Chương 7: Trường Gò Me
– Tấn Bần. "Ngọn đèn trên đê ơi, đêm nay gió dữ, người trông đê không ngủ, nhìn biển mà thương người dưới đầm."
Thằng Quới đánh rơi hộp bánh tầm bì xuống sàn phòng điều khiển. Nước cốt dừa văng lên ống quần nó. Nó không cúi xuống nhặt, chỉ đứng đó, miệng há ra, nhìn cô như nhìn một người vừa đọc trúng mật khẩu tài khoản ngân hàng của nó.
– Sao… sao chị biết?
– Em kể chị nghe. – Sa nói. – Lúc gài chốt tấm bốn mươi bảy, ba giờ sáng, gió cấp bảy. Em nói không ai trong trạm biết hết, em sợ tụi nó cười.
– Em chưa gài chốt tấm nào với chị hết.
– Chưa. – Cô nói. – Đêm nay em sẽ gài hai tấm. Chị kể em nghe tại sao.
Sáu giờ tối thứ Tư, lần thứ năm. Cô kể cho thằng Quới nghe ít hơn kể cho ông Lạp. Cô không kể chuyện cái Nong, chỉ nói cô biết chắc tấm bốn mươi bảy và tấm tám mươi tám sẽ có chuyện tối mai, cô có lý do, cô sẽ giải thích sau. Thằng Quới nghe xong, nhặt hộp bánh tầm bì lên, bỏ vô sọt rác, rồi với lấy cái áo phao.
– Chị biết bài vọng cổ của em thì em tin chị. – Nó nói. – Em chưa đọc nó cho ai nghe, kể cả má em.
Họ gài chốt tấm bốn mươi bảy từ mười giờ tới mười hai giờ rưỡi đêm. Lần này nhanh hơn, vì cô nhớ cây chốt nào phải gõ mạnh, cái lỗ nào bị lệch nửa ly. Rồi họ lái xe công vụ chạy bảy cây số về phía nam, tới tấm tám mươi tám. Gió ở đoạn này mạnh hơn, mặt đê trơ trọi không có trạm nào che. Cái hốc bản lề của tấm tám mươi tám ngập nước tới mắt cá. Họ làm tới năm giờ sáng. Lúc cây chốt cuối cùng chui vô lỗ, trời đã hừng đông, phía biển một vệt hồng nhạt hiện ra dưới đám mây đen như một vết thương sắp lành.
Thằng Quới ngồi bệt xuống mặt đê, thở dốc.
– Chị Sa. Em hỏi chị một câu, chị trả lời thiệt nghen.
– Ừ.
– Chị có bị bệnh gì không? Em thấy chị chảy máu mũi hoài.
– Không. Chị chỉ đang làm một chuyện rất lâu.
Hai giờ rưỡi chiều thứ Tư, trước đó mấy tiếng, cô đã ngồi ở trụ sở Đội Trị an, đối diện đội trưởng Thạch Sô Kha. Cái bàn gỗ, bình trà nguội, cái cửa sổ nhìn ra chân cầu Kênh Xáng. Anh nghe cô nói về tấm màng, về sơ tán, giống hệt lần thứ hai. Anh trả lời giống hệt lần thứ hai: "Dạ, tôi ghi nhận ý kiến của chị." Cô để anh nói xong.
– Anh Kha. Anh coi đồng hồ đi. Hai giờ năm mươi. Ba mươi phút nữa, ba giờ hai mươi, cây bần già bên kia kênh, cái cây nghiêng ra nước đó, sẽ ngã. Nó đè lên đường dây điện. Cả khu nổi Bần Sẻ sẽ cúp điện bốn mươi phút.
Anh Kha nhìn cô, rồi nhìn ra cửa sổ. Cái cây đứng đó, nghiêng, rễ trồi lên như những ngón tay khô.
– Cây đó nghiêng ba năm nay rồi chị.
– Tui biết. Tui không đoán. Tui nói giờ. Ba giờ hai mươi. Nếu nó ngã đúng giờ, anh nghe tui nói tiếp. Nếu không, tui về, anh khỏi ghi gì hết.
Anh không trả lời. Anh rót thêm trà cho cô, rót cho mình, rồi ngồi đó, thỉnh thoảng nhìn ra cửa sổ. Trên bàn anh có cái khung ảnh nhỏ, một đứa bé gái tóc cột hai chùm, mặc áo đầm vàng, đang cười toe toét với một cái bánh kem.
– Con gái anh hả?
– Dạ. Bé Sa Ly. – Anh cười, lần đầu tiên. – Trùng tên chị một nửa. Thứ Năm này nó tròn năm tuổi. Mà bão vầy, chắc tôi phải trực, không về kịp thổi nến với nó.
Ba giờ mười chín, Sa đặt chén trà xuống. Anh Kha cũng đặt chén trà xuống.
Ba giờ hai mươi. Một tiếng rắc rất to. Cây bần ngả xuống, chậm rãi, đè lên đường dây điện. Tia lửa xanh lóe lên. Ngọn đèn trên trần trụ sở chớp một cái rồi tắt, vì trụ sở cũng chung đường dây với khu nổi. Trong căn phòng chợt tối, cô nghe tiếng anh Kha thở ra, rất chậm.
– Chị muốn tôi làm gì? – Anh hỏi.
Thứ Năm, tám giờ sáng, xã Vàm Lở phát lệnh sơ tán phòng ngừa cho khu nổi Bần Sẻ và vùng đìa tôm Bàu Sậy, do ông Chủ tịch xã ký, theo đề nghị của Đội Trị an. Lý do ghi trong lệnh là "dự báo bão số chín có diễn biến phức tạp". Nhà Điều hành Đê gọi xuống hỏi, ông Chủ tịch xã nói: xã có quyền sơ tán dân của xã, bên đê cứ lo đê. Người ta đưa dân đi bằng xuồng của Đội Trị an, bằng ghe của bà con, giữa ban ngày, trời còn sáng, gió mới cấp sáu. Không ai la hét, không có ghe cát nào chạy không đèn. Điểm đến là Trường Tiểu học Gò Me ở km hai, điểm trú bão chính thức của xã, hai tầng, xây bê tông cốt thép năm 2063, có kho gạo, có máy phát.
Ông Đước chịu đi. Nhưng ông đặt một điều kiện.
– Thằng Lúa đi với ba. – Ông nói, đứng trên hiên bè, cái ba lô cũ đeo trên vai, cái tay quay sắt sơn xanh đã được gói bằng bao ni lông nhét vô ba lô. – Mầy đi làm thì ai coi nó? Đi lên nhà con Hường rồi nó khóc đòi Ngoại. Ba đi thì ba dắt nó theo. Không thì ba ở lại.
Sa nhìn ba, nhìn thằng Lúa đang đứng sau lưng ông, ôm con Rái Mập, hớn hở vì được đi chơi trường. Cô nghĩ tới Trường Gò Me, hai tầng bê tông, nằm sau tấm màng số mười hai, cái tấm đời mới nhất trên cả tuyến đê. Cô đã khoá tấm bốn mươi bảy, đã khoá tấm tám mươi tám. Không còn tấm nào yếu nữa.
– Dạ. – Cô nói. – Ba dắt nó đi.
Mười một giờ trưa, cô đứng trên mặt đê, nhìn đoàn xuồng cuối cùng rời đầm Bần Sẻ. Xuồng dì Tư Mến đi sau chót, cái nồi cháo lòng còn buộc trên mũi, dì ngồi chèo, tóc bạc bay trong gió. Dì thấy cô, giơ tay lên vẫy, la một câu mà gió cuốn mất nửa. Cô chỉ nghe được chữ "con Sa".
Chiều thứ Năm, mặt đầm Bần Sẻ trống trơn. Ba trăm căn bè tắt đèn, chỉ còn mấy căn của mấy người nhứt định không đi, Đội Trị an đã lập biên bản. Ở Bàu Sậy, mấy chòi canh tôm cũng trống. Chú Hai Lẹ, nghe nói, la ó một hồi vì đìa tôm sắp thu hoạch, rồi cũng đi.
Chín giờ bốn mươi lăm tối thứ Năm, Sa ngồi ở bàn điều khiển, thằng Quới ngồi bên cạnh. Dự báo đỉnh của RÁI ở Đoạn Cổ Cò vẫn là hai mét bảy mươi mốt. Hai ô tấm bốn mươi bảy và tám mươi tám màu vàng, chốt bảo trì đã gài.
Chín giờ bốn mươi sáu. Ô bốn mươi bảy nhấp nháy đỏ một cái: "Lỗi chấp hành tấm 47." Hai mươi tám giây sau, ô tám mươi tám nhấp nháy đỏ: "Lỗi chấp hành tấm 88."
Cô nín thở.
Chín giờ bốn mươi sáu phút năm mươi giây. Ở tận đầu bắc màn hình, ô tấm mười hai nháy đỏ, rồi chuyển sang màu đen. Một dòng chữ chạy ngang: "Tấm 12 hạ khẩn 21:46:50".
– Không. – Cô nói. – Không, không, không.
Cô phóng to camera tấm mười hai. Hình nhòe. Một vệt trắng xóa. Phía sau tấm mười hai là Đồng Gò Me, là ruộng lúa đang chờ gặt, là con đường đất dẫn vô Trường Tiểu học Gò Me. Hai tầng bê tông, có kho gạo, có máy phát, có mấy trăm người dân của đầm Bần Sẻ và Bàu Sậy.
Cô bấm số của ba. Máy báo bận. Cô bấm số của Hường, rồi nhớ ra Hường không có ở đó. Cô bấm lại số của ba. Không ai nghe.
Mười giờ năm phút, điện thoại của cô rung. Số của ba. Cô bấm nghe, và giọng thằng Lúa vang lên, khàn đặc, lẫn tiếng gió và tiếng người la:
– Má ơi! Má ơi, nước lên tới bàn rồi má! Ngoại bồng con lên mái! Má ơi…
– Lúa! Lúa, con ở trên mái hả? Ngoại có đó không?
– Ngoại đây! – Giọng ông Đước chen vô, gào lên. – Ba với nó ở trên mái tôn! Nước lên tới tầng hai rồi! Dưới kia… dưới kia nhiều người lắm Sa ơi…
Rồi đứt.
Mười giờ mười lăm, cái đài liên lạc khẩn bắt đầu đọc. Trường Gò Me. Nước tràn qua cửa sổ tầng một trong vòng bốn phút. Cầu thang lên tầng hai chật cứng người. Có người bị đẩy ngã. Có người ở trong kho gạo, cửa kho mở vô trong, nước đè lên không mở ra được.
Cô không chờ đài đọc hết. Cô đứng dậy, đi xuống cầu thang sắt.
Ông Lạp ngồi trên cái ghế xếp, mép lòng nong. Ông đã nghe. Ông không nói gì, chỉ nhìn cô.
Cô đứng ở giữa vòng, tay đặt lên cái nắp nhựa trong của cái nút đỏ. Điện thoại cô lại rung. Số của ba.
– Má ơi. – Thằng Lúa nói, nhỏ hơn, như đã khóc hết sức. – Má ơi, có xuồng tới rồi. Mấy chú cứu hộ tới rồi. Ngoại nói con không được buông tay Ngoại. Rái Mập rớt xuống nước rồi má. Má ơi, má có tới không?
Cô đứng đó, điện thoại áp vô tai, nghe tiếng con thở. Hơi thở đứt quãng, khọt khẹt, của một đứa con nít bảy tuổi vừa khóc xong. Nó sống. Nó đang ngồi trên mái tôn của một ngôi trường, ôm cổ ông ngoại, chờ một chiếc xuồng cứu hộ. Nó sẽ sống. Ba cô sẽ sống. Sáng thứ Sáu, nó sẽ khóc đòi con Rái Mập, cô sẽ mua cho nó một con khác.
Và dưới mái tôn đó, dưới làn nước đục ngầu tràn ngập tầng một và cầu thang của Trường Tiểu học Gò Me, có những người cô đã đưa tới đó bằng chính tay mình.
– Má ơi?
– Má đây. – Cô nói. – Má thương con. Con nghe má nói nè. Con nắm tay Ngoại thiệt chặt. Con đừng sợ. Con nghe chưa?
– Dạ.
– Má hát cho con nghe nghen.
Cô hát. Giọng cô run, lạc nhịp, mà cô vẫn hát.
– Ầu ơ… Con rái lội qua sông…
Cô lật cái nắp nhựa trong lên. Mười giờ hai mươi.
– …Nước lớn nó lặn…
Dưới hầm, ông Lạp đứng dậy, bước ra cửa, đứng bên ngoài vòng bán kính ba mét. Ông không nói một câu, chỉ cúi đầu.
Cô nghe con thở trong điện thoại. Một hơi. Rồi một hơi nữa.
Cô bấm nút đỏ trong lúc con mình còn đang thở trong điện thoại.
Năm giờ bốn mươi. Bàn chân thằng Lúa gác lên cổ cô. Lần thứ sáu.
Sa không ngồi dậy. Cô nằm im, nghe con thở bên cạnh, thở đều, ngon lành, không khọt khẹt, không đứt quãng. Cô nằm như vậy rất lâu, cho tới khi cái loa đầu cầu sắt rè lên, đọc bản tin thủy văn sáng thứ Ba.
Sáu giờ mười, xuồng dì Tư Mến cụng vô cọc bè. Cái vá nhôm rớt xuống nước. Dì chửi.
– Cháo lòng nè! Con Sa, ăn hông con?
Sa bước ra hiên. Dì Tư Mến ngồi trên xuồng, tóc bạc bay trong gió, cái nồi cháo bốc khói trắng. Cô nhìn dì một hồi lâu, lâu tới mức dì phải hỏi lại.
– Bộ bệnh hả con? Mặt xanh như tàu lá.
– Dạ không. – Cô nói. – Con chỉ muốn nhìn dì.
Dì Tư cười, cái cười móm mém, rồi múc cho cô hai tô cháo. Lần này cô không đánh rơi tiền.
— Hết chương 7 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe