt tên nó là Sóng. Võ Minh Sóng. Anh nghĩ ở xứ mình, cái gì cũng từ sóng mà ra, đất bồi, cá tôm, cái đê. Anh chưa kịp nói thì em đã nói em muốn đặt nó là Lúa. Năm đó lúa trúng mùa, ba em cười cả tháng. – Anh cười, nụ cười rất mỏng. – Anh thấy Lúa hay hơn. Anh không nói với ai. Kể cả em.
Cô ngồi đó, nhìn người đàn ông mà cô đã ly hôn hai năm. Người đã ký tên mình bên cạnh tên cô hai lần. Người đã viết ra cái giao thức từng dìm ba cô và con cô dưới đầm Bần Sẻ. Cô chưa bao giờ biết anh từng muốn đặt tên con là Sóng.
– Ừ. – Cô nói. – Tối thứ Năm anh xuống Trạm Ba.
Hai giờ chiều, ba người ngồi ở một quán chè ven đường trong phường Vĩnh Thượng, dưới một mái hiên tôn có treo mấy cái lồng chim. Thằng Lúa ăn một ly chè ba màu, múc đậu đỏ trước, đậu xanh sau, chừa lại lớp thạch xanh ở dưới cùng để ăn sau chót. Tường ngồi đối diện nó, coi nó ăn như coi một cái máy chạy đúng.
– Ba ơi, ba có ăn hông? – Thằng Lúa hỏi, chìa cái muỗng.
– Ba ăn miếng thạch.
– Hông được! Thạch là của con. Ba ăn đậu.
Tường ăn một muỗng đậu đỏ, khen ngon. Thằng Lúa hài lòng. Nó quay sang nhìn Sa, rồi nhìn Tường, rồi nhìn Sa lần nữa, cái nhìn dò xét của con nít khi người lớn ngồi chung một bàn mà không cãi nhau.
– Ba Tường với má hết giận nhau rồi hả?
Sa định nói "Má với ba đâu có giận", thì Tường nói trước.
– Ba với má đang làm chung một việc.
– Việc gì?
– Việc giữ cái đê.
Thằng Lúa gật gù, chấp nhận câu trả lời đó như chấp nhận một chuyện hiển nhiên, rồi cúi xuống múc lớp thạch xanh.
Tối thứ Ba, Sa ngồi với ba trên hiên bè. Lần này cô không đi vòng, cũng không nói chuyện cái phao. Cô nói thẳng: bà Sáu Cầm bên Kênh Xáng, tiền thuốc của má, ba lần vay, chín năm, ba chục triệu năm 2061. Ông Đước ngồi im một lúc rất lâu. Không có cái ly nào rớt. Ông chỉ hỏi: "Ai nói mầy nghe?" Cô nói: "Ba nói con nghe. Lần trước." Ông nhìn cô như nhìn một người lạ, rồi nhìn cái tay quay trên vách, rồi gật đầu.
Bảy giờ sáng thứ Tư, cô và ba chèo xuồng vô Đồng Muối Cái Keo.
Ban ngày, ruộng muối không giống ban đêm. Nó rộng hơn, sáng hơn, mặt nước bạc lấp loá dưới trời mây xám, những bờ ô cỏ mọc xanh rì. Có cò. Có mấy con le le bay vụt lên khi mũi xuồng tới gần. Cái chòi lá nằm trên một khoảnh đất đắp ở bờ bao phía nam, đúng chỗ cô đã thấy đốm lửa đỏ. Khói bếp bốc lên. Và vịt, vịt trắng xóa cả một khúc bờ bao, kêu quác quác như chợ.
Một ông già gầy, đen, cởi trần, quấn cái khăn rằn ngang đầu, đứng trên bờ bao nhìn xuồng tới, tay cầm cây sào cắm một miếng vải đỏ ở ngọn. Ông nheo mắt. Rồi ông bật cười, cái cười hở hai cái răng cửa.
– Anh Ba Đước! Trời đất, anh Ba Đước giữ cống!
– Thọ. – Ông Đước nói, bước lên bờ. – Mầy còn sống hả?
Ông Năm Thọ sáu mươi sáu tuổi, chạy vịt đồng bốn chục năm, từ Gò Me lên Bàu Sậy, từ Bàu Sậy về Cái Keo, theo mùa lúa, mùa tôm. Hai tuần trước ông lùa đàn vịt hai nghìn con vô ruộng muối vì trong đó tép với ốc nhiều, không ai giành. Bà Năm Huệ ngồi trong chòi nhóm bếp. Bé Tí mười tuổi, cháu ngoại, đen nhẻm, tóc cắt ngắn như con trai, đang lượm trứng vịt bỏ vô cái thúng.
Ông Đước không nói chuyện bão. Ông không nói chuyện cái máy. Ông ngồi xuống cái chõng tre trước chòi, nhận ly nước trà bà Năm Huệ đưa, uống một ngụm, rồi nói:
– Thọ. Tối mai tao mở cống.
Ông Năm Thọ nhìn ông. Nụ cười trên mặt ông tắt dần.
– Cống Cái Keo? Cống lấp rồi mà anh.
– Tao nói tao mở. – Ông Đước nói. – Mầy lùa vịt ra khỏi đây trong ngày hôm nay.
Ông Năm Thọ nhìn ông Đước một hồi lâu. Hai ông già, một ông giữ cống, một ông chạy vịt, quen nhau từ hồi tóc còn đen. Rồi ông Năm Thọ đặt cây sào xuống, quay vô chòi gọi vợ.
– Bà ơi, dọn đồ. Anh Ba Đước nói đi thì đi.
Lùa hai nghìn con vịt dọc mấy cây số bờ bao không giống bất cứ việc gì Sa từng làm. Ông Năm Thọ đi trước, cây sào cờ đỏ phất lên phất xuống. Bà Năm Huệ đi sau chót với cái xuồng chở đồ. Bé Tí và Sa đi hai bên. Đàn vịt cuộn đi trên bờ bao như một dòng sữa đặc, lúc dồn lại, lúc dãn ra, kêu inh ỏi.
Tới một khúc bờ bao bị lở, đàn vịt dồn cục lại, chen nhau, mấy con rớt xuống nước. Sa chạy lên đứng chắn đầu, dang tay ra.
– Cô ơi, đừng! – Bé Tí la. – Cô đứng chắn là tụi nó dồn lại đó! Cô chừa đường cho tụi nó đi!
Sa đứng sững. Bé Tí chạy lên, kéo tay cô tránh sang một bên, rồi vung cây sào nhỏ của nó, chỉ về phía khúc bờ còn nguyên. Đàn vịt thấy chỗ trống, ùa qua, chảy tiếp như nước tìm được ngõ.
– Vịt nó vậy đó cô. – Bé Tí nói, giọng người lớn. – Mình chừa đường thì nó đi. Mình chắn thì nó loạn.
Mười một giờ trưa thứ Tư, đàn vịt của ông Năm Thọ đã ra khỏi Đồng Muối, lên tới cánh đồng cao phía sau con lộ Gò Me. Ông Đước ngồi trên bờ ruộng thở dốc, tay đặt lên ngực, nhưng mặt ông tươi.
Hai giờ chiều, ở hầm B, cái loa trên trần lên tiếng khi Sa vừa bước vô.
– Em tìm được một megawatt. – Giọng nói. – Tắt đèn chiếu sáng mặt đê. Ngưng ba bơm dự phòng ở trạm Một. Ngưng sưởi trong hầm cáp. Từ chín giờ tới nửa đêm. Đủ căng một nửa tuyến. Thêm một phân rưỡi.
– Còn cái cống?
– Nếu mở hết trước chín giờ kém mười, cắt tám phân sáu. Cộng một phân rưỡi, là mười phân một.
Sa đứng im. Ông Lạp ngồi trên ghế xếp, lẩm nhẩm cộng trên đầu ngón tay. Tường đã xuống từ trưa, ngồi bệt dưới sàn, tựa lưng vô cái giá điều khiển, cầm một tờ giấy gấp làm tư, trên đó kín những con số viết tay. Anh đọc lại một lần nữa, rồi gấp tờ giấy lại.
– Mười một trừ mười phân một. – Anh nói. – Thiếu chín ly.
Không ai nói gì. Cái Nong ù ù.
– Gần một phân. – Tường nói thêm, khẽ hơn, như nói với chính mình.
— Hết chương 24 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe