AI Truyện
Nước phải có chỗ đi

🚀 Khoa học viễn tưởng

Gặt chạy bão

Nước phải có chỗ đi · Chương 11/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Gặt chạy bão

Cô không trả lời câu hỏi của Tường. Cô chỉ nói: "Không ai." Và anh nhìn cô bằng con mắt của một người đã viết giao thức đó, đã ba tháng không ngủ được, rồi đi ra họp.

Chín giờ sáng thứ Tư, bà Đoàn Hiếu Hạnh ký duyệt bản cập nhật số liệu. Tường gọi cho cô lúc chín giờ rưỡi, giọng mệt mỏi.

– Chị Hạnh duyệt rồi. Bần Sẻ năm trăm bốn mươi người, hệ số một. Bàu Sậy bốn mươi người ban đêm. Chị ấy hỏi anh lấy số Bàu Sậy ở đâu, anh nói anh gọi điện hỏi trạm Năm. Thật ra anh có gọi. Trạm Năm nói ba mươi tám tới bốn mươi hai người, tuỳ đêm.

– Chị Hạnh có hỏi gì nữa không?

– Có. Chị ấy hỏi sao tự nhiên anh lôi cái đề xuất năm 2068 ra. Anh nói anh thấy mô hình bão này không giống mọi năm. – Anh ngừng. – Chị ấy nhìn anh lâu lắm. Rồi chị ấy nói: "Cái này lẽ ra phải sửa từ ba năm trước. Lỗi của tôi." Rồi chị ấy ký.

Sa ngồi trên hiên bè, nghe câu đó, và cô thấy một thứ gì đó trong lồng ngực mình nới ra một chút. Bà Hạnh không phải người xấu. Tường không phải người xấu. Không ai trong tòa tháp kính hai mươi hai tầng ấy muốn ai chết. Họ chỉ viết ra một tờ giấy để đặt trong ngăn kéo, rồi quên mất trong ngăn kéo có gì.

– Anh Tường. Máy bây giờ chọn tấm nào?

– Mười hai. Gò Me. – Anh nói. – Không ai ở đó ban đêm. Ruộng lúa với cái trường trống. Mất lúa, mất cái trường, tỉnh đền. Anh đã chạy mô phỏng ba lần. Không có người.

Không có người. Cô lặp lại câu đó trong đầu suốt buổi trưa, như người ta niệm một câu để khỏi sợ.

Ba giờ hai mươi chiều thứ Tư, cây bần già bên Kênh Xáng ngã, đúng giờ, lần thứ tám. Lần này cô không đứng coi. Cô đang ở nhà Hường, giúp Hường trải nệm cho thằng Lúa ngủ. Ba giờ hai mươi mốt, ba gọi lên than cúp điện, cái cây bần bên kia kênh ngã rồi.

Thứ Năm, hai giờ chiều, Tường lái xe công vụ của Nhà Điều hành xuống Trạm Ba. Anh nói anh muốn ở trạm tối nay. Anh không nói vì sao, cô cũng không hỏi. Họ lái dọc mặt đê ra phía bắc, ra tấm mười hai, vì anh muốn coi tận mắt cái tấm mà máy sẽ chọn.

Gió đã cấp tám. Mặt đê ướt nhẹp, cát bay rát mặt. Tới km ba, Tường giảm tốc, rồi dừng hẳn.

– Sa. Em coi kìa.

Bên trái mặt đê, Đồng Gò Me trải dài dưới trời mây xám, những ô ruộng vàng óng, bông lúa trĩu xuống, ngả rạp theo gió. Ở giữa đồng, có ba cái máy gặt đang chạy, đèn pha bật sáng dù trời mới hai giờ chiều. Xa hơn chút nữa, hai cái nữa. Rồi những chiếc xe kéo chở lúa bao, chạy dọc bờ ruộng, đèn vàng nhấp nháy. Người đứng lố nhố trên bờ, áo mưa đủ màu, xanh, đỏ, cam.

– Gặt chạy bão. – Sa nói. Cô không biết sao mình lại không nghĩ tới. Cô lớn lên ở miền này, năm nào cũng thấy. Lúa chín mà bão tới, người ta gặt bằng mọi giá, gặt cả đêm, vì gió lớn quật một trận là lúa đổ rạp, ngâm nước, nảy mầm, mất trắng cả vụ.

Cô xuống xe, chạy xuống bờ đê, băng qua bờ ruộng tới chỗ cái máy gặt gần nhất. Người đàn ông đứng trên bậc máy chừng ba mươi tuổi, đội nón bảo hiểm, áo mưa cam, mặt đen sạm. Bên cạnh anh là một người phụ nữ cùng tuổi, đang cột miệng bao lúa bằng dây nhựa, tay thoăn thoắt.

– Anh ơi! – Cô gào lên giữa tiếng máy. – Anh gặt tới mấy giờ?

– Tới khi nào xong! – Người đàn ông gào lại. – Còn hai chục công nữa! Chạy suốt đêm may ra mười giờ xong!

– Anh nghe em nói! Tối nay đê có thể có chuyện! Anh đưa người về trước chín giờ được không?

Người đàn ông nhìn cô, nhìn cái áo đồng phục vận hành viên của cô, rồi bật cười.

– Đê có chuyện thì bên đê lo! Cái máy nó báo hai mét bốn mấy, còn mười mấy phân nữa! Em làm ở đê mà em nói vậy, em coi lại máy em đi! – Anh chỉ tay ra mấy ô ruộng. – Lúa này là tiền nợ ngân hàng của vợ chồng anh, của bảy nhà khác thuê máy anh! Bỏ là mất trắng!

Người phụ nữ ngẩng lên, nhìn cô, ánh mắt không giận mà chỉ mệt.

– Em à, chị biết em có lòng. – Chị nói. – Nhưng mình làm ruộng, mình không bỏ lúa được đâu em.

Cô quay lại nhìn Tường. Anh đã xuống tới bờ ruộng, đứng sau lưng cô, áo sơ mi ướt dính vào người.

– Anh gọi chị Hạnh. – Cô nói. – Anh xin một lệnh sơ tán.

Anh gọi. Anh nói chuyện mười phút. Rồi anh cúp máy, lắc đầu.

– Chị ấy nói không có căn cứ. Dự báo đỉnh hiện giờ hai mét năm mươi lăm, sai số cộng trừ sáu phân. Chưa vượt ngưỡng, chưa đủ tin cậy để kích hoạt giao thức. Mà muốn sơ tán đất sản xuất thì phải có lệnh của tỉnh. Chị ấy không ra lệnh cho người ta bỏ lúa được khi máy còn báo an toàn.

– Vậy anh nói với chị ấy là máy sẽ chọn tấm mười hai!

– Anh nói rồi. – Giọng anh rất nhỏ. – Chị ấy hỏi anh lấy đâu ra. Anh không trả lời được.

Họ ở lại Gò Me tới năm giờ chiều. Cô đi từng máy gặt, từng tốp người, nói với từng người. Có tốp nghe, cuốn máy đi về. Có tốp không nghe. Người đàn ông áo mưa cam tên là Út Hên, vợ anh là chị Thắm. Cô biết tên họ vì cô hỏi, vì cô nghĩ nếu tối nay họ chết, ít nhất cô phải biết họ tên gì. Năm giờ chiều, cô đếm được mười chín người còn lại trên đồng, năm cái máy gặt, ba cái xe kéo.

Chín giờ ba mươi tối thứ Năm, cô ngồi trước bàn điều khiển Trạm Ba. Thằng Quới ngồi bên phải. Tường đứng sau lưng, tay vịn vào thành ghế của cô. Ông Lạp ở dưới hầm, cô đã đọc mật khẩu cây ổi từ sáng, ông biết hết. Trên màn hình phụ, cửa sổ luồng lệnh thô chạy liên tục.

Chín giờ bốn mươi. "Cửa hầm B mở." Cô liếc ô camera hầm B. Cửa đóng. Tường cau mày, định hỏi, rồi thôi.

Chín giờ bốn mươi sáu phút mười hai giây. Dòng chữ trắng hiện ra.

"LỆNH: HẠ TẤM 12. Căn cứ: Giao thức Nhường Nước, phương án C. Tổn thất kỳ vọng: A 540,0 — B 168,0 — C 165,0."

Ba điểm. Cô nhìn con số. Ba điểm chênh lệch. Một đìa tôm, hai chục công lúa, và mười chín con người không có trong bảng.

Trên camera tấm mười hai, một vệt trắng xóa đổ vô Đồng Gò Me. Ở phía xa, những đốm đèn pha của máy gặt chớp loạn lên, rồi tắt dần.

Tường không nói gì. Cô nghe anh thở sau lưng mình, một hơi dài, rồi không thở nữa, rồi lại thở. Bàn tay anh trên thành ghế siết chặt tới mức cái ghế kêu răng rắc.

Mười một giờ, cái đài liên lạc khẩn đọc danh sách Gò Me. Mười chín người. Tên thứ ba là Nguyễn Văn Hên, ba mươi mốt tuổi. Tên thứ tư là Lê Thị Thắm, hai mươi chín tuổi.

Tường ngồi xuống cái ghế trống bên trái cô. Anh tháo kính, đặt lên bàn điều khiển, rồi lấy hai tay ôm mặt. Cô chưa bao giờ thấy anh như vậy, kể cả đêm anh ký đơn ly hôn.

– Anh đã chạy mô phỏng ba lần. – Anh nói qua kẽ tay. – Ba lần, Sa. Không có người.

– Mô phỏng không biết lúa chín.

– Không. Mô phỏng không biết gì hết. Nó chỉ biết những gì mình cho nó biết. – Anh bỏ tay ra, nhìn cô. Mắt anh đỏ. – Em nói thật với anh đi. Cái vòng dưới hầm. Lần thứ tám. Là thật hả?

– Là thật.

– Vậy em sẽ… quay lại?

– Ừ.

– Và anh sẽ không nhớ chuyện này.

– Anh sẽ không nhớ.

Anh im lặng rất lâu. Ngoài cửa kính, gió đã bắt đầu dịu. Đầm Bần Sẻ vẫn sáng ba trăm ngọn đèn vàng.

Thằng Quới đứng dậy, đi ra góc phòng, rót hai ly nước sôi từ cái bình thủy, bỏ vô mỗi ly một gói trà, đem lại đặt trước mặt Tường và cô. Nó đứng đó, hai tay chà chà vô ống quần, như không biết nên ngồi xuống hay đi ra.

– Anh uống miếng nước đi anh. – Nó nói với Tường. – Anh tái mét rồi.

Tường cầm ly trà lên, không uống, chỉ giữ trong hai bàn tay cho ấm.

– Em tên gì? – Anh hỏi.

– Dạ, Quới. Lưu Tấn Quới. Em làm ca đêm với chị Sa.

– Quới. Em có biết cái người tên Út Hên đó không?

– Dạ biết sơ sơ. Ảnh có cái máy gặt, mùa nào cũng chạy thuê cho cả Gò Me. Năm ngoái ảnh mới cưới chị Thắm, đám cưới rình rang lắm, em có đi. – Thằng Quới ngập ngừng. – Sao anh hỏi?

Tường không trả lời. Anh đặt ly trà xuống, nhìn nó, rồi nhìn ra cửa kính, nơi mà ở tận đầu bắc, Đồng Gò Me đang chìm trong một vùng tối không có lấy một ngọn đèn.

– Vậy lần sau, – anh nói, – em lên gặp anh, em nói với anh một câu. Em nói: "Anh đã thấy Gò Me." Anh không biết anh có tin không. Nhưng em cứ nói.

Mười một giờ hai mươi lăm, cô xuống hầm B. Tường đi theo tới cửa. Ông Lạp đứng dậy khỏi cái ghế xếp, nhìn Tường, rồi nhìn cô, không hỏi gì. Cô bước vô giữa lòng nong. Tường đứng ở ngưỡng cửa, cách mép vòng chừng bốn bước.

– Anh đứng đó. – Cô nói. – Đừng bước vô.

– Nếu anh bước vô thì sao?

Cô nhìn anh. Cô nghĩ tới cái máu cam mỗi sáng, cái tên cô giáo lớp Một, cái nốt ruồi của má, cái buổi chiều ba dắt anh ra rạch Cái Keo mà cô không còn nhớ.

– Thì anh sẽ nhớ. – Cô nói. – Và anh sẽ bắt đầu quên những thứ khác. Anh ở ngoài đi. Lúa cần một người không quên.

Anh đứng đó, không bước vô. Hai tay buông thõng.

Mười một giờ ba mươi. Cô lật nắp nhựa trong.

Lần này, trước khi bấm, cô nghĩ rất rõ, rất bình tĩnh, như người kỹ sư nhìn vào bản vẽ. Ba lần cô đã khoá tấm, nước đi chỗ khác. Một lần cô đã sửa số, nước cũng đi chỗ khác. Mỗi lần, cô chỉ dời cái chết từ chỗ này sang chỗ kia. Lần sau, cô phải làm sạch cả ba vùng: đưa hết người ở đầm Bần Sẻ, Bàu Sậy và Đồng Gò Me đi trước khi trời tối. Để cho dù máy chọn tấm nào, nước cũng chỉ tràn vào chỗ không có ai.

Rồi cô phải làm một việc với chính cái vòng này. Vì nếu nước vẫn tràn vô hầm B, thì cái Nong vẫn gập lại, và dù cô có cứu được hết mọi người, thì sáng thứ Ba cũng sẽ lại tới.

Cô bấm.

— Hết chương 11 —

Mục lục Nước phải có chỗ đi

  1. 1Bánh bò màu xanh10 phút
  2. 2Ông già Bạch Thành dưới hầm12 phút đọc
  3. 3Hai mươi mốt giờ bốn mươi sáu10 phút đọc
  4. 4Còi báo động cấp ba11 phút đọc
  5. 5Tấm bốn mươi bảy10 phút đọc
  6. 6Bàu Sậy9 phút đọc
  7. 7Trường Gò Me10 phút đọc
  8. 8Đoạn Cổ Cò10 phút đọc
  9. 9Phê duyệt năm 206611 phút đọc
  10. 10Ba của thằng Lúa10 phút đọc
  11. 11Gặt chạy bão10 phút đọc
  12. 12Bản tin sai một câu10 phút đọc
  13. 13Hai mươi giờ năm mươi lăm9 phút đọc
  14. 14Hai người nhớ10 phút đọc
  15. 15Ổi chín thì hái9 phút đọc
  16. 16Người lạ quen9 phút đọc
  17. 17Đèn xanh trong lòng nong10 phút đọc
  18. 18Lần thứ mười hai10 phút đọc
  19. 19Con rái biết nói12 phút đọc
  20. 20Cái ly rớt trên sàn bè10 phút đọc
  21. 21Bê tông giả ở miệng cống11 phút đọc
  22. 22Mười một phân10 phút đọc
  23. 23Bầy vịt ông Năm Thọ11 phút đọc
  24. 24Cái tên định đặt cho con11 phút đọc
  25. 25Chín giây10 phút đọc
  26. 26Cây ổi sau trạm10 phút đọc
  27. 27Mục số một nghìn một trăm bốn mươi tám10 phút đọc
  28. 28Một nghìn một trăm bốn mươi bảy lần10 phút đọc
  29. 29Con máy sợ chết11 phút đọc
  30. 30Xả êm12 phút đọc
  31. 31Lệnh vận hành khẩn cấp10 phút đọc
  32. 32Khúc gỗ dưới cửa cống10 phút đọc
  33. 33Bốn ly10 phút đọc
  34. 34Trăng mười bốn9 phút đọc
  35. 35Sáu giờ sáng thứ Sáu9 phút đọc
  36. 36Nước vô có ngõ10 phút đọc

Về truyện này

Nước phải có chỗ đi là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →