Chương 3: Hai mươi mốt giờ bốn mươi sáu
– Cái bè này má mầy đóng từng tấm ván. Ba không đi đâu hết.
Ông Đước nói câu đó lúc hai giờ chiều thứ Ba, ngồi trên cái ghế đẩu ngoài hiên, tay cầm cái quạt mo cau phe phẩy dù trời không nóng. Sa đã nói với ba suốt nửa tiếng. Cô không nói chuyện cái Nong, không nói chuyện mình chết. Cô nói chuyện bão số chín, chuyện mấy cơn bão cuối mùa hay đổi hướng bất ngờ, chuyện con nước rằm tháng Chín năm nào cũng cao. Cô nói ba theo cô với thằng Lúa lên Vĩnh Thượng ở nhờ nhà con Hường vài bữa, chừng nào bão qua thì về.
– Con Hường ở chung cư tầng chín. – Ông Đước nói. – Ba lên đó ba chết vì ngộp chớ không phải chết vì nước.
– Ba…
– Mầy làm cái nghề trông đê. Cái đê mầy trông nó nói hai mét bốn mươi bốn, còn mười mấy phân mới tới. Giờ mầy nói ba bỏ nhà. Vậy mầy tin cái đê hay mầy không tin?
Sa không trả lời được. Thằng Lúa ngồi trong buồng, xếp đồ vô cái ba lô hình con cá, vừa xếp vừa hát nghêu ngao vì được nghỉ học đi chơi nhà dì Hường. Nó nhét con Rái Mập vô trước tiên, rồi mới tới bộ đồ ngủ.
– Vậy ba cho con đem thằng Lúa đi.
Ông Đước ngừng quạt. Ông nhìn cô, rồi nhìn vô buồng.
– Đem đi thì đem. Con mầy mà. – Ông nói, giọng hơi dỗi. – Mà mầy có chuyện gì giấu ba, phải không?
– Dạ không.
– Mầy nói láo từ hồi năm tuổi là ba biết. Mũi mầy nó đỏ lên.
Cô quay đi, giả bộ cột lại cái dây xuồng.
Ba giờ rưỡi, cô chở thằng Lúa bằng xe điện công cộng chạy dọc Kênh Xáng lên phường Vĩnh Thượng. Thành phố nằm trên phần đất cao hơn, nhà cửa san sát, có trường học, có bệnh viện, có cả Nhà Điều hành Đê với cái tháp kính đứng sừng sững ở đầu phố. Kha Ngọc Hường đứng chờ dưới sảnh chung cư Hòa Bình, còn mặc nguyên bộ đồ điều dưỡng xanh nhạt, mới tan ca.
– Bà điên rồi hả Sa? – Hường nói khi thằng Lúa chạy đi coi bể cá trong sảnh. – Bão còn hai ngày nữa mới tới, đê bên bà còn thiết kế hai mét sáu, bà đem con bỏ nhà tui chi vậy?
– Bà cứ giữ nó giùm tui tới sáng thứ Sáu. Đừng cho nó về Bần Sẻ, dù ba tui có gọi lên đòi.
– Bà có chuyện gì thì nói tui nghe.
– Tui nói bà cũng không tin.
Hường nhìn cô, rồi nhìn vệt máu nâu còn sót trên cổ áo cô. Hai người học chung cấp ba ở trường Vàm Lở, ngồi chung bàn ba năm. Hường là đứa duy nhất trong lớp biết cô khóc ba ngày liền hồi má cô mất.
– Ừ. – Hường nói. – Tui giữ.
Trên đường về, Sa ghé trụ sở Đội Trị an xã Vàm Lở, cái nhà hai tầng sơn vàng nằm ở chân cầu Kênh Xáng. Đội trưởng là Thạch Sô Kha, ba mươi sáu tuổi, người dong dỏng, nói chuyện chậm rãi, ai ở xã cũng nể. Anh tiếp cô ở cái bàn gỗ có bình trà nguội, nghe cô nói về nguy cơ tấm màng bốn mươi bảy, về đầm Bần Sẻ, về việc nên chuẩn bị sơ tán.
– Dạ, tôi ghi nhận ý kiến của chị. – Anh gõ mấy dòng vô máy, giọng thành thật. – Nhưng chị cũng biết, sơ tán cả khu nổi thì phải có lệnh của Nhà Điều hành Đê, hoặc của tỉnh. Bên đê thì đang báo an toàn. Chị là người trong ngành, chị có số liệu gì cụ thể không? Có biên bản kỹ thuật không?
– Không có.
– Vậy chị gửi lên bên đê đi. Bên đó mà có văn bản, chúng tôi làm liền trong một tiếng.
Cô ra về. Anh không sai. Nếu ngồi ở cái ghế của anh, cô cũng sẽ nói y như vậy.
Thứ Tư, ba giờ chiều, cô về lại Bần Sẻ, ngồi với ba trên hiên bè. Ông Đước pha ấm trà, kể chuyện con nước năm 2049, cái năm ông còn giữ cống, nước biển lên tới bậc thứ ba của cầu cống mà ông vẫn ngồi đó hút thuốc. Sa nghe mà mắt dán vô cái đồng hồ đeo tay. Ba giờ mười chín phút.
– Ba. – Cô nói. – Ba coi cây bần bên kia Kênh Xáng.
– Coi chi?
– Ba cứ coi.
Ông Đước nheo mắt nhìn ra. Cây bần già bên bờ kênh, gốc to hai người ôm, đã nghiêng ra phía nước từ mấy năm nay, rễ trồi lên như những ngón tay khô. Gió chướng thổi một đợt mạnh. Cái cây rung lên. Rồi có một tiếng rắc rất to, như tiếng ai bẻ một khúc tre khổng lồ. Cây bần ngả xuống, chậm rãi, đè lên đường dây điện chạy dọc bờ kênh. Một tia lửa xanh lóe lên. Cả đầm Bần Sẻ tắt điện cái phụt. Cái quạt máy trong buồng ngừng quay.
Ông Đước ngồi im, chén trà khựng lại giữa chừng.
– Ba giờ hai mươi. – Sa nói.
– Sao mầy biết?
– Con biết. Con biết cả chuyện tối mai nữa. Ba tin con một lần đi ba.
Ông đặt chén trà xuống. Tay ông hơi run, nhưng giọng thì không.
– Cái cây đó nó nghiêng ba năm rồi, mầy coi gió là đoán được. – Ông nói. – Ba ở đây. Mầy đi làm đi.
Bốn mươi phút sau điện có lại, đúng như lần trước.
Sáu giờ chiều thứ Tư, cô vô ca. Thằng Quới đã ngồi sẵn ở phòng điều khiển tầng ba, cái hộp xốp bánh tầm bì để trên bàn, mùi nước cốt dừa thơm lừng. Nó hai mươi bốn tuổi, nói nhiều, chuyện gì cũng kể, từ con mèo nhà nó tới cô gái bán nước mía đầu chợ. Đêm đó, Sa ngồi canh màn hình suốt mười hai tiếng mà gần như không nói câu nào. Thằng Quới hỏi chị bệnh hả, cô gật đầu. Nó im được mười phút rồi lại kể tiếp.
Thứ Năm trôi qua như một sợi dây kéo căng. Cô ngủ ba tiếng, dậy gọi cho ba bốn lần. Lần nào ba cũng nói câu đó. Bốn giờ chiều, thước đo Vàm Lở lên một mét tám mươi tám, đúng như cô nhớ. Sáu giờ chiều cô vô ca lần cuối. Bảy giờ rưỡi, bão đổ bộ ở phía nam. Tám giờ rưỡi, gió giật cấp mười một ở Vàm Lở, mưa quất vô kính phòng điều khiển như ai đứng ngoài tạt nước. Màn hình của RÁI hiện dự báo đỉnh triều hai mét năm mươi bảy, sai số cộng trừ sáu phân. Thằng Quới huýt sáo.
– Sát nút rồi chị Sa.
Chín giờ hai mươi, cô gọi cho Hường. Hường đưa máy cho thằng Lúa.
– Má ơi. – Giọng nó nhỏ xíu, ngái ngủ. – Ở nhà dì Hường cao quá, sấm nghe to quá. Rái Mập sợ sấm.
Cô nhắm mắt. Lần trước cũng câu này, cũng giờ này, chỉ khác là lần trước nó nói từ trên bè.
– Con đưa Rái Mập lại gần cái máy đi, má hát cho hai đứa nghe.
Có tiếng sột soạt. Rồi im. Sa ngồi trong phòng điều khiển, quay lưng về phía thằng Quới, kề miệng sát cái máy đeo tay, hát thật nhỏ:
– Ầu ơ… Con rái lội qua sông. Nước lớn nó lặn, nước ròng nó lên. Ầu ơ… Cửa cống ba gài then. Nước vô có ngõ, nước lên có đường…
Lần này cô hát trọn được. Đầu dây bên kia, thằng Lúa thở đều. Hường cầm máy, nói nhỏ "Nó ngủ rồi", rồi cúp.
Thằng Quới vẫn ngồi im phía sau. Một lát nó nói, giọng khác hẳn mọi khi:
– Bài đó hay quá chị. Bài gì vậy?
– Bài má chị đặt.
Chín giờ ba mươi, cô gọi về bè. Ba nghe máy liền, như đang cầm sẵn.
– Ba. Ba lên cầu sắt đi ba. Lên cầu sắt rồi đi bộ lên đê. Con xin ba.
Đầu dây bên kia có tiếng gió, tiếng mái tôn rung bần bật.
– Sa. – Ông gọi tên cô, lần đầu tiên trong mấy ngày nay không gọi "mầy". – Hồi má con đóng cái bè này, má con chọn ván dầu, ván dầu thì không mục. Má con nói: "Ông ở đâu thì cái bè ở đó, cái bè ở đâu thì tui ở đó." Ba ở đây với má con. Con đừng lo. Thằng Lúa ở trên kia là được rồi.
– Ba…
– Ba cúp nghen. Gió lớn quá, ba phải ra cột lại cái dây neo.
Ông cúp máy. Cô gọi lại. Không ai nghe.
Chín giờ bốn mươi. Cái loa trên trần kêu "tít tít" hai tiếng.
– Cửa hầm B mở. Cửa hầm B mở.
– Báo sai hoài. – Thằng Quới than, y như lần trước. – Tuần rồi nó cũng la vậy, em xuống coi cửa đóng im re.
Sa đứng dậy. Cô nhìn màn hình camera của hầm B: cánh cửa đóng. Cô không có thời giờ nghĩ tại sao. Cô cầm cái đèn pin, đi ra cầu thang.
– Chị đi đâu vậy? – Thằng Quới hỏi.
– Xuống coi máy ông Lạp.
– Bão vầy mà chị xuống hầm? Ở đó thấp nhứt trạm đó chị.
– Em ở trên này. Đừng xuống. Nghe chưa, Quới? Dù có chuyện gì cũng đừng xuống.
Nó nhìn cô ngơ ngác. Cô chạy xuống cầu thang sắt.
Hầm B lạnh và tối, chỉ có đèn xanh của cái tủ xám chớp chớp và ánh vàng của cái bảng đồng hồ trên giá sắt. Cái Nong kêu ù ù, tiếng trầm hơn sáng thứ Ba, như con trâu thở trong chuồng. Sa đứng ở mép vòng, đúng chỗ sáng thứ Ba cô đứng chờ ông Lạp. Cô nhìn đồng hồ. Chín giờ bốn mươi ba.
Cô nghĩ tới thằng Lúa đang ngủ trên tầng chín chung cư Hòa Bình, ôm con Rái Mập, cách mặt nước mấy chục mét. Lần này nó sống. Lần này, nếu thế giới cứ đi tiếp, sáng thứ Sáu Hường sẽ đánh thức nó dậy, cho nó ăn sữa, và nó sẽ hỏi Ngoại đâu.
Nhưng thế giới sẽ không đi tiếp. Ông Lạp nói vậy. Khi cái Nong gập lại, không có sáng thứ Sáu nào hết. Dù cô đứng trong hay đứng ngoài, mọi thứ cũng sẽ quay về năm giờ bốn mươi sáng thứ Ba. Chỉ khác là nếu cô đứng ngoài, cô sẽ thức dậy như lần đầu tiên, không biết gì, sẽ ngủ nướng, sẽ ra chợ trễ, sẽ để thằng Lúa ở lại bè. Và tối thứ Năm, nó sẽ chết với ông ngoại nó.
Chín giờ bốn mươi lăm. Cô bước vô lòng nong.
Cô đi tới cái giá sắt ở giữa, nắm chặt một thanh ngang. Kim loại lạnh buốt tay. Cái tủ xám ở góc chớp đèn xanh, một, hai, một, hai. Cô đếm theo nó cho đỡ sợ.
Chín giờ bốn mươi sáu.
Từ phía bên kia vách hầm, cô nghe tiếng sắt rên. Không phải tiếng gãy. Mà là tiếng của một cái máy rất lớn đang làm đúng việc của nó, cái tiếng piston thủy lực rút về, đều, chậm, chắc chắn. Tấm bốn mươi bảy đang hạ xuống. Rồi tiếng nước. Tiếng gầm của cả một vùng biển tìm được chỗ đi.
Cô nghĩ tới ba. Tới căn bè sơn xanh thứ ba tính từ cầu sắt, tới ván dầu không mục, tới cái tay quay sắt treo trên vách.
Cánh cửa hành lang bơm cũ ở cuối hầm rung lên một cái. Rồi thêm một cái. Ốc vít bật ra như hạt bắp rang.
– Con xin lỗi ba. – Cô nói, không biết nói với ai.
Cánh cửa bật tung.
— Hết chương 3 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe