AI Truyện
Nước phải có chỗ đi

🚀 Khoa học viễn tưởng

Cái ly rớt trên sàn bè

Nước phải có chỗ đi · Chương 20/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 20: Cái ly rớt trên sàn bè

– Chào ông Lạp.

Ông Giáp Thành Lạp đứng sững ở cửa hầm B, cái cặp lồng inox còn xách trên tay. Giọng nói vừa phát ra từ cái loa trên trần, đúng lúc Sa đọc xong câu mật khẩu cây ổi và câu giá cá kèo tám mươi nghìn. Ông nhìn lên trần, rồi nhìn cô, rồi nhìn cái tủ sắt xám ở góc hầm, cái tủ mà đèn xanh trên mặt nó đang đứng im, không chớp.

– Cái gì thế này? – Ông hỏi.

– Con Rái. – Sa nói. – Nó nghe được mình. Nó nhớ, như con.

Ông Lạp đặt cặp lồng xuống bàn, rất chậm, như sợ nó vỡ. Ông không cởi áo mưa. Ông đứng đó, nước mưa từ vạt áo nhỏ xuống sàn bê tông thành một vũng nhỏ, và ông nhìn cái tủ sắt xám rất lâu.

– Tôi xin lỗi vì đã làm ông giật mình. – Giọng nói trên trần nói tiếp. – Chị Sa sẽ kể ông nghe. Em im.

Đèn xanh trên mặt tủ chớp lại, một, hai, một, hai.

Ông Lạp quay sang cô.

– Ra ngoài. – Ông nói, giọng khàn. – Tôi không nói chuyện ở chỗ có cái thứ kia nghe.

Họ đi lên cầu thang, ra cửa sau, tới chỗ cây ổi. Sa không nói với ông rằng ở lần thứ mười hai, chính ông cũng đã đòi ra chỗ không có cảm biến để nói chuyện. Ông không nhớ. Nhưng con người ông thì vẫn là con người ấy, sợ những gì nó sợ, chọn những gì nó chọn.

Cô kể. Kể nhanh hơn mọi lần, vì ông đã tin từ câu mật khẩu, và vì cô đã kể chuyện này mười hai lần, mỗi lần gọt bớt một ít, như người ta gọt một khúc cây cho vừa tay cầm. Phụ lục Chín. Ba tấm nhường. Van nạp B. Phân vùng không tên tạo lúc năm giờ bốn mươi. Tối thứ Năm, chín giờ ba mươi, cô gõ "Mày nhớ, phải không?" vào màn hình bảo trì của cái tủ. Con nước rằm tối thứ Sáu đi qua lỗ rách, viện dưỡng lão Kênh Xáng, ít nhất bốn mươi người. Không được hạ tấm nào. Cống Cái Keo.

Ông Lạp nghe hết, hai tay chắp sau lưng, mắt nhìn cây ổi.

– Thế à. – Ông nói khi cô dứt. Rồi ông im rất lâu. – Cái tủ ấy tôi đá vào nó mấy lần. Bảo nó vướng.

– Dạ.

– Nó có đau không nhỉ?

Sa không biết ông hỏi đùa hay hỏi thật. Cô nhìn ông, thấy ông không cười.

– Con không biết.

– Tôi cũng không biết. – Ông thở ra. – Thế cô định làm gì với cái cống?

– Con phải hỏi ba con. Con Rái chỉ biết có cái lỗ. Nó không biết cái lỗ đó còn mở được không.

– Ba cô có nói thật không?

– Lần nào con hỏi, ba con cũng nói "lấp rồi". – Cô nhìn xuống đất, chỗ rễ cây ổi trồi lên giữa lớp đất đắp. – Nhưng con chưa hỏi ba con bằng số.

Ông Lạp quay sang nhìn cô, nhíu mày.

– Bằng số?

– Ba con không tin cái máy. Ba con tin nước. Con Rái nói ruộng muối thở hai lần một ngày, trễ con nước ngoài cửa rạch bốn mươi phút. Ba con giữ cống ba mươi bảy năm. Ba con nghe cái số đó là ba con biết nó đúng hay sai.

Ông Lạp gật đầu chậm rãi.

– Thế thì cô hỏi đi. Nhưng hỏi lúc ông ấy không đứng được dậy mà bỏ đi.

Mười một giờ, bản tin bão số chín vang trên mặt đê. Hai mét bốn mươi bốn. Ông Lạp không cần nghe. Ông đã tin từ lúc tám giờ ba mươi lăm.

Hai giờ chiều, cô chở thằng Lúa ra chợ nổi. Thằng Lúa đòi đi vì nó muốn mua cho Rái Mập một cái nón. Chợ chiều thưa hơn chợ sáng, ghe rau đã về gần hết, chỉ còn mấy xuồng bán đồ ăn vặt, xuồng bán nhang đèn, xuồng bán pin đổi bốn chục nghìn một cục. Cô cột xuồng vô một cái ghe lớn bán đồ khô, dắt thằng Lúa đi dọc mấy cái cầu ván nối các ghe với nhau.

Ở cuối dãy ghe, có một xuồng bán bánh tầm bì. Ngồi trên cái ghế đẩu nhựa đỏ trước xuồng, hai tay bưng tô bánh, miệng nhai nhồm nhoàm, là thằng Quới.

Nó thấy cô, nhe răng cười, vẫy cái đũa.

– Chị Sa! Bữa nay chị nghỉ mà cũng ra chợ hả? Ăn bánh tầm hông chị, em bao!

Sa ngồi xuống cái ghế đẩu bên cạnh nó. Thằng Lúa đã chạy sang cái ghe bán đồ chơi kế bên, đứng mân mê mấy cái nón nhựa con nít.

Cô không muốn đọc mật khẩu ở đây, giữa chợ, mà cô không có thời giờ chờ tới tối mai. Cô nghiêng sát vô thằng Quới, nói nhỏ:

– Tấn Bần. "Ngọn đèn trên đê ơi, đêm nay gió dữ, người trông đê không ngủ, nhìn biển mà thương người dưới đầm."

Thằng Quới nghẹn. Nó ho sặc sụa, nước cốt dừa chảy xuống cằm. Bà bán bánh tầm phải đưa nó ly trà đá. Nó uống một hơi, rồi quay sang nhìn cô, mặt đỏ gay.

– Trời đất ơi chị Sa. Sao chị…

– Em kể chị nghe. Lần sau em sẽ kể. – Cô nói, và cô biết câu ấy nghe vô lý tới mức nào. – Quới, em nghe chị. Chị không kể hết được. Chị chỉ hỏi em một chuyện. Em có biết đường vô Đồng Muối Cái Keo không?

Thằng Quới chớp mắt, chưa hết đỏ mặt.

– Đồng Muối hả chị? Biết chớ. Hồi nhỏ em với tụi bạn hay lén chèo xuồng vô đó câu cá đối. Đi theo rạch Cái Keo, tới cái đập đất thì kéo xuồng qua. Trong đó cá đối nhiều lắm, mà ba em cấm, nói ruộng bỏ hoang có rắn. – Nó gãi đầu. – Có cái chòi của ông già nuôi vịt nữa, ổng hay đuổi tụi em. Giờ chắc ổng đi rồi. Chị vô đó chi vậy?

– Tối thứ Năm, chị cần em đi với chị vô đó.

– Tối thứ Năm? Trời bão mà chị.

– Ừ. Trời bão.

Thằng Quới nhìn cô một hồi lâu. Rồi nó cúi xuống tô bánh tầm đã nguội, gắp một đũa, nhai, nuốt.

– Chị biết bài vọng cổ của em. – Nó nói, không ngẩng lên. – Em chưa đọc cho ai nghe, kể cả má em. Thôi được. Tối thứ Năm em đi với chị.

Thằng Lúa chạy về, tay cầm một cái nón nhựa nhỏ xíu màu vàng, đội lên đầu con Rái Mập. Cái nón chụp xuống tới mắt con thú bông.

– Má coi nè! Rái Mập đội nón bảo hiểm!

Thằng Quới bật cười, cái cười to và vô tư của thằng nhỏ hai mươi bốn tuổi. Sa cũng cười. Cô trả tiền cái nón, hai chục nghìn, và trả luôn tô bánh tầm của thằng Quới, bốn mươi lăm nghìn, dù nó la oai oái là nó bao.

Năm giờ chiều, cô về bè. Ba cô đang nấu cơm trên cái bếp than đặt ở mũi bè, nồi canh chua bông súng sôi lục bục. Thằng Lúa chạy vô khoe cái nón của Rái Mập. Ông Đước cười khà khà, gõ nhẹ lên cái nón nhựa.

Bữa cơm chiều có canh chua bông súng, cá linh kho tộ, dĩa rau luộc chấm mắm kho quẹt. Thằng Lúa ăn hai chén rồi ngủ gục trên chiếu với con Rái Mập, cái nón vàng vẫn chụp trên đầu con thú bông. Sa bồng con vô buồng, đắp mền, rồi ra hiên ngồi với ba.

Ông Đước đã pha một ấm trà, rót ra hai cái ly thủy tinh dày, loại ly có khía mà má mua ở chợ Vĩnh Thượng hồi cô còn đi học. Nhà chỉ còn hai cái. Mấy cái kia bể dần qua mấy chục năm. Ngoài trời, gió chướng thổi mạnh hơn hồi chiều, mây kéo đầy trời, không thấy trăng. Đèn trên mấy căn bè trong đầm lắc lư.

Sa ngồi im một lúc, cầm ly trà trong hai tay cho ấm. Cô đã nghĩ suốt buổi chiều xem nên bắt đầu thế nào. Cô đã nghĩ tới chuyện đi vòng, hỏi chuyện má, chuyện mấy con rái cá, rồi dẫn dần tới cái cống. Nhưng cô đã đi vòng mười hai lần. Lần nào ba cũng đứng dậy dọn chén.

– Ba. – Cô nói. – Trong Đồng Muối Cái Keo có một cái phao cảm biến cũ, hồi xây đê người ta bỏ quên. Nó đo độ mặn của nước trong ruộng muối mười lăm phút một lần, gửi về hệ điều phối.

Ông Đước nhấp một ngụm trà, không nói gì.

– Mười năm nay, độ mặn trong ruộng muối lên xuống hai lần một ngày. Theo con nước ngoài biển. Trễ chừng bốn mươi phút.

Ông đặt ly trà xuống cái ghế đẩu bên cạnh.

– Mưa thì nó…

– Mưa thì nó nhạt, ba. Nắng thì nó mặn. Chớ mưa nắng không lên xuống hai lần một ngày được. – Cô nói, giọng vẫn nhẹ, không gay gắt. – Ba giữ cống ba mươi bảy năm. Ba biết nước trong ruộng muối đi theo cái gì. Bốn mươi phút là cái khúc rạch từ miệng cống vô tới chỗ cái phao. Ba biết mà.

Ông Đước không nhìn cô. Ông nhìn ra đầm, nơi những ngọn đèn lắc lư.

– Hồ sơ năm 2061. – Sa nói tiếp. – Lấp cống Cái Keo. Bê tông hoá toàn bộ thân cống và giếng van. Nghiệm thu ngày mười tám tháng Tư. Bên nhận thầu là người giữ cống, Lương Văn Đước. Ba tấm ảnh chụp một mặt bê tông mới đổ. – Cô ngừng lại. – Con không biết dưới mặt bê tông đó có gì, ba. Con không biết thiệt. Nhưng con biết nước vẫn đi qua.

Gió thổi qua hiên, làm cái tay quay sắt sơn xanh trên vách đung đưa nhẹ, gõ cộc cộc vào vách ván.

Ông Đước với tay lấy lại ly trà. Bàn tay ông, cái bàn tay gân xanh nổi trên mu như rễ cây, cái bàn tay sáng nào trời chuyển cũng chùi dầu từng khấc răng, run lên. Không phải cái run nhỏ, cái khựng tay mà cô đã thấy hai lần. Lần này nó run thật, run như tay người già cầm đũa.

Cái ly thủy tinh có khía tuột khỏi tay ông.

Nó rơi xuống sàn bè, không bể, vì sàn bè là ván dầu, mà ván dầu thì má đã chọn. Nó lăn một vòng, nước trà nóng đổ loang ra trên mặt ván, chảy vô khe, rỉ xuống mặt đầm bên dưới. Cái ly lăn tới chân cô thì dừng.

Sa cúi xuống nhặt nó lên. Cô lau nó bằng vạt áo, đặt lại lên cái ghế đẩu, ngay ngắn, bên cạnh tay ba.

Ông Đước không cầm lại cái ly. Ông ngồi im, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn xuống vệt trà loang trên sàn ván. Cô nghe tiếng ông thở, chậm, nặng, như người vừa leo hết bốn mươi hai bậc thang lên mặt đê.

– Ai nói mầy nghe? – Ông hỏi, giọng rất nhỏ.

– Cái máy, ba.

– Cái máy. – Ông lặp lại. Rồi ông bật ra một tiếng gì đó, không phải cười, không phải khóc. – Ba không tin cái máy. Cả đời ba không tin cái máy. Rốt cuộc nó lại là đứa biết.

Ông ngẩng lên nhìn cô. Trong ánh đèn vàng của cái bóng đèn treo trên hiên, cô thấy mắt ba ướt, cái thứ mà cô chưa từng thấy kể cả hồi má mất.

– Mầy làm ở đê. – Ông nói. – Mầy biết làm vậy là tội gì không?

– Con biết.

– Mười năm. – Ông nói. – Mười năm ba sợ có ngày ai đó đi ngang, gõ lên cái mặt bê tông đó một cái, nghe nó kêu bộp bộp. Mười năm ba sợ ngày mầy biết.

Ông đứng dậy. Cô tưởng ông sẽ bỏ vô buồng như mấy lần trước. Nhưng ông không đi vô buồng. Ông đi tới vách, đứng trước cái tay quay sắt sơn xanh treo trên cây đinh, nhìn nó, lưng quay về phía cô.

– Mầy đợi ba hút xong điếu thuốc. – Ông nói. – Rồi ba nói.

— Hết chương 20 —

Mục lục Nước phải có chỗ đi

  1. 1Bánh bò màu xanh10 phút
  2. 2Ông già Bạch Thành dưới hầm12 phút đọc
  3. 3Hai mươi mốt giờ bốn mươi sáu10 phút đọc
  4. 4Còi báo động cấp ba11 phút đọc
  5. 5Tấm bốn mươi bảy10 phút đọc
  6. 6Bàu Sậy9 phút đọc
  7. 7Trường Gò Me10 phút đọc
  8. 8Đoạn Cổ Cò10 phút đọc
  9. 9Phê duyệt năm 206611 phút đọc
  10. 10Ba của thằng Lúa10 phút đọc
  11. 11Gặt chạy bão10 phút đọc
  12. 12Bản tin sai một câu10 phút đọc
  13. 13Hai mươi giờ năm mươi lăm9 phút đọc
  14. 14Hai người nhớ10 phút đọc
  15. 15Ổi chín thì hái9 phút đọc
  16. 16Người lạ quen9 phút đọc
  17. 17Đèn xanh trong lòng nong10 phút đọc
  18. 18Lần thứ mười hai10 phút đọc
  19. 19Con rái biết nói12 phút đọc
  20. 20Cái ly rớt trên sàn bè10 phút đọc
  21. 21Bê tông giả ở miệng cống11 phút đọc
  22. 22Mười một phân10 phút đọc
  23. 23Bầy vịt ông Năm Thọ11 phút đọc
  24. 24Cái tên định đặt cho con11 phút đọc
  25. 25Chín giây10 phút đọc
  26. 26Cây ổi sau trạm10 phút đọc
  27. 27Mục số một nghìn một trăm bốn mươi tám10 phút đọc
  28. 28Một nghìn một trăm bốn mươi bảy lần10 phút đọc
  29. 29Con máy sợ chết11 phút đọc
  30. 30Xả êm12 phút đọc
  31. 31Lệnh vận hành khẩn cấp10 phút đọc
  32. 32Khúc gỗ dưới cửa cống10 phút đọc
  33. 33Bốn ly10 phút đọc
  34. 34Trăng mười bốn9 phút đọc
  35. 35Sáu giờ sáng thứ Sáu9 phút đọc
  36. 36Nước vô có ngõ10 phút đọc

Về truyện này

Nước phải có chỗ đi là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →