AI Truyện
Nước phải có chỗ đi

🚀 Khoa học viễn tưởng

Còi báo động cấp ba

Nước phải có chỗ đi · Chương 4/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Còi báo động cấp ba

– Má ơi, hồi má học lớp Một, cô giáo má tên gì?

Thằng Lúa hỏi câu đó lúc bảy giờ sáng thứ Ba, lần thứ ba. Nó ngồi xếp bằng trên chiếu, cầm cây bút sáp màu cam, tô một cái thiệp có hình bông hoa sáu cánh méo xẹo. Ngày Nhà giáo còn mười bảy hôm nữa, nhưng cô Út dạy lớp nó dặn tụi nhỏ làm thiệp trước để kịp phát.

– Con hỏi chi?

– Con ghi lên thiệp: "Con tặng cô Út, má con cũng có cô giáo tên…" Mà con không biết tên.

Sa mở miệng định trả lời. Cái tên nằm ngay đó, cô biết nó nằm ngay đó, như một bậc thang mình bước lên mỗi ngày. Cô nhớ cái lớp học mái lá ở ấp Cái Rô, nhớ cái bảng đen có vết nứt hình tia chớp. Nhớ người cô giáo mặc áo bà ba trắng, búi tóc, cầm cây thước tre gõ lên bàn ba cái mỗi khi lớp ồn. Cô nhớ cả mùi phấn. Cô không nhớ tên.

– Má quên rồi. – Cô nói.

– Má quên tên cô giáo má hả? Má hư.

Thằng Lúa cười khúc khích, rồi ghi lên thiệp: "Con tặng cô Út." Sa ngồi đó, tay vô thức sờ lên mũi. Sáng nay máu cam ra nhiều hơn lần trước, thấm ướt nửa cái gối. Ông Lạp nói những ký ức cũ nhất, ít khi được nhắc lại nhất, sẽ mòn trước. Cô đã ba mươi năm không nghĩ tới người cô giáo ấy. Vậy mà cái lỗ trống trong đầu vẫn làm cô sợ hơn mọi thứ, vì cô không biết lỗ trống tiếp theo sẽ ở đâu.

Tám giờ ba mươi, ông Lạp bước vô hầm B, thấy cô đứng giữa cái Nong.

– Cô đứng trong lòng nong của tôi làm gì thế?

– Ông Lạp. – Cô nói liền, không để ông kịp đặt cặp lồng xuống. – Bà Nhài dặn ông: "Ổi chín thì hái, đừng để dành cho chim." Và sáng nào ông cũng ra cây ổi sau trạm, đứng năm phút, kể giá cá cho nó nghe. Sáng thứ Ba lần trước, cá kèo tám mươi nghìn một ký, lên giá vì bão.

Ông Lạp đứng sững ở cửa hầm. Cái ô gãy nan rơi khỏi tay ông.

Ông không hỏi gì trong gần một phút. Rồi ông bước tới, ngồi xuống cái ghế xếp, tháo kính, lau, đeo lại, nhìn cô như nhìn một bóng ma.

– Tôi chưa nói câu đó với ai. – Ông nói. – Kể cả con gái tôi.

– Ông nói với con, ở lần trước. Ông dặn lần sau con cứ nói lại, ông sẽ biết là chính ông nói.

– Chính tôi nói. – Ông lặp lại, rồi bật cười, tiếng cười khô khốc. – Thế mà tôi tưởng tôi là người khó tin nhất trên đời.

Mười phút sau, cô kể xong vòng trước. Ông Lạp không cần đợi tới mười một giờ để kiểm. Ông lấy cuốn sổ nâu, ghi một dòng: "Thứ Ba, 3/11. Cô Sa. Lần thứ ba." Rồi ông nhìn cô.

– Lần trước cô đưa con đi, ông Đước ở lại. Lần này cô định làm gì?

– Con sẽ đánh còi.

Ở Trạm Ba, trên bàn điều khiển của vận hành viên, có một cái nút che bằng nắp nhựa đỏ, khoá bằng một chốt riêng. Còi báo động cấp ba, cấp cao nhất, nghĩa là sơ tán khẩn cấp toàn vùng. Theo quy trình, chỉ Nhà Điều hành Đê mới được bật. Nhưng quy trình cũng ghi, nếu đường truyền với Nhà Điều hành bị mất mà vận hành viên thấy nguy hiểm trước mắt, thì vận hành viên được quyền bấm. Sáu năm làm ca đêm, Sa chưa thấy ai bấm nút đó.

– Nếu con bấm sớm quá, Nhà Điều hành sẽ tắt còi, phát loa nói báo nhầm, rồi đình chỉ con. – Cô nói. – Dân sẽ quay về nhà. Còn nếu con bấm lúc bão đã gần, trời đã tối, gió đã mạnh, thì người ta sợ, người ta sẽ chạy.

– Thế thì bấm lúc nào?

– Sáu giờ rưỡi tối thứ Năm. Lúc đó còn hơn ba tiếng. Ba tiếng đủ để ba trăm cái bè chạy lên Kênh Xáng.

Ông Lạp im lặng một lúc lâu.

– Cô đã bao giờ thấy ba trăm cái thuyền chạy cùng lúc trong đêm bão chưa?

– Chưa.

– Tôi cũng chưa. – Ông nói. – Nhưng tôi có cảm giác là cô sắp được thấy.

Thứ Ba chiều, cô lại đưa thằng Lúa lên nhà Hường. Lại nói chuyện với ba, lại nghe câu "cái bè này má mầy đóng từng tấm ván". Thứ Tư, ba giờ hai mươi, cây bần lại ngã. Thứ Năm, cô đi từng bè trong xóm, nói nhỏ với mấy nhà quen: chút nữa nghe còi thì chạy liền, đừng chờ, đừng gom đồ. Có người cười, có người gật. Chị Bé Hai, hàng xóm sát bè, mẹ của thằng Khoai, đang phơi mớ cá khô cuối cùng trước bão, nhìn cô bằng con mắt lo lắng.

– Có chuyện gì hả em Sa?

– Dạ, em đoán vậy thôi chị. Em làm ở đê, em thấy không yên.

– Ừ. Chị nghe còi là chị bồng thằng Khoai chạy liền.

Thằng Khoai chín tuổi, ngồi trên mép bè câu cá bống bằng cái cần trúc, quay lại nhe răng cười với cô. Nó là bạn thân nhất của thằng Lúa. Hai đứa hay chơi trò làm con rái cá lặn xuống đầm, ông Đước la hoài.

Sáu giờ tối thứ Năm, cô vô ca. Sáu giờ hai mươi tám, cô nói với thằng Quới:

– Quới, lát nữa chị làm một chuyện, em đừng cản chị. Có ai hỏi thì em nói em không biết.

– Chuyện gì vậy chị?

Cô không trả lời. Sáu giờ ba mươi, cô bật chốt, lật nắp nhựa đỏ, bấm.

Tiếng còi cấp ba của Trạm Ba không giống bất cứ tiếng gì cô từng nghe. Nó không rú lên rồi tắt, mà gầm liên tục, ba hồi dài một hồi ngắn, vang qua mặt đê, qua đầm Bần Sẻ, qua hai bờ Kênh Xáng. Các loa trên cột đèn của khu nổi đồng loạt đọc bằng giọng RÁI: "Báo động cấp ba. Đề nghị bà con khu nổi Bần Sẻ sơ tán ngay theo Kênh Xáng về Vĩnh Thượng." Ngoài cửa kính phòng điều khiển, trên mặt đầm tối mịt, từng ngọn đèn bật sáng, rồi từng ngọn đèn bắt đầu di chuyển.

Thằng Quới đứng bật dậy, mặt trắng bệch.

– Trời đất ơi chị Sa. Chị làm cái gì vậy?

Điện thoại trên bàn reo. Nhà Điều hành Đê. Cô không nghe. Nó reo lại. Rồi tới cái điện thoại đeo tay của cô. Rồi tới điện thoại của thằng Quới.

Bảy giờ kém mười lăm, giọng RÁI trên loa đổi khác: "Thông báo của Nhà Điều hành Đê Vàm Lở. Còi báo động tại Trạm Ba là báo động nhầm do lỗi vận hành. Hiện chưa có nguy cơ đối với khu nổi Bần Sẻ. Đề nghị bà con bình tĩnh, không di chuyển trong điều kiện thời tiết xấu."

Sa đứng nhìn ra mặt đầm. Một nửa số đèn đang chạy lên Kênh Xáng. Nửa kia khựng lại. Rồi có mấy ngọn quay đầu.

Bảy giờ mười, đội trưởng Thạch Sô Kha bước vô phòng điều khiển, áo mưa ướt sũng, theo sau là một đội viên trẻ. Anh nhìn cô, rồi nhìn cái nút đỏ đã bật nắp.

– Chị Sa. – Giọng anh vẫn chậm rãi như hôm thứ Ba ở trụ sở, lần trước. – Nhà Điều hành báo chị bật còi không có lệnh. Tôi phải mời chị xuống phòng tầng hai làm việc. Chị không được ở bàn điều khiển nữa.

– Anh Kha, anh nghe tui nói…

– Dạ, tôi nghe. Nhưng chị xuống tầng hai rồi nói.

Cô không cãi. Cô biết mình không cãi được. Phòng tầng hai là cái phòng họp nhỏ có cái bàn dài và cái cửa sổ nhìn ra Kênh Xáng. Anh Kha ngồi đối diện cô, mở máy ghi biên bản. Người đội viên trẻ đứng ở cửa.

Bảy giờ bốn mươi, cái máy liên lạc trên vai anh Kha rè lên. Một giọng đàn ông hốt hoảng, lẫn tiếng gió:

– Đội trưởng, Kênh Xáng đoạn cầu cây Sung, ghe cát đụng xuồng! Ghe cát chạy không đèn, đụng ngay mấy chiếc xuồng sơ tán! Có người rớt xuống nước!

Anh Kha đứng bật dậy. Sa cũng đứng dậy. Hai người nhìn nhau qua cái bàn dài.

Từ cửa sổ tầng hai, cô thấy được một khúc Kênh Xáng, xa xa, những ngọn đèn pin chớp loạn xạ trên mặt nước đen. Không nghe được tiếng gì ngoài tiếng gió. Anh Kha nói gì đó vô máy liên lạc, rồi quay sang người đội viên: "Em ở đây với chị Sa, không cho chị đi đâu." Rồi anh chạy ra ngoài.

Sa ngồi xuống lại cái ghế. Người đội viên trẻ đứng ở cửa, tay đặt lên cái chốt, nhìn cô vừa sợ vừa giận.

Tám giờ rưỡi, máy liên lạc của người đội viên đọc danh sách. Cô nghe được từng chữ qua cái loa nhỏ. Chín người. Một chiếc xuồng gỗ chở hai gia đình bị ghe cát đè lên, lật úp. Tên thứ năm là Nguyễn Thị Bé Hai, ba mươi mốt tuổi, khu nổi Bần Sẻ. Tên thứ sáu là Nguyễn Văn Khoai, chín tuổi.

Cô cúi xuống, hai tay ôm đầu. Thằng Khoai nhe răng cười với cô trên mép bè, cái cần trúc câu cá bống. Chị Bé Hai nói: "Chị nghe còi là chị bồng thằng Khoai chạy liền." Chị đã chạy liền.

Chín giờ, cô gọi được cho ba. Ông Đước nói giọng mệt mỏi:

– Thằng Khoai chết rồi, mầy biết chưa? Mầy làm cái gì vậy Sa?

– Ba ở đâu?

– Ở bè. Cái loa nói báo nhầm. Ba không đi. Nửa xóm quay về rồi. Bây giờ ai dám chạy trên kênh nữa? Mầy bấm còi thì mầy chịu tội đi.

Ông cúp máy.

Chín giờ ba mươi. Cô đứng dậy, đi tới cửa. Người đội viên trẻ bước ra chặn.

– Chị ngồi xuống.

– Em ơi, chị phải xuống hầm. Chín giờ bốn mươi bảy chị phải ở dưới hầm.

– Đội trưởng dặn không cho chị đi đâu.

– Em gọi anh Kha cho chị.

Cậu ta nhìn cô một hồi, rồi bấm máy. Tám phút sau, chín giờ ba mươi tám, anh Kha chạy vô, người ướt từ đầu tới chân, tay áo rách một mảng, mặt xám ngoét. Anh vừa ở dưới kênh lên. Đúng lúc đó, cả Trạm Ba rung lên một cái dài, như có con cá khổng lồ quẫy dưới chân đê. Gió đã lên tới đỉnh.

– Anh Kha. – Sa nói, giọng cô bình tĩnh tới mức chính cô cũng ngạc nhiên. – Bảy phút nữa, tấm màng số bốn mươi bảy sẽ hạ, nước sẽ tràn vô đầm Bần Sẻ. Tui không cứu được ai trong đầm nữa. Nhưng anh phải cho tui xuống hầm B. Tui xin anh. Anh muốn còng tay tui thì còng, nhưng cho tui xuống đó.

Anh Kha nhìn cô. Trong mắt anh có cái gì đó mà cô không hiểu được, như một người vừa vớt tám cái xác từ dưới kênh lên và không còn sức để ngạc nhiên với bất cứ điều gì nữa.

– Đi. – Anh nói. – Tôi đi với chị.

Họ chạy xuống cầu thang sắt. Tới cửa hầm, cô quay lại.

– Anh đứng đây. Đừng vô. Anh lên lại trên kia đi, lên càng cao càng tốt.

– Chị…

– Lên đi anh Kha. Tui xin anh.

Anh đứng đó hai giây, rồi quay lưng chạy lên. Cô bước vô hầm, đi thẳng vô giữa lòng nong, nắm lấy thanh sắt lạnh buốt trên cái giá. Đèn xanh của cái tủ xám chớp một, hai, một, hai.

Chín giờ bốn mươi sáu. Tiếng piston rút về, đều, chậm, chắc chắn.

Lần này cô không nghĩ tới ba. Cô nghĩ tới mặt đầm lúc sáu giờ rưỡi, những ngọn đèn bật sáng, những ngọn đèn bắt đầu di chuyển, rồi khựng lại, rồi quay đầu. Cô nghĩ, lần sau cô phải làm khi trời còn sáng. Lần sau, người ta phải đi trước khi kịp sợ.

Cánh cửa hành lang bơm cũ bật tung.

— Hết chương 4 —

Mục lục Nước phải có chỗ đi

  1. 1Bánh bò màu xanh10 phút
  2. 2Ông già Bạch Thành dưới hầm12 phút đọc
  3. 3Hai mươi mốt giờ bốn mươi sáu10 phút đọc
  4. 4Còi báo động cấp ba11 phút đọc
  5. 5Tấm bốn mươi bảy10 phút đọc
  6. 6Bàu Sậy9 phút đọc
  7. 7Trường Gò Me10 phút đọc
  8. 8Đoạn Cổ Cò10 phút đọc
  9. 9Phê duyệt năm 206611 phút đọc
  10. 10Ba của thằng Lúa10 phút đọc
  11. 11Gặt chạy bão10 phút đọc
  12. 12Bản tin sai một câu10 phút đọc
  13. 13Hai mươi giờ năm mươi lăm9 phút đọc
  14. 14Hai người nhớ10 phút đọc
  15. 15Ổi chín thì hái9 phút đọc
  16. 16Người lạ quen9 phút đọc
  17. 17Đèn xanh trong lòng nong10 phút đọc
  18. 18Lần thứ mười hai10 phút đọc
  19. 19Con rái biết nói12 phút đọc
  20. 20Cái ly rớt trên sàn bè10 phút đọc
  21. 21Bê tông giả ở miệng cống11 phút đọc
  22. 22Mười một phân10 phút đọc
  23. 23Bầy vịt ông Năm Thọ11 phút đọc
  24. 24Cái tên định đặt cho con11 phút đọc
  25. 25Chín giây10 phút đọc
  26. 26Cây ổi sau trạm10 phút đọc
  27. 27Mục số một nghìn một trăm bốn mươi tám10 phút đọc
  28. 28Một nghìn một trăm bốn mươi bảy lần10 phút đọc
  29. 29Con máy sợ chết11 phút đọc
  30. 30Xả êm12 phút đọc
  31. 31Lệnh vận hành khẩn cấp10 phút đọc
  32. 32Khúc gỗ dưới cửa cống10 phút đọc
  33. 33Bốn ly10 phút đọc
  34. 34Trăng mười bốn9 phút đọc
  35. 35Sáu giờ sáng thứ Sáu9 phút đọc
  36. 36Nước vô có ngõ10 phút đọc

Về truyện này

Nước phải có chỗ đi là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →